Đủ điện, giá điện hợp lý - Phân tích từ thông điệp chỉ đạo của Thường trực Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ
06:00 | 22/10/2026
Sau giai đoạn khó khăn kéo dài, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã có bước phục hồi đáng chú ý về tài chính. Đến cuối tháng 6/2026, Công ty mẹ EVN đã chuyển từ trạng thái còn lỗ lũy kế sang có lợi nhuận sau thuế chưa phân phối dương hơn 3.000 tỷ đồng. Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9 (ngày 3/10/2026), Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu “không tăng giá điện trong những tháng cuối năm”. Hai diễn biến này thực chất không mâu thuẫn. Trong bối cảnh CPI bình quân 9 tháng đã tăng 4,52%, áp lực giá năng lượng gia tăng và nền kinh tế đồng thời phải duy trì tốc độ tăng trưởng rất cao, giá điện được đặt trong một bài toán rộng hơn: Kiểm soát lạm phát, bảo đảm sức cạnh tranh của nền kinh tế, cùng lúc duy trì đủ nguồn lực cho đầu tư phát triển hệ thống điện. |
1. Hai thông điệp chỉ đạo, một yêu cầu xuyên suốt:
Ngày 12/10/2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh: Bảo đảm cung ứng đủ điện là điều kiện tiên quyết để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội. Đồng thời yêu cầu rà soát tiến độ từng dự án, xác định những dự án không bảo đảm tiến độ, hoặc thiếu tính khả thi để có phương án điều chỉnh, bổ sung, thay thế; làm rõ trách nhiệm của các cơ quan, doanh nghiệp và địa phương liên quan [1].
Ngày 18/10/2026, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đề cập yêu cầu kiểm soát giá các mặt hàng thiết yếu, trong đó có điện, với định hướng giá điện nên giảm khi có điều kiện và chỉ tăng khi phát sinh chi phí [2].
Hai phát biểu đề cập đến hai khía cạnh khác nhau, nhưng cùng hướng tới một yêu cầu: Ngành điện phải đáp ứng nhu cầu phát triển với chi phí hợp lý, hạn chế những tổn thất do đầu tư kém hiệu quả và bảo đảm lợi ích chính đáng của người sử dụng điện.
Bảo đảm đủ điện không thể chỉ được đánh giá bằng tổng công suất nguồn điện ghi trong quy hoạch. Một dự án đã có tên trong quy hoạch, nhưng chưa thu xếp được vốn, chưa ký được hợp đồng mua bán điện, chưa đặt mua thiết bị, hoặc chưa có lưới điện đấu nối, thì chưa thể đóng góp công suất cho hệ thống theo kế hoạch.
Tương tự, giá điện thấp tại một thời điểm cũng chưa đủ để khẳng định hệ thống đang vận hành hiệu quả, nếu chi phí đầu tư tăng cao, dự án chậm tiến độ, hoặc những khoản chi phí hợp lý chưa được xử lý minh bạch.
Vì vậy, mục tiêu không nên được hiểu đơn giản là bổ sung thật nhiều công suất, hoặc duy trì giá điện thấp bằng mọi cách. Điều quan trọng hơn là xây dựng được hệ thống điện có khả năng cung cấp điện tin cậy, đầu tư hiệu quả và phân bổ chi phí minh bạch, phù hợp với khả năng chi trả của nền kinh tế.
2. Quy hoạch chỉ có giá trị khi công suất trở thành nguồn điện thực tế:
Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia đặt mục tiêu tổng công suất nguồn điện phục vụ nhu cầu trong nước đến năm 2030 khoảng 183.291-236.363 MW [3]. Đây là định hướng quan trọng để chuẩn bị nguồn lực đáp ứng nhu cầu điện trong bối cảnh Việt Nam theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao. Tuy nhiên, quy hoạch là căn cứ định hướng phát triển, không phải sự bảo đảm rằng: Mọi dự án được đưa vào danh mục đều hoàn thành đúng hạn. Giữa quyết định đầu tư và thời điểm vận hành thương mại còn nhiều công đoạn - từ lựa chọn nhà đầu tư, thu xếp vốn, ký kết hợp đồng mua bán điện, đặt mua thiết bị, xây dựng công trình, hoàn thiện hạ tầng nhiên liệu và đấu nối lưới điện. Trở ngại ở bất kỳ khâu nào cũng có thể làm thay đổi tiến độ cung ứng điện.
Do đó, việc rà soát Quy hoạch điện VIII Điều chỉnh nên chuyển trọng tâm từ tổng công suất dự kiến, sang khả năng hoàn thành thực tế của từng dự án. Các dự án đã đủ điều kiện triển khai, những dự án còn vướng mắc và những dự án có nguy cơ chậm tiến độ cần được phân loại rõ, kèm theo mốc thời gian và trách nhiệm xử lý cụ thể. Đối với những dự án không còn bảo đảm tính khả thi, hoặc không thể đáp ứng tiến độ cần thiết, việc điều chỉnh, hoặc tìm phương án thay thế nên được xem xét sớm, trên cơ sở đánh giá đầy đủ chi phí và khả năng đáp ứng của hệ thống. Cách làm này giúp tránh tình trạng chỉ phát hiện thiếu hụt khi thời điểm cần nguồn điện đã đến gần.
Việc cập nhật quy hoạch cũng nên gắn với các kịch bản phụ tải và tiến độ đầu tư. Kịch bản cơ sở xác định những nguồn điện có khả năng vận hành tương đối chắc chắn; kịch bản bất lợi tính đến khả năng chậm tiến độ, biến động giá nhiên liệu, hoặc khó khăn huy động vốn; kịch bản ứng phó xác định trước các giải pháp bổ sung nguồn, lưới điện, lưu trữ và điều chỉnh phụ tải khi xuất hiện nguy cơ thiếu điện.
3. Giá điện hợp lý bắt đầu từ nguồn năng lượng sơ cấp, hiệu quả đầu tư và chi phí toàn hệ thống:
Định hướng giá điện nên giảm khi có điều kiện, chỉ tăng khi phát sinh chi phí đặt ra yêu cầu kiểm soát chi phí một cách thực chất. Tuy nhiên, việc điều hành giá bán lẻ chỉ là một khâu trong quá trình hình thành chi phí điện năng. Về dài hạn, giá điện còn chịu tác động của lựa chọn nguồn điện, hiệu quả đầu tư, giá nhiên liệu, tiến độ công trình, chi phí truyền tải và yêu cầu dự phòng của hệ thống.
Lựa chọn nguồn điện không chỉ lấy tiêu chí là giá thành, mà phải bao gồm cả tiêu chí an ninh năng lượng. Việt Nam là nước không được thiên ưu đãi về nguồn năng lượng sơ cấp. Đến nay, những nguồn năng lượng sơ cấp tối cần thiết cho phát triển kinh tế như dầu, khí và than đều phải nhập khẩu với tỷ lệ lớn. Nguồn năng lượng sơ cấp khác là thủy điện cũng đã khai thác gần hết tiềm năng. Nguồn điện mặt trời và gió tuy có tiềm năng lớn, giá thành tương đối rẻ, nhưng lại phụ thuộc thời tiết, không đảm bảo tính ổn định và khả năng điều độ theo nhu cầu phụ tải. Việt Nam buộc phải đa dạng hóa nguồn cung năng lượng sơ cấp để đảm bảo an ninh năng lượng.
Bởi vậy, đánh giá hiệu quả nguồn điện không nên chỉ dựa vào giá phát điện riêng lẻ. Cần xem xét tổng chi phí mà hệ thống phải gánh chịu trong suốt vòng đời dự án, bao gồm nhiên liệu, vốn đầu tư, truyền tải, dự phòng, lưu trữ và cân bằng cung - cầu. Một nguồn điện có giá phát điện thấp chưa chắc đem lại chi phí toàn hệ thống thấp, nếu đòi hỏi đầu tư bổ sung lớn, hoặc làm tăng nhu cầu dự phòng. Ngược lại, nguồn điện có chi phí riêng cao hơn vẫn có thể mang lại giá trị, nếu đóng góp đáng kể vào độ tin cậy cung cấp điện.
Với mục tiêu công suất điện khí LNG khoảng 22.524 MW đến năm 2030 (theo Quy hoạch điện VIII Điều chỉnh), khả năng triển khai của từng dự án là vấn đề đặc biệt đáng lưu ý. Những vướng mắc về hợp đồng mua bán điện, thu xếp tài chính, đặt mua thiết bị và chuỗi cung ứng LNG có thể khiến một phần công suất không kịp vận hành theo kế hoạch. Nếu chưa xác định rõ mức độ sẵn sàng của từng dự án, cân đối nguồn điện có nguy cơ dựa trên công suất kỳ vọng thay vì công suất có thể huy động.
Trong trường hợp một số dự án LNG chậm tiến độ, phương án thay thế phải được chuẩn bị từ sớm. Việc xem xét bổ sung nhiệt điện than, hoặc các nguồn khác cần đặt trong tổng thể yêu cầu cung cấp điện, thời gian xây dựng, chi phí nhiên liệu, hạ tầng, tác động môi trường và mục tiêu giảm phát thải. Những công nghệ như thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS) cũng cần được đánh giá theo mức độ trưởng thành, chi phí và khả năng thương mại, thay vì coi là giải pháp đã sẵn sàng trong mọi trường hợp. Năng lượng tái tạo, thủy điện tích năng, pin lưu trữ và các nguồn linh hoạt có thể góp phần đa dạng hóa cơ cấu nguồn. Tuy nhiên, hiệu quả của chúng phụ thuộc vào vị trí, thời điểm phát điện, thời lượng lưu trữ, khả năng điều độ và điều kiện lưới điện.
Vì vậy, lựa chọn cơ cấu nguồn cần dựa trên khả năng cung cấp điện tin cậy và chi phí toàn hệ thống, không chỉ dựa vào công suất lắp đặt, hoặc giá phát điện danh nghĩa.
Ở khâu giá bán lẻ, Nghị định số 278/2026/NĐ-CP ngày 9/7/2026 sửa đổi, bổ sung một số quy định về cơ chế, thời gian điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân [4]. Việc thực hiện cơ chế điều chỉnh giá cần bảo đảm minh bạch về căn cứ chi phí và tuân thủ quy định hiện hành. Tuy nhiên, điều hành giá không thể thay thế yêu cầu nâng cao hiệu quả đầu tư, tiết giảm chi phí bất hợp lý và cải thiện năng lực vận hành hệ thống.
Nói cách khác, muốn giá điện hợp lý một cách bền vững, trước hết phải giảm những chi phí có thể tránh được, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và bảo đảm mỗi khoản chi phí được tính vào giá đều có căn cứ rõ ràng.
4. Sửa đổi Luật Điện lực - Mở đường cho đầu tư, nhưng không thay thế khâu thực thi:
Ngày 20/10/2026, Chính phủ trình Quốc hội dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực. Theo thông tin từ Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, dự thảo tập trung vào phân cấp, phân quyền, cắt giảm thủ tục hành chính, tháo gỡ vướng mắc trong đầu tư nguồn và lưới điện; đồng thời hoàn thiện một số cơ chế về thị trường và giá điện [5]. Những đề xuất này có ý nghĩa đối với việc triển khai Quy hoạch điện VIII Điều chỉnh, nhưng cần phân biệt rõ giữa nội dung Chính phủ trình, kiến nghị của cơ quan thẩm tra và quy định pháp luật đã có hiệu lực. Các cơ chế đang được đề xuất chỉ có thể trở thành căn cứ thực hiện sau khi hoàn tất trình tự xem xét, thông qua và ban hành theo quy định.
Về thủ tục đầu tư, dự thảo đề xuất miễn thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư đối với một số dự án điện lực đáp ứng điều kiện nhất định. Nếu được thông qua, quy định này có thể rút ngắn quá trình chuẩn bị dự án.
Dù vậy, đơn giản hóa thủ tục vẫn phải gắn với điều kiện rõ ràng về năng lực nhà đầu tư, sử dụng đất, khu vực biển, bảo vệ môi trường và trách nhiệm thực hiện.
Đối với lưới điện truyền tải, dự thảo đề xuất bổ sung hình thức đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP). Đây có thể là một kênh huy động thêm vốn cho hạ tầng truyền tải, nhưng hiệu quả phụ thuộc vào cách lựa chọn dự án, lựa chọn nhà đầu tư, phân bổ rủi ro, xác định cơ chế thanh toán và quy định trách nhiệm vận hành sau khi công trình hoàn thành.
Với điện gió ngoài khơi, điểm nghẽn không chỉ nằm ở thủ tục, mà ở khả năng chuyển khu vực biển có tiềm năng thành dự án đầu tư có thể triển khai và huy động vốn. Đặc thù của lĩnh vực này là nhà đầu tư phải bỏ nguồn lực lớn cho khảo sát gió, địa chất, điều kiện hải văn, phương án đấu nối, trong khi vẫn phải đối mặt với rủi ro về lựa chọn nhà đầu tư, cơ chế mua bán điện và tiến độ phát triển hạ tầng. Vì vậy, vấn đề cần quan tâm không chỉ là bổ sung quy định, mà còn là tổ chức thực hiện sao cho kết quả khảo sát được chuyển thành dự án đầu tư có hiệu quả, tránh lãng phí nguồn lực và không để khu vực biển có tiềm năng bị giữ lại kéo dài mà không triển khai.
Trước hết: Cần làm rõ mối quan hệ giữa quyền khảo sát, kết quả khảo sát và quyền phát triển dự án. Cơ chế thực hiện phải xác định được phạm vi, thời hạn khảo sát, tiêu chuẩn thẩm định dữ liệu, trách nhiệm công bố, hoặc bàn giao kết quả và cách xử lý chi phí khi lựa chọn được nhà đầu tư, hoặc khi dự án không tiếp tục triển khai. Cơ chế này cần vừa bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đơn vị đã bỏ vốn, vừa bảo đảm tính minh bạch, cạnh tranh trong lựa chọn nhà đầu tư.
Thứ hai: Phải bảo đảm khả năng huy động vốn thông qua cơ chế mua bán điện có thể dự báo và phân bổ rủi ro hợp lý. Với dự án có vốn đầu tư lớn, thời gian chuẩn bị dài và phụ thuộc nhiều vào thiết bị chuyên dụng, điều kiện tài chính không chỉ nằm ở mức giá điện dự kiến, mà còn ở khả năng thực hiện hợp đồng, nguyên tắc xử lý biến động khách quan, trách nhiệm khi chậm tiến độ và phương án giải quyết những rủi ro ngoài khả năng kiểm soát. Nếu các điều kiện thực hiện hợp đồng chưa rõ, nhà đầu tư và tổ chức tín dụng sẽ khó đánh giá đầy đủ rủi ro. Ngược lại, cơ chế bảo đảm đầu tư cũng không nên chuyển mọi rủi ro sang bên mua điện, hoặc người sử dụng điện.
Thứ ba: Quy hoạch điện gió ngoài khơi phải đi cùng quy hoạch đấu nối và truyền tải. Không chỉ xác định công suất nguồn dự kiến, cần làm rõ phương án đấu nối, chủ thể chịu trách nhiệm đầu tư các hạng mục lưới điện liên quan, tiến độ hoàn thành và cơ chế phân bổ chi phí. Việc chậm một mắt xích trong chuỗi từ khảo sát, phê duyệt đầu tư, đặt hàng thiết bị, đến xây dựng công trình đấu nối đều có thể làm lỡ thời điểm cung cấp điện. Khi đó, hệ thống không chỉ mất đi sản lượng điện dự kiến, mà còn có thể phải huy động các nguồn thay thế với chi phí cao hơn.
Những yêu cầu này càng có ý nghĩa khi Quy hoạch điện VIII Điều chỉnh đặt mục tiêu phát triển 6.000 MW điện gió ngoài khơi vào năm 2030. Cần rà soát tiến độ theo từng dự án, phân biệt rõ công suất đã có cơ sở triển khai với công suất còn phụ thuộc vào các điều kiện chưa hoàn thành. Đối với dự án có nguy cơ chậm, phải sớm xác định nguyên nhân và phương án xử lý; không nên mặc nhiên tính toàn bộ công suất trong quy hoạch vào cân đối cung ứng điện.
Về thị trường điện và giá điện, dự thảo đề xuất lấy giá trúng thầu làm cơ sở ký kết hợp đồng mua bán điện, mở rộng mua bán điện trực tiếp và hoàn thiện cơ chế hình thành giá. Cơ quan thẩm tra đề nghị làm rõ nguyên tắc giá điện phải dựa trên chi phí hợp lý, hợp lệ, hiệu quả đầu tư, mức độ rủi ro và điều kiện thị trường; đồng thời hạn chế đàm phán lại những nội dung đã được xác lập qua đấu thầu [5]. Định hướng này đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng hợp đồng. Giá trúng thầu chỉ phát huy đầy đủ ý nghĩa khi các điều kiện cơ bản được xác định rõ, các trường hợp điều chỉnh được quy định trước và trách nhiệm của các bên được thực hiện nhất quán. Nếu giá được xác lập qua cạnh tranh, nhưng sau đó thường xuyên phải thương lượng lại, hiệu lực của đấu thầu sẽ giảm và rủi ro chi phí có thể chuyển sang bên mua điện, hoặc người sử dụng.
Đối với cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA), việc mở rộng quyền lựa chọn nguồn điện có thể thúc đẩy cạnh tranh và phát triển năng lượng sạch. Tuy nhiên, chi phí sử dụng lưới điện, điều độ, dự phòng và các dịch vụ hệ thống phải được xác định minh bạch, tránh chuyển chi phí phát sinh của một nhóm khách hàng sang những khách hàng khác.
Tương tự, đề xuất giảm và tiến tới xóa bù chéo giữa các nhóm khách hàng cần được phân biệt với chính sách hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo và đối tượng chính sách. Cải thiện tín hiệu giá và bảo đảm khả năng tiếp cận điện của nhóm dễ bị tổn thương là hai mục tiêu có thể được thực hiện đồng thời, nếu cơ chế hỗ trợ được thiết kế phù hợp.
Trong thảo luận về dự án Luật ngày 20/10/2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh yêu cầu tìm điểm cân bằng giữa lợi ích nhà nước, người dân và nhà đầu tư [6]. Đây là nguyên tắc quan trọng đối với quá trình hoàn thiện chính sách: Tạo điều kiện cho đầu tư và thu hồi vốn hợp lý, nhưng không chuyển toàn bộ rủi ro của dự án sang nhà nước, bên mua điện, hoặc người sử dụng.
Dù vậy, sửa đổi Luật Điện lực chỉ tạo khuôn khổ thuận lợi hơn. Khả năng cung cấp đủ điện vẫn phụ thuộc vào chất lượng chuẩn bị dự án, tiến độ huy động vốn, thực thi hợp đồng, đầu tư lưới điện và năng lực điều hành hệ thống. Thể chế tốt cần đi cùng trách nhiệm thực hiện cụ thể và cơ chế giám sát có hiệu quả.
5. Không đồng nhất giá điện thấp trước mắt với hiệu quả kinh tế dài hạn:
Một điểm cần làm rõ trong thảo luận về giá điện là sự khác biệt giữa mức giá bán lẻ tại một thời điểm và tổng chi phí để duy trì hệ thống điện an toàn, tin cậy trong dài hạn. Nếu giá điện không phản ánh đầy đủ các chi phí hợp lý, hợp lệ theo cơ chế pháp luật, nguồn lực dành cho đầu tư mới và duy trì hạ tầng có thể chịu áp lực. Ngược lại, việc tăng giá cũng không tự động bảo đảm hiệu quả, nếu nguyên nhân khiến chi phí cao bắt nguồn từ đầu tư kém hiệu quả, dự án chậm tiến độ, lựa chọn công nghệ chưa phù hợp, hoặc phân bổ rủi ro thiếu minh bạch.
Vì vậy, mục tiêu giảm áp lực giá điện không chỉ nằm ở thời điểm điều chỉnh giá, mà còn ở khả năng kiểm soát chi phí từ khâu quy hoạch, đến vận hành. Các dự án phải được đánh giá trên cơ sở nhu cầu thực tế, hiệu quả đầu tư và khả năng hoàn thành; chi phí phát sinh phải được giải trình; hợp đồng cần phân định rõ trách nhiệm và rủi ro; còn cơ chế giá phải tạo động lực tiết kiệm, nâng cao hiệu suất và cạnh tranh bình đẳng.
Đối với người sử dụng điện, minh bạch giá không chỉ có nghĩa là công bố mức giá cuối cùng. Điều quan trọng hơn là hiểu được những yếu tố chính tác động đến giá, nguyên tắc phân bổ chi phí và trách nhiệm của các bên trong việc kiểm soát những khoản chi phí đó.
Đối với nhà đầu tư, một cơ chế giá ổn định và có thể dự báo giúp giảm rủi ro pháp lý, tạo điều kiện huy động vốn dài hạn. Tuy nhiên, tính ổn định không đồng nghĩa với bảo đảm mọi khoản đầu tư đều được thu hồi bất kể hiệu quả. Cơ chế chính sách phải khuyến khích dự án có chất lượng, kiểm soát chi phí và phân bổ rủi ro phù hợp với khả năng quản lý của từng bên.
Về phía nhà nước, điều hành giá điện cần kết hợp hài hòa giữa an ninh cung cấp điện, ổn định kinh tế vĩ mô, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và khả năng chi trả của người dân. Khi cần hỗ trợ các nhóm khách hàng dễ bị tổn thương, chính sách hỗ trợ trực tiếp, minh bạch sẽ giúp phân biệt rõ mục tiêu an sinh với cơ chế hình thành giá điện.
Như vậy, giá điện hợp lý không nhất thiết là giá thấp nhất trong mọi thời điểm, mà là mức giá được hình thành trên cơ sở chi phí hợp lý, hiệu quả đầu tư, cơ chế thị trường minh bạch và sự phân bổ lợi ích, rủi ro có trách nhiệm.
6. Từ thông điệp chỉ đạo đến kết quả thực tế - Trách nhiệm triển khai phải rõ ràng:
Để biến các định hướng trên thành kết quả, công tác theo dõi Quy hoạch điện VIII Điều chỉnh nên gắn với từng dự án và từng mốc tiến độ. Thông tin về tình trạng pháp lý, thu xếp vốn, hợp đồng mua bán điện, thiết bị, xây dựng, đấu nối và dự kiến vận hành thương mại cần được cập nhật nhất quán. Những dự án chậm tiến độ nên được phân loại theo nguyên nhân để xác định đúng cơ quan, đơn vị có trách nhiệm xử lý.
Cùng với đó, việc lựa chọn phương án bổ sung nguồn điện phải dựa trên những tính toán cập nhật về nhu cầu, khả năng huy động và chi phí toàn hệ thống. Nếu một dự án không còn khả năng hoàn thành theo thời hạn cần thiết, phương án thay thế phải được chuẩn bị đủ sớm để tránh phát sinh khoảng trống cung ứng điện. Việc bổ sung nguồn cũng phải tính đến khả năng giải tỏa công suất, thay vì chỉ tăng công suất lắp đặt mà chưa giải quyết được hạn chế của lưới điện. Đầu tư truyền tải cần được phối hợp chặt chẽ với tiến độ nguồn điện và phân bố phụ tải. Các giải pháp quản lý nhu cầu, điều chỉnh phụ tải, pin lưu trữ, thủy điện tích năng và nguồn linh hoạt cũng nên được đánh giá theo đóng góp thực tế vào độ tin cậy cung cấp điện.
Với những khách hàng có yêu cầu vận hành liên tục, chẳng hạn trung tâm dữ liệu, giải pháp điều chỉnh phụ tải phải phù hợp với đặc tính sử dụng điện, không thể áp dụng máy móc như đối với các phụ tải có khả năng dịch chuyển thời gian sử dụng.
Một hệ thống theo dõi minh bạch sẽ giúp cơ quan quản lý nhận diện sớm nguy cơ thiếu điện, nhà đầu tư chủ động hơn trong kế hoạch triển khai và người sử dụng có cơ sở hiểu rõ hơn về chi phí cung ứng điện. Quan trọng hơn, việc công khai tiến độ và giải trình chi phí sẽ tạo điều kiện đánh giá chính sách bằng kết quả thực tế thay vì chỉ bằng mục tiêu được công bố.
Kết luận:
Phát biểu của Thủ tướng Chính phủ về yêu cầu bảo đảm cung ứng đủ điện và thông điệp của Thường trực Ban Bí thư về định hướng giá điện cùng đặt ra một yêu cầu đối với quá trình triển khai chính sách: An ninh cung cấp điện phải đi đôi với hiệu quả đầu tư và kiểm soát chi phí.
Quy hoạch điện VIII Điều chỉnh chỉ thực sự phát huy giá trị khi các dự án có khả năng hoàn thành, nguồn và lưới điện được đầu tư đồng bộ, cơ cấu nguồn phù hợp với điều kiện vận hành và những rủi ro về tiến độ được xử lý từ sớm. Sửa đổi Luật Điện lực có thể tạo thêm cơ sở pháp lý để tháo gỡ điểm nghẽn, huy động nguồn lực và hoàn thiện thị trường, nhưng hiệu quả cuối cùng phụ thuộc vào các quy định được thông qua và chất lượng tổ chức thực hiện. Giá điện hợp lý cũng không thể chỉ được hiểu là duy trì mức giá thấp trước mắt. Điều cần hướng tới là kiểm soát những chi phí có thể tránh được, bảo đảm chi phí hợp lý được giải trình minh bạch, khuyến khích đầu tư hiệu quả và phân bổ rủi ro phù hợp.
Nói tóm lại: Đủ điện, giá điện hợp lý phải được giải quyết trong một chỉnh thể - tiếp cận toàn diện, liên kết hữu cơ và cùng hướng tới mục tiêu phát triển chung của đất nước./.
TS. NGUYỄN HUY HOẠCH - HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Tài liệu tham khảo:
[1] Cổng Thông tin điện tử Chính phủ: “Thủ tướng: Cung ứng đủ điện là điều kiện tiên quyết cho các mục tiêu phát triển”, ngày 12/10/2026. https://baochinhphu.vn/thu-tuong-cung-ung-du-dien-la-dieu-kien-tien-quyet-cho-cac-muc-tieu-phat-trien-10226101218553074.htm
[2] VTC News: “Thường trực Ban Bí thư: Giá điện nên giảm, chỉ tăng khi phát sinh chi phí”, ngày 18/10/2026. https://vtcnews.vn/thuong-truc-ban-bi-thu-gia-dien-nen-giam-chi-tang-khi-phat-sinh-chi-phi-ar1045920.html
[3] Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, ngày 16/4/2025.
[4] Chính phủ: Nghị định số 278/2026/NĐ-CP ngày 9/7/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 72/2025/NĐ-CP quy định về cơ chế, thời gian điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân, ngày 9/7/2026.
[5] Sửa đổi Luật Điện lực: Gỡ ‘điểm nghẽn’ trong phát triển nguồn và lưới điện”, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, ngày 20/10/2026. https://baochinhphu.vn/sua-doi-luat-dien-luc-go-diem-nghen-trong-phat-trien-nguon-va-luoi-dien-102261020163856857.htm
[6] Cổng Thông tin điện tử Chính phủ: “Thủ tướng: Sửa Luật Điện lực phải tìm ‘điểm cân bằng’ giữa lợi ích Nhà nước, nhân dân và nhà đầu tư”, ngày 20/10/2026. https://baochinhphu.vn/thu-tuong-sua-luat-dien-luc-phai-tim-diem-can-bang-giua-loi-ich-nha-nuoc-nhan-dan-va-nha-dau-tu-102261020175133277.htm