Phát triển Nhiên liệu hàng không bền vững (SAF) - Kinh nghiệm từ Malaysia, cơ hội cho Việt Nam
19:06 | 20/08/2026
Ngành hàng không dân dụng Việt Nam sẽ gặp những khó khăn, thách thức nào khi chuyển đổi sang năng lượng hàng không bền vững (SAF)? Và chính sách nào để chúng ta đầu tư phát triển hạ tầng sản xuất, lưu trữ, cung cấp nhiên liệu SAF cho các hãng hàng không quốc tế trong tương lai tới?... Tạp chí Năng lượng Việt Nam giới thiệu tổng hợp, cùng một vài đánh giá của Tham tán Thương mại Việt Nam tại Canada về vấn đề này. |
Bối cảnh ngành hàng không hiện nay:
Trong tiến trình tái cấu trúc vận hành nhằm giảm dấu chân carbon, trong khi các giải pháp như động cơ điện hay năng lượng hydrogen vẫn cần thêm một thời gian dài để thử nghiệm cho áp dụng rộng rãi trên các chuyến bay thương mại đường dài, Nhiên liệu hàng không bền vững (SAF) sẽ là một giải pháp khả thi ở thời điểm hiện tại. Với khả năng cắt giảm đến 80% lượng khí thải carbon trong suốt vòng đời so với nhiên liệu hóa thạch truyền thống mà không đòi hỏi thay đổi thiết kế kỹ thuật động cơ hiện có, SAF không chỉ là bước đệm công nghệ, mà đã trở thành trụ cột chiến lược trong mục tiêu giảm phát thải toàn cầu của ngành.
![]() |
| Phát thải CO2 của ngành hàng không năm 2015-2024 (đơn vị: Gt CO2) - Nguồn: IEA. |
Kinh nghiệm từ Malaysia trong phát triển và thương mại hóa SAF:
Tại khu vực Đông Nam Á, Malaysia đang nhanh chóng vươn lên thành một trong những quốc gia đi đầu về SAF. Hành trình của quốc gia này mang lại nhiều bài học cho các nước trong khu vực, đặc biệt là Việt Nam.
Lộ trình chuyển đổi SAF của Malaysia được xây dựng dựa trên một khung pháp lý bài bản. Ngay từ sớm, Chính sách Nhiên liệu sinh học Quốc gia năm 2006 và Đạo luật Công nghiệp Nhiên liệu sinh học năm 2007 đã định hình việc sử dụng sản phẩm dầu cọ hạ nguồn nhằm nâng cao thu nhập cho nông hộ nhỏ, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và hướng tới mục tiêu giảm 45% cường độ phát thải khí nhà kính so với GDP vào năm 2030.
Vào tháng 9/2024, Bộ Giao thông Vận tải Malaysia (MOT) công bố Kế hoạch Tổng thể Giảm carbon Hàng không Malaysia (Malaysia Aviation Decarbonization Blueprint - MADB). Đây là kim chỉ nam hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 cho hàng không quốc tế vào năm 2050, trong đó SAF đóng góp tới 46,2% tổng lượng cắt giảm carbon tích lũy của ngành.
Về lộ trình quản lý, Malaysia tình nguyện tham gia giai đoạn 1 (2024-2026) của Chương trình Bù đắp và Giảm thải Carbon cho Hàng không Quốc tế (CORSIA), nâng cấp hệ thống đăng ký carbon quốc gia và xây dựng cơ chế thuế carbon hàng không. Bên cạnh đó, Bộ Trồng trọt và Hàng hóa Malaysia (KPK) cùng MOT đề xuất quy định bắt buộc phối trộn 1% SAF cho tất cả các chuyến bay quốc tế cất cánh từ Sân bay Quốc tế Kuala Lumpur (KLIA) từ tháng 1/2027, hướng tới mục tiêu 46% SAF trên toàn quốc vào năm 2050.
Cùng đó, chiến lược SAF quốc gia do Bộ Đầu tư, Thương mại và Công nghiệp Malaysia (MITI) cùng KPK xây dựng dự kiến hoàn tất vào cuối năm 2026 và trình Chính phủ phê duyệt vào đầu năm 2027.
Mặc dù là quốc gia sản xuất dầu cọ thô lớn thứ hai thế giới, đứng sau Indonesia (đạt 20,28 triệu tấn năm 2025 trên diện tích 5,70 triệu ha), chiến lược SAF của Malaysia không sử dụng cây lương thực chính nhằm tránh xung đột an ninh lương thực và tuân thủ các quy định khắt khe của quốc tế như Chỉ thị Năng lượng Tái tạo (Renewable Energy Directive - RED) của EU. Thay vào đó, quốc gia này tập trung vào mô hình “Biến chất thải thành nhiên liệu” (Waste-to-Fuel), sử dụng chất thải và phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất nhiên liệu.
Dầu ăn đã qua sử dụng (UCO) là nguyên liệu phổ biến nhất cho công nghệ hydro hóa ê-te và axit béo (HEFA). Tiềm năng UCO của Malaysia ước đạt 158.000 tấn/năm, hiện thu gom đạt 48.000-71.000 tấn/năm (hiệu suất 30%-45%), tập trung chủ yếu tại Hành lang Phía Nam Johor nhờ chuỗi dịch vụ ăn uống phát triển, cảng nước sâu và sự kết nối với hệ thống lọc dầu tại Singapore.
Bên cạnh UCO, Malaysia tập trung khai thác phế phụ phẩm công nghiệp cọ bao gồm nước thải nhà máy dầu cọ và và phế phụ phẩm sinh khối. Các lộ trình khác như nghiên cứu chuyển đổi sinh khối nông lâm nghiệp, chất thải rắn đô thị và vi tảo qua các công nghệ nhiệt hóa và sinh hóa cũng đang được tích cực triển khai.
Dự án sản xuất SAF và thương mại hóa tiêu biểu của Malaysia:
Năng lực sản xuất SAF hạ nguồn của Malaysia đã chuyển dịch mạnh mẽ từ các mô hình thí điểm sang quy mô sản xuất thương mại công nghiệp với các cụm công nghiệp tập trung tại Johor và Selangor:
Dự án EcoCeres Renewable Fuel Plant tại Pasir Gudang, Johor đạt công suất 420.000 tấn/năm, sử dụng công nghệ HEFA từ 100% UCO và dầu cọ cặn. Dự án vận hành thương mại từ tháng 10/2025 và đã xuất khẩu hàng chục nghìn tấn sang châu Âu. Trong tháng 3/2026, nhà máy đã sản xuất được 36.500 tấn và xuất khẩu 20.586 tấn.
![]() |
| Nhà máy Nhiên liệu Tái tạo EcoCeres. Nguồn: ecoceres.com. |
Dự án Nhà máy Lọc dầu Sinh học Pengerang, liên doanh giữa Tập đoàn Dầu khí Malaysia (Petronas), Công ty Enilive và Công ty Euglena tại Khu công nghiệp Pengerang, Johor, có công suất 650.000 tấn/năm, chuyên xử lý UCO, vi tảo, mỡ và dầu cọ cặn có độ chua cao. Dự án đã duyệt quyết định đầu tư cuối cùng (Final Investment Decision - FID) vào tháng 7/2024, tích hợp kho bãi 272.000 m³ tại Cảng Pengerang và dự kiến vận hành thương mại nửa sau năm 2028. Trong khuôn khổ dự án, Petronas đã ký thỏa thuận hợp tác phát triển với Euglena - một công ty công nghệ sinh học Nhật Bản, để nghiên cứu với mục tiêu thương mại hóa sản lượng lớn dầu vi tảo trong tương lai, phục vụ cho sản xuất SAF và các loại nhiên liệu sinh học khác.
Dự án FatHopes Energy Refinery tại Port Klang, Selangor có công suất 300.000 tấn/năm sản xuất nhiên liệu sinh học hydro hóa và SAF. Dự án đã hoàn tất nghiên cứu khả thi vào tháng 2/2026, dự kiến duyệt FID vào quý 1/2027 và vận hành giữa năm 2030.
Thành công của Malaysia còn nằm ở mạng lưới thu gom cộng đồng. Chương trình “From Fryer 2 Flyer” do Petronas và KPK triển khai đã khai thác mạng lưới cửa hàng xăng dầu để thu gom UCO. Đến tháng 4/2026, chương trình mở rộng ra 100 cây xăng, thu gom hơn 1,6 triệu kg UCO và chi trả 4,9 triệu RM cho hơn 560.000 người tham gia.
![]() |
| Chương trình Fryer-2-Flyer. Nguồn: Petronas. |
Song song đó, FatHopes Energy phát triển ứng dụng di động FatHopes Loyalty App giúp người dân và nhà hàng đặt lịch thu gom UCO tận nơi, tích điểm đổi tiền mặt. Vào tháng 9/2025, Petronas đã cung cấp thành công lô SAF phối trộn đầu tiên qua đường ống đa sản phẩm đến Sân bay KLIA cho Tập đoàn Hàng không Malaysia (MAG), khẳng định năng lực tự chủ cung ứng trong nước.
![]() |
![]() |
| Ứng dụng thu gom (hình trên) và xe tải thu gom (hình dưới) UCO của FatHopes Energy. Nguồn: Fathopes Energy. |
Vào tháng 9 năm 2025, Petronas đạt bước tiến quan trọng trong lộ trình xanh hóa ngành hàng không khi chính thức bàn giao lô SAF phối trộn nội địa đầu tiên. Lô SAF này được nạp trực tiếp cho các chuyến bay thương mại hàng ngày mang số hiệu MH2 của Malaysia Airlines hành trình từ Sân bay Quốc tế Kuala Lumpur đi London Heathrow.
Quá trình phối trộn SAF được thực hiện ngay tại cơ sở sản xuất trong nước của Petronas. Sau đó, sản phẩm được vận chuyển an toàn đến KLIA thông qua hệ thống đường ống đa sản phẩm của Công ty Lọc dầu Malaysia. Việc ứng dụng hạ tầng tuyến ống sẵn có giúp chứng minh năng lực quản lý chuỗi cung ứng khép kín từ khâu tiếp nhận, pha chế đến phân phối nhiên liệu của tập đoàn.
![]() |
| Lô SAF phối trộn nội địa đầu tiên. Nguồn: Petronas. |
Về mặt tiêu chuẩn, lô nhiên liệu đáp ứng các quy định kỹ thuật nghiêm ngặt của Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO); đồng thời đạt Chứng nhận Bền vững và Carbon Quốc tế (International Sustainability and Carbon Certification - ISCC) và đủ điều kiện ghi nhận theo cơ chế CORSIA. Sự kiện này là bước chạy đà quan trọng giúp Petronas kiểm nghiệm quy trình thương mại hóa SAF, tạo tiền đề để đáp ứng quy định bắt buộc phối trộn 1% SAF cho các chuyến bay quốc tế khởi hành từ Malaysia áp dụng từ năm 2027.
Hướng đi cho Việt Nam:
Thực tiễn triển khai thành công tại Malaysia gợi mở nhiều kinh nghiệm quan trọng cho Việt Nam trong lộ trình giảm phát thải ngành hàng không.
Một thành công lớn trong việc triển khai của Malaysia là hệ thống thu gom nguyên liệu đầu vào có cấu trúc. Các sáng kiến như chiến dịch “From Fryer 2 Flyer” của Petronas tận dụng mạng lưới cây xăng hiện có để thu gom UCO từ các hộ gia đình, trong khi các doanh nghiệp tư nhân như FatHopes Energy sử dụng ứng dụng di động và hệ thống thưởng bằng tiền mặt để thu gom dầu thải từ nhà dân và nhà hàng.
Xây dựng mạng lưới thu gom nguyên liệu phế thải cần phải có động lực kinh tế. Với nguồn dầu ăn đã qua sử dụng và phụ phẩm nông nghiệp rất lớn, Việt Nam có thể nhân rộng mô hình thu gom trên phạm vi toàn quốc này để hoàn thiện hệ thống thu gom UCO và sinh khối. Việc ứng dụng các ứng dụng theo dõi kỹ thuật số, ưu đãi tài chính và hợp tác với các đại lý bán lẻ nhiên liệu có thể đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định cho các nhà máy lọc sinh học trong tương lai.
Để tối ưu hóa nguồn nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp SAF, Việt Nam có thể khởi động chiến dịch quốc gia “Waste-to-Wing” nhằm thu hút sự tham gia tích cực của cộng đồng trong việc phân loại, tái chế UCO và xây dựng nền tảng mạng lưới thu gom chuẩn hóa, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế cho sản xuất nhiên liệu hàng không bền vững.
Việc phát triển và ứng dụng SAF không còn là một lựa chọn mang tính xu hướng, mà đã trở thành yêu cầu để ngành hàng không Việt Nam hội nhập và nâng cao năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên xanh toàn cầu. Những bài học thành công từ Malaysia đã khẳng định rõ ràng việc SAF cần phải phát triển cùng với một hệ sinh thái toàn diện, với khung pháp lý minh bạch, hạ tầng sản xuất đồng bộ và mạng lưới thu gom nguyên liệu hiệu quả.
Với lợi thế sẵn có về nguồn nguyên liệu dồi dào, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng năng lượng bền vững của khu vực. Việc triển khai đồng bộ lộ trình SAF là nền tảng để ngành hàng không Việt Nam từng bước hiện thực hóa cam kết Net Zero vào năm 2050. Sự chuyển dịch này không chỉ giải quyết trực tiếp áp lực về giảm phát thải mà còn là bước chuẩn bị cần thiết để đảm bảo tính cạnh tranh và khả năng tương thích của hàng không Việt Nam với các tiêu chuẩn xanh toàn cầu.
Doanh nghiệp Việt Nam tiên phong trong chiến lược phát triển SAF:
Nhà máy Lọc dầu Dung Quất tại Quảng Ngãi đã xuất bán thành công lô SAF đầu tiên vào tháng 6/2025. Lô SAF này được nạp tại Sân bay Quốc tế Đà Nẵng cho các chuyến bay đi Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh của Vietnam Airlines.
![]() |
| Tra nạp SAF cho chuyến bay của Vietnam Airlines. Nguồn: Skypec. |
Petrolimex cũng đã có bước đi trong công cuộc triển khai sản xuất SAF qua liên doanh nhà máy SAF cùng với Keppel. Năm 2025, PLX ký Biên bản ghi nhớ ý định với Keppel để triển khai nhà máy SAF. Sau 1 năm tìm hiểu công nghệ và nghiên cứu tiền khả thi, dự kiến vào cuối năm 2026, PLX và Keppel sẽ ký thỏa thuận thành lập liên doanh xây dựng nhà máy SAF theo công nghệ HEFA, sử dụng mỡ cá, dầu thải, mỡ động vật làm nguyên liệu, sản lượng dự kiến là 300.000 tấn/năm.
![]() |
| Lễ ký kết Biên bản ghi nhớ ý định giữa Petrolimex và Keppel. Nguồn: Petrolimex. |
Tạm kết luận:
Phát triển SAF không còn là lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành điều kiện tiên quyết để ngành hàng không Việt Nam hội nhập quốc tế. Việc học hỏi mô hình thiết lập chuỗi cung ứng và thu gom của các quốc gia đi trước (như Malaysia) sẽ giúp doanh nghiệp nội địa rút ngắn thời gian thử nghiệm, tối ưu hóa chi phí và chiếm lĩnh thị trường xanh giàu tiềm năng./.
KỲ LÊ, PHƯỢNG NGUYỄN - CÔNG TY GIẢI PHÁP NĂNG LƯỢNG VÀ MÔI TRƯỜNG TOÀN CẦU VIỆT NAM (VNGE)
Nguồn tổng hợp:
[1] Tài liệu hội nghị MyAero Sustainable Aviation APAC tại Putrajaya, Malaysia từ ngày 30/6/2026 - 2/7/2026.







