RSS Feed for Hỗ trợ lắp đặt điện mặt trời mái nhà như thế nào là phù hợp? | Tạp chí Năng lượng Việt Nam Thứ năm 24/09/2026 12:21
TRANG TTĐT CỦA TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Hỗ trợ lắp đặt điện mặt trời mái nhà như thế nào là phù hợp?

 - Phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ đang được đặt ra như một trong những giải pháp quan trọng nhằm giảm phụ tải giờ cao điểm, bổ sung nguồn điện tại chỗ và giảm áp lực đầu tư cho hệ thống điện. Tuy nhiên, sau nhiều năm định hướng phát triển, đến nay chính sách hỗ trợ trực tiếp cho hộ gia đình mới được một số ít địa phương triển khai. Vấn đề đáng bàn không chỉ là có hỗ trợ hay không, mà là mức hỗ trợ và cách hỗ trợ có đủ tạo ra động lực kinh tế để người dân đầu tư hay không.
Chuỗi dự án khí - điện Lô B - Ô Môn và lịch tiến độ tích hợp các dự án thượng nguồn, trung nguồn, hạ nguồn Chuỗi dự án khí - điện Lô B - Ô Môn và lịch tiến độ tích hợp các dự án thượng nguồn, trung nguồn, hạ nguồn

Dòng khí đầu tiên (First Gas) từ Lô B không muộn hơn quý 3/2027 đang trở thành một mốc thời gian có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ Chuỗi khí - điện Lô B - Ô Môn. Nhưng dòng khí về bờ mới chỉ là điều kiện cần, chưa phải điều kiện đủ để tạo ra điện. Từ khai thác khí, thu gom và vận chuyển qua đường ống, đến khả năng tiếp nhận nhiên liệu của các nhà máy điện Ô Môn I, II, III và IV - mỗi mắt xích đều phải hoàn thành đúng thời điểm và “khớp” với các mắt xích còn lại.

Mục tiêu và động lực:

Ngày 16/9/2026, Bộ Công Thương ban hành Công văn số 7404/BCT-ĐL đề nghị các địa phương sớm xây dựng chính sách hỗ trợ hộ gia đình lắp đặt điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ; đồng thời khuyến khích kết hợp với hệ thống lưu trữ điện (BESS). Đây là bước đi phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn điện phân tán và quản lý nhu cầu điện trong giai đoạn tới. Bộ Công Thương cũng đề nghị các địa phương triển khai điện mặt trời mái nhà tại các tòa nhà cơ quan công sở, trường học, bệnh viện và xây dựng chương trình tuyên truyền, hỗ trợ hộ gia đình gắn với hệ thống lưu trữ điện.

Theo số liệu được công bố: Đến hết tháng 7/2026 cả nước có 130.811 hệ thống điện mặt trời mái nhà, với tổng công suất hơn 11.200 MW; trong 7 tháng đầu năm, các hệ thống này phát lên lưới khoảng 6,6 tỷ kWh. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ số lượng hệ thống điện mặt trời mái nhà đã tồn tại với số hệ thống tự sản xuất, tự tiêu thụ theo cơ chế hiện hành. Đây mới là nhóm nguồn mà chính sách hiện nay đang muốn mở rộng.

Quy hoạch điện VIII Điều chỉnh tiếp tục đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 50% hộ gia đình và 50% tòa nhà công sở sử dụng điện mặt trời mái nhà theo mô hình tự sản xuất, tự tiêu thụ, phục vụ nhu cầu tại chỗ. Chỉ thị 10/CT-TTg ngày 30/3/2026 tiếp tục cụ thể hóa yêu cầu này bằng mục tiêu hằng năm có khoảng 10% cơ quan công sở và 10% hộ gia đình lắp đặt, sử dụng điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ; đồng thời khuyến khích kết hợp với pin lưu trữ (BESS) để giảm phụ tải giờ cao điểm.

Như vậy, định hướng chính sách đã khá rõ. Vấn đề hiện nay nằm ở khả năng chuyển mục tiêu thành quyết định đầu tư thực tế của hàng triệu hộ gia đình.

Bắc Ninh và Lai Châu - Hai cách tiếp cận khác nhau:

Đến giữa tháng 9/2026, theo thông tin Bộ Công Thương: Mới có Bắc Ninh và Lai Châu ban hành chính sách hỗ trợ trực tiếp cho hộ gia đình.

Bắc Ninh hỗ trợ 1 triệu đồng/kWp điện mặt trời mái nhà, tối đa 3 triệu đồng/hộ. Nếu lắp thêm hệ thống lưu trữ, mức hỗ trợ thêm là 1 triệu đồng/kWh, tối đa 3 triệu đồng. Tổng cộng một hộ có thể nhận tối đa 6 triệu đồng. Chính sách áp dụng trong giai đoạn 2026-2030.

Cách làm của Lai Châu lại có tính chất khác. Chính sách chủ yếu hướng tới các hộ dân tộc thiểu số, hộ nghèo, cận nghèo và những khu vực chưa thể tiếp cận điện lưới. Mức hỗ trợ hệ thống điện mặt trời tự sản xuất, tự tiêu thụ có thể lên tới 50 triệu đồng/hộ, cùng hỗ trợ thiết bị điện sau công tơ.

Hai trường hợp trên cho thấy một vấn đề quan trọng: Không thể dùng một mức hỗ trợ giống nhau cho mọi đối tượng. Với Lai Châu, mục tiêu chủ yếu là bảo đảm khả năng tiếp cận điện cho những hộ khó khăn, hoặc ở nơi lưới điện chưa thể vươn tới. Vì vậy, hỗ trợ cao có thể được xem là một chính sách an sinh và phát triển hạ tầng. Mức hỗ trợ cho một hộ khá cao, nhưng tổng mức hỗ trợ từ ngân sách tỉnh sẽ không cao vì thu hẹp đối tượng. Trong khi đó, Bắc Ninh (và dự thảo của Hà Nội) đang hướng tới nhóm hộ có khả năng đầu tư và có nhu cầu sử dụng điện tương đối lớn.

Hà Nội hiện đề xuất mức hỗ trợ tương tự Bắc Ninh, tối đa 3 triệu đồng cho điện mặt trời và thêm tối đa 3 triệu đồng nếu lắp BESS. Chính sách này vẫn đang ở giai đoạn dự thảo. Nhưng câu hỏi đặt ra là: 6 triệu đồng có đủ làm thay đổi quyết định đầu tư của một hộ gia đình hay không?

Hộ tiêu thụ ít điện:

Một hệ thống điện mặt trời mái nhà không chỉ có tấm quang điện. Người dân còn phải đầu tư inverter, khung giá đỡ, dây dẫn, thiết bị bảo vệ, thiết bị đo đếm, nhân công lắp đặt và, nếu muốn sử dụng điện vào buổi tối, cần thêm BESS. Chi phí thực tế phụ thuộc quy mô, thiết bị và cấu hình. Trong khi đó, mức hỗ trợ tối đa 3 triệu đồng cho điện mặt trời chỉ tương đương một phần nhỏ tổng vốn đầu tư. Nếu lắp thêm BESS, tổng hỗ trợ 6 triệu đồng vẫn chưa làm thay đổi căn bản bài toán vốn.

Đối với hộ sử dụng điện thấp, vấn đề còn rõ hơn. Nếu gia đình chỉ tiêu thụ vài trăm kWh mỗi tháng và phần lớn phụ tải tập trung vào buổi tối, khả năng sử dụng trực tiếp điện mặt trời vào ban ngày sẽ hạn chế. Nếu lắp hệ thống quá lớn so với nhu cầu, tỷ lệ điện phát ra nhưng không được sử dụng ngay tại chỗ sẽ tăng. Tuy nhiên, bài toán này đã có một thay đổi đáng chú ý về cơ chế chính sách.

Nghị định 243/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 của Chính phủ đã sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ. Trong đó, cho phép mua bán sản lượng điện dư với tỷ lệ tối đa 50% sản lượng điện phát tại đầu ra của nguồn điện mặt trời mái nhà theo cường độ bức xạ. Đến hết năm 2030, trong trường hợp lưới điện tại khu vực đấu nối bảo đảm khả năng tiếp nhận và đáp ứng yêu cầu vận hành, các bên có thể thỏa thuận tỷ lệ cao hơn. Quy định này tạo thêm đầu ra cho phần điện dư, qua đó cải thiện bài toán kinh tế của hệ thống và có thể góp phần rút ngắn thời gian hoàn vốn.

Đây là một bước tiến đáng ghi nhận so với việc chỉ dựa vào khả năng tự sử dụng điện tại chỗ. Nhưng cơ chế bán điện dư cũng không có nghĩa là mọi hộ sử dụng ít điện đều có thể đạt hiệu quả đầu tư cao. Phần điện dư được bán vẫn bị giới hạn về tỷ lệ; giá trị kinh tế của điện bán ra cũng khác với giá điện bán lẻ mà hộ gia đình phải trả khi mua điện từ lưới. Trong khi đó, chi phí đầu tư ban đầu, chi phí tài chính và chi phí thay thế thiết bị vẫn là những yếu tố quyết định thời gian thu hồi vốn. Vì vậy, Nghị định 243 đã cải thiện cơ chế, nhưng chưa thể tự mình giải quyết bài toán hiệu quả đầu tư cho mọi hộ gia đình. Điều quan trọng vẫn là lựa chọn quy mô hệ thống phù hợp với phụ tải, nâng tỷ lệ tự dùng và chỉ đầu tư BESS khi lợi ích kinh tế - kỹ thuật tương xứng với chi phí. Nhưng nếu thời gian hoàn vốn kéo dài trên 5 năm, việc bỏ ra vài chục triệu đồng để tiết kiệm một khoản tiền điện tương đối nhỏ mỗi tháng sẽ khó trở thành lựa chọn phổ biến.

Hộ tiêu thụ nhiều điện:

Với những hộ có hóa đơn tiền điện cao thường có động lực kinh tế rõ hơn khi đầu tư điện mặt trời. Theo biểu giá bán lẻ điện sinh hoạt hiện hành, phần điện năng từ 401 kWh trở lên có giá 3.460 đồng/kWh (chưa bao gồm VAT). Vì vậy, đối với hộ sử dụng điện nhiều và có khả năng sử dụng trực tiếp điện mặt trời vào ban ngày, mỗi kWh điện mặt trời tự dùng có thể giúp thay thế phần điện mua từ lưới ở mức giá tương đối cao.

Nhưng chính ở đây lại xuất hiện một nghịch lý khác. Hộ tiêu thụ điện lớn thường là những hộ có khả năng tự đầu tư. Nếu chính sách chỉ hỗ trợ đồng đều 3-6 triệu đồng/hộ, khoản tiền này có thể có ý nghĩa về mặt khuyến khích, nhưng chưa chắc đủ để trở thành yếu tố quyết định. Vì vậy, trợ cấp bình quân theo hộ có thể không phải là công cụ hiệu quả nhất. Nhà nước cần quan tâm nhiều hơn đến việc làm thế nào để giảm chi phí đầu tư ban đầu và chi phí vốn, thay vì chỉ hỗ trợ một khoản tiền cố định.

Công sở, trường học, bệnh viện:

Chỉ thị 10/CT-TTg đã yêu cầu các bộ, ngành, địa phương bố trí vốn hoặc thu hút đầu tư để phát triển điện mặt trời mái nhà tại công sở, trường học, bệnh viện, với yêu cầu hoàn thành nhiệm vụ trước ngày 31/3/2027. Công văn 7404/BCT-ĐL ngày 16/9/2026 tiếp tục yêu cầu các địa phương triển khai chương trình lắp đặt điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ tại các cơ sở này.

Khác với hộ gia đình, nhiều công sở, trường học và cơ sở y tế có phụ tải lớn vào ban ngày - đúng thời điểm điện mặt trời phát nhiều nhất. Điều này tạo ra sự phù hợp tự nhiên giữa thời điểm phát điện và thời điểm tiêu thụ điện.

Theo tính toán của Bộ Công Thương: Mái nhà các bệnh viện, trường học, cơ quan công sở thuộc tài sản nhà nước có thể khai thác khoảng 2.800 MW điện mặt trời. Nếu tổ chức tốt, đây có thể là khu vực mang lại hiệu quả cao hơn so với việc vận động hàng triệu hộ gia đình có mức tiêu thụ điện thấp cùng đầu tư những hệ thống nhỏ.

Đặc biệt, nhà nước có thể lựa chọn mô hình đầu tư phù hợp (ngân sách đầu tư, thuê dịch vụ năng lượng, hoặc huy động doanh nghiệp đầu tư và thu hồi vốn từ phần chi phí điện tiết kiệm được), tùy điều kiện pháp lý.

Vai trò của BESS và ba chỉ số phản ánh đúng giá trị của điện mặt trời mái nhà:

Việc Bộ Công Thương đề nghị khuyến khích điện mặt trời mái nhà kết hợp với BESS là hợp lý về mặt vận hành hệ thống. Điện mặt trời phát mạnh vào ban ngày, trong khi phụ tải hộ gia đình thường tăng vào buổi tối. Nếu không có lưu trữ, một phần sản lượng điện mặt trời có thể không được sử dụng đúng thời điểm. BESS giúp chuyển dịch một phần điện mặt trời từ thời gian có bức xạ cao, sang thời gian phụ tải tăng. Như vậy, giá trị của BESS không chỉ nằm ở việc giúp hộ gia đình tăng tỷ lệ tự dùng, mà còn ở khả năng giảm phụ tải lấy từ lưới vào những thời điểm hệ thống chịu áp lực.

Quan điểm này cũng phù hợp với các nghiên cứu quốc tế. Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng: Điện mặt trời phân tán, nếu được quy hoạch và vận hành phù hợp có thể mang lại lợi ích cho hệ thống điện, nhưng nếu phát triển thiếu quản lý sẽ tạo thêm những thách thức về vận hành và lưới điện.

Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cũng xác định pin lưu trữ có thể cung cấp tính linh hoạt cho hệ thống bằng cách tích trữ điện trong thời điểm nguồn tái tạo dồi dào và phát điện vào thời điểm nhu cầu cao.

IEA nhấn mạnh rằng: Giá trị của các nguồn năng lượng phân tán không tự nhiên xuất hiện chỉ vì các hộ gia đình sở hữu chúng. Muốn biến điện mặt trời mái nhà và BESS thành tài sản có giá trị đối với hệ thống, cần có dữ liệu, khả năng quan sát lưới phân phối, công nghệ điều khiển và các cơ chế khuyến khích phù hợp. Điều này có ý nghĩa trực tiếp đối với Việt Nam. Khi điện mặt trời mái nhà được phát triển ở quy mô lớn, bài toán không còn chỉ là có bao nhiêu tấm pin trên mái nhà, mà là các nguồn điện phân tán đó được vận hành như thế nào, ở đâu có giá trị cao nhất và làm thế nào để phối hợp với phụ tải, BESS và lưới điện.

Tuy nhiên, BESS cũng làm tăng đáng kể vốn đầu tư. Do đó, nếu nhà nước chỉ nói “khuyến khích lắp BESS”, nhưng không giải quyết bài toán chi phí thì rất khó để BESS trở thành thành phần phổ biến trong các hệ thống hộ gia đình.

Thực tế, chính sách Bắc Ninh đã bước đầu nhận diện vấn đề này khi dành một phần hỗ trợ riêng cho dung lượng lưu trữ. Đây là hướng đáng tham khảo, nhưng cần đánh giá sau một thời gian triển khai để biết mỗi đồng ngân sách hỗ trợ BESS tạo ra bao nhiêu kWh điện tự dùng và giảm được bao nhiêu công suất phụ tải đỉnh.

Có ý kiến cho rằng: Không nên lấy số hộ làm thước đo duy nhất. Đây có lẽ là vấn đề quan trọng nhất khi đánh giá khả năng đạt mục tiêu 50%. Một hộ có hệ thống điện mặt trời 1 kWp và một hộ có hệ thống 10 kWp đều được tính là “một hộ đã lắp điện mặt trời”. Nhưng đóng góp của hai hệ thống này đối với hệ thống điện hoàn toàn khác nhau. Tương tự, một hộ có phụ tải ban ngày lớn sẽ sử dụng được phần lớn điện mặt trời phát ra. Một hộ chỉ sử dụng điện chủ yếu vào buổi tối lại cần BESS, hoặc phải tiếp tục lấy điện từ lưới. Do đó, nếu chỉ chạy theo tỷ lệ số hộ được lắp đặt, có thể đạt được chỉ tiêu về số lượng, nhưng chưa chắc đạt được mục tiêu về hiệu quả hệ thống điện.

Các phân tích của WB và IEA cho thấy: Khi nguồn điện phân tán tăng nhanh, khả năng quan sát, quản lý và điều phối ở cấp lưới phân phối trở nên quan trọng hơn. Điện mặt trời mái nhà, pin lưu trữ và phụ tải linh hoạt có thể trở thành những nguồn lực hỗ trợ hệ thống, nhưng điều đó đòi hỏi phải biết chúng đang ở đâu, hoạt động ra sao và có thể đáp ứng nhu cầu của lưới điện như thế nào. Vì vậy, cần quan tâm ba chỉ số: Công suất điện mặt trời được lắp đặt; sản lượng điện tự dùng thực tế; và công suất phụ tải đỉnh được giảm nhờ hệ thống. Ba chỉ số này mới phản ánh đúng giá trị của điện mặt trời mái nhà đối với hệ thống điện quốc gia.

Nên hỗ trợ như thế nào?

Một điểm cần nhìn rõ hơn là hiệu quả đầu tư điện mặt trời mái nhà không chỉ phụ thuộc vào số tiền nhà nước hỗ trợ, mà trước hết phụ thuộc vào cách một hộ gia đình sử dụng điện. Hai hộ cùng nhận mức hỗ trợ 3 triệu đồng, nhưng có thể có hiệu quả đầu tư hoàn toàn khác nhau. Một hộ sử dụng nhiều điện vào ban ngày có thể trực tiếp sử dụng phần lớn điện mặt trời phát ra và giảm ngay lượng điện mua từ lưới. Trong khi đó, một hộ sử dụng điện chủ yếu vào buổi tối sẽ phải đầu tư thêm hệ thống lưu trữ, nếu muốn nâng tỷ lệ tự dùng. Điều này cho thấy không nên coi điện mặt trời mái nhà là một sản phẩm có cùng hiệu quả đối với mọi hộ gia đình. Quy mô hệ thống cần được lựa chọn trên cơ sở phụ tải thực tế, thời điểm sử dụng điện, diện tích mái, khả năng đấu nối và khả năng đầu tư của từng hộ.

BESS càng làm cho bài toán trở nên rõ hơn. Pin lưu trữ có thể chuyển một phần điện mặt trời từ thời điểm bức xạ cao, sang thời điểm phụ tải tăng, qua đó nâng tỷ lệ tự dùng và giảm lượng điện lấy từ lưới vào buổi tối. Nhưng BESS cũng làm tăng đáng kể vốn đầu tư. Vì vậy, không phải hộ nào lắp điện mặt trời cũng cần một hệ thống lưu trữ có cùng quy mô.

Từ góc độ chính sách, điều quan trọng không phải là khuyến khích mọi hộ lắp đặt một cấu hình giống nhau, mà là tạo điều kiện để mỗi nhóm hộ lựa chọn cấu hình có hiệu quả kinh tế - kỹ thuật phù hợp. Với những hộ có phụ tải ban ngày lớn, điện mặt trời tự dùng có thể đã mang lại hiệu quả mà không cần BESS lớn. Với những hộ có phụ tải cao, nhưng tập trung vào buổi tối, BESS có thể tạo thêm giá trị. Còn với hộ sử dụng điện thấp, việc đầu tư một hệ thống lớn chỉ để nhận hỗ trợ có thể không phải là lựa chọn kinh tế.

Có nên hỗ trợ cào bằng?

Nếu mục tiêu là nhanh chóng mở rộng điện mặt trời mái nhà, có thể cân nhắc chuyển từ tư duy hỗ trợ mỗi hộ một khoản tiền, sang hỗ trợ theo nhóm đối tượng và hiệu quả sử dụng điện.

Nhóm thứ nhất: Cần ưu tiên những hộ có phụ tải ban ngày tương đối lớn. Đây là nhóm có khả năng sử dụng trực tiếp điện mặt trời cao, không cần đầu tư BESS quá lớn và có khả năng giảm điện mua từ lưới ngay lập tức.

Nhóm thứ hai: Những hộ có phụ tải cao, nhưng tập trung vào buổi tối. Với nhóm này, chính sách nên khuyến khích mô hình điện mặt trời kết hợp BESS, bởi lợi ích không chỉ nằm ở sản lượng điện, mà còn ở khả năng giảm phụ tải giờ cao điểm.

Nhóm thứ ba: Hộ thu nhập thấp, hoặc khu vực khó tiếp cận lưới điện. Đây là đối tượng cần chính sách hỗ trợ mạnh hơn theo hướng an sinh và bảo đảm tiếp cận năng lượng, tương tự cách tỉnh Lai Châu đang thực hiện.

Còn đối với hộ sử dụng điện thấp và có điều kiện kinh tế bình thường, không nhất thiết phải dùng ngân sách để khuyến khích bằng mọi giá. Có thể để thị trường quyết định trên cơ sở thông tin minh bạch về chi phí, sản lượng, thời gian hoàn vốn và tuổi thọ thiết bị. Cách tiếp cận này sẽ tránh tình trạng ngân sách hỗ trợ cho cả những trường hợp vốn đã có động lực đầu tư, trong khi những hộ thực sự cần hỗ trợ lại chưa tiếp cận được chính sách.

Một hướng khác có thể đem lại hiệu quả lớn hơn là hỗ trợ chi phí vốn. Thay vì mỗi hộ nhận 3-6 triệu đồng, có thể nghiên cứu chương trình tín dụng xanh với lãi suất ưu đãi, thời hạn vay phù hợp với vòng đời thiết bị. Khi đó, ngân sách nhà nước không nhất thiết phải bỏ ra toàn bộ khoản hỗ trợ cho từng hộ, nhưng vẫn làm giảm đáng kể gánh nặng đầu tư ban đầu.

Chẳng hạn, một chương trình tín dụng ưu đãi dành riêng cho điện mặt trời mái nhà và BESS, kết hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất, danh sách thiết bị đạt chuẩn và cơ chế bảo hành rõ ràng, có thể tạo hiệu ứng lớn hơn một khoản trợ cấp nhỏ.

Một hộ phải bỏ ra 50 triệu đồng, nhưng được giảm đáng kể chi phí vốn trong nhiều năm có thể cảm nhận được lợi ích khác hẳn so với việc nhận 3 triệu đồng một lần. Cách này có thể huy động được nguồn vốn xã hội lớn hơn mà không làm tăng tương ứng gánh nặng ngân sách.

Mục tiêu 50% và những thách thức:

Mục tiêu 50% hộ gia đình sử dụng điện mặt trời mái nhà đến năm 2030 thể hiện định hướng mạnh mẽ về phát triển nguồn điện phân tán. Nhưng con số này cần được thực hiện theo hướng hiệu quả, thay vì chỉ chạy theo tỷ lệ quy định. Quy hoạch điện VIII Điều chỉnh đã nâng đáng kể quy mô phát triển điện mặt trời đến năm 2030, trong đó điện mặt trời mái nhà được kỳ vọng đóng vai trò quan trọng.

Theo phân tích của Bộ Công Thương: Trong kịch bản cơ sở khoảng 46.000 MW điện mặt trời vào năm 2030, định hướng cơ cấu có khoảng 26.000 MW điện mặt trời mái nhà. Đây là cách phân tích cơ cấu của kịch bản, không phải chỉ tiêu công suất điện mặt trời mái nhà được quy định riêng trong Quyết định 768/QĐ-TTg. Vì vậy, thách thức không chỉ là có đạt được 50% số hộ hay không. Điều quan trọng hơn là 50% số hộ đó có tạo ra được lượng điện tự dùng đủ lớn hay không; có góp phần giảm phụ tải đỉnh hay không; có giảm nhu cầu đầu tư nguồn và lưới hay không; lưới điện có thể hấp thụ được hay không; và chi phí xã hội phải bỏ ra để đạt được mục tiêu đó là bao nhiêu. Nếu một hệ thống được lắp đặt, nhưng phần lớn điện mặt trời không được sử dụng tại chỗ, hiệu quả đối với mục tiêu tự sản xuất, tự tiêu thụ sẽ khác với một hệ thống có tỷ lệ tự dùng cao.

Từ vận động lắp đặt, sang xây dựng thị trường:

Điện mặt trời mái nhà có một ưu điểm mà các nguồn điện tập trung khó có được: Nguồn điện được đặt ngay tại nơi tiêu thụ. Nếu được triển khai đúng địa điểm và kết hợp với BESS ở những nơi phù hợp, nguồn điện này có thể góp phần giảm tổn thất truyền tải, giảm áp lực lên lưới phân phối, giảm phụ tải đỉnh và tăng khả năng tự chủ năng lượng của người sử dụng. Nhưng chính vì vậy, chính sách cũng cần tránh biến mục tiêu phát triển thành một cuộc vận động lắp đặt đơn thuần. Người dân sẽ đầu tư khi bài toán kinh tế hợp lý. Doanh nghiệp sẽ tham gia khi thị trường có quy mô và cơ chế ổn định. Ngân sách nhà nước chỉ nên đóng vai trò tạo cú hích ở những nơi thị trường chưa tự vận hành được.

Các nghiên cứu của IEA cũng cho thấy: Giá trị của nguồn điện phân tán phụ thuộc đáng kể vào cách thiết kế cơ chế thị trường, dữ liệu, lưới điện và các tín hiệu khuyến khích để lợi ích của người sử dụng có thể đồng thời tạo ra giá trị cho hệ thống.

Kết luận:

Việc Bộ Công Thương đề nghị các địa phương sớm có chính sách hỗ trợ điện mặt trời mái nhà là một tín hiệu tích cực. Bắc Ninh đã bước đầu xây dựng mô hình hỗ trợ tương đối rõ ràng; Lai Châu lại cho thấy chính sách hỗ trợ có thể gắn với mục tiêu bảo đảm tiếp cận điện cho các nhóm còn khó khăn. Hà Nội cũng đang nghiên cứu một cơ chế tương tự. Tuy nhiên, từ thực tế này có thể thấy hỗ trợ tài chính nhỏ, áp dụng đồng đều cho mọi hộ chưa chắc là chìa khóa để đạt mục tiêu lớn. Với hộ tiêu thụ điện thấp, khoản hỗ trợ 3-6 triệu đồng có thể quá nhỏ so với tổng vốn đầu tư. Với hộ tiêu thụ điện cao, khoản hỗ trợ này lại có thể không phải yếu tố quyết định để đầu tư. Trong khi đó, công sở, trường học, bệnh viện và các cơ sở có phụ tải ban ngày lớn có thể là những nơi điện mặt trời mái nhà tạo ra hiệu quả trực tiếp và rõ ràng hơn.

Việc Nghị định 243/2026/NĐ-CP mở rộng khả năng bán phần điện dư là một bước cải thiện đáng kể về cơ chế. Tuy nhiên, để chính sách thực sự tạo được thị trường, cần đặt cơ chế bán điện dư này trong một hệ thống chính sách đồng bộ hơn về quy mô đầu tư, BESS, chi phí vốn và khả năng tiếp nhận của lưới điện. Đồng thời, kinh nghiệm quốc tế cho thấy khi điện mặt trời phân tán và BESS phát triển ở quy mô lớn, giá trị của chúng không chỉ nằm ở sản lượng điện tạo ra, mà còn ở khả năng hỗ trợ tính linh hoạt, quản lý phụ tải và giảm áp lực cho lưới điện. Điều này đòi hỏi nguồn điện phân tán phải được nhìn nhận như một bộ phận của hệ thống, thay vì chỉ là tài sản riêng của từng hộ gia đình. Vì vậy, chính sách giai đoạn tới nên chuyển dần từ “hỗ trợ theo số hộ” sang “hỗ trợ theo hiệu quả”; từ trợ cấp một lần sang giảm chi phí vốn; từ vận động lắp đặt sang xây dựng thị trường; và từ coi điện mặt trời mái nhà đơn thuần là một nguồn phát điện sang xem đây là một thành phần của quản lý phụ tải và nguồn điện phân tán.

Mục tiêu 50% hộ gia đình và 50% công sở đến năm 2030 là một mục tiêu lớn. Nhưng để biến mục tiêu ấy thành kết quả thực chất, điều cần thiết không phải là làm cho thật nhiều mái nhà có pin mặt trời, mà là làm cho mỗi hệ thống được đầu tư đúng nơi, đúng quy mô, tự dùng được nhiều nhất và tạo ra giá trị rõ ràng cho cả người dân và hệ thống điện.

Cuối cùng, theo yêu cầu hiện nay, EVN phối hợp với địa phương kiểm tra đấu nối, lắp đặt và vận hành các hệ thống điện mặt trời mái nhà kết nối với lưới điện quốc gia. Nhưng về lâu dài, dữ liệu vận hành của ngành điện có thể trở thành cơ sở quan trọng để thiết kế chính sách. Ngành điện biết khu vực nào thường xuyên quá tải vào ban ngày, khu vực nào phụ tải tăng mạnh vào buổi tối, nơi nào có khả năng hấp thụ thêm điện mặt trời và nơi nào cần BESS để giảm phụ tải đỉnh. Nếu những dữ liệu này được số hóa và sử dụng trong quy hoạch phát triển điện mặt trời mái nhà, chính sách hỗ trợ có thể chuyển từ “hộ nào đăng ký trước thì được hỗ trợ” sang “khu vực nào có giá trị hệ thống cao thì được ưu tiên”. Đây sẽ là bước chuyển quan trọng từ phát triển theo phong trào sang phát triển theo nhu cầu của hệ thống điện./.

TS. NGUYỄN HUY HOẠCH - HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM


Tài liệu tham khảo:

1. Thủ tướng Chính phủ: “Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050” - Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 15/4/2025.

2. Thủ tướng Chính phủ: “Chỉ thị số 10/CT-TTg về việc tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà” - Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 30/3/2026.

3. Bộ Công Thương: “Công văn số 7404/BCT-ĐL về chương trình lắp đặt điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ đối với các tòa nhà cơ quan công sở, trường học, bệnh viện” - 16/9/2026.

4. Chính phủ: “Nghị định số 58/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới” - 3/3/2025.

5. Chính phủ: “Nghị định số 243/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 57/2025/NĐ-CP và Nghị định số 58/2025/NĐ-CP” - 26/6/2026.

6. Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh: “Nghị quyết số 21/2026/NQ-HĐND quy định chính sách hỗ trợ hộ gia đình lắp đặt điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ và hệ thống lưu trữ điện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2026-2030” - 16/7/2026.

7. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN): “Bắc Ninh hỗ trợ hộ gia đình lắp đặt điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ và hệ thống lưu trữ điện tối đa 6 triệu đồng” - 23/7/2026.

8. Bộ Công Thương: “Thông tin về tình hình triển khai phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ và thực hiện Chỉ thị số 10/CT-TTg” - tháng 9/2026.

9. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)/Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC): “Số liệu phát triển điện mặt trời mái nhà đến hết tháng 7/2026” - EVN/EVNNPC, 2026.

10. World Bank/ESMAP: From Sun to Roof to Grid - Power Systems and Distributed PV Technical Report. World Bank Group, 2023.

11. International Energy Agency (IEA): Unlocking the Potential of Distributed Energy Resources. IEA, Paris, 2022.

Có thể bạn quan tâm

Các bài đã đăng

[Xem thêm]
Phiên bản di động