RSS Feed for Đóng góp ý kiến sửa đổi Luật Điện lực của TS. Nguyễn Thị Thanh Bình - ĐBQH, Phó chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam | Tạp chí Năng lượng Việt Nam Thứ tư 04/11/2026 09:11
TRANG TTĐT CỦA TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Đóng góp ý kiến sửa đổi Luật Điện lực của TS. Nguyễn Thị Thanh Bình - ĐBQH, Phó chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam

 - Ngày 3/11/2026, thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực, TS. Nguyễn Thị Thanh Bình - ĐBQH tỉnh Hưng Yên (Phó chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam) đã kiến nghị ba nội dung quan trọng. Cụ thể: (1) Cần ràng buộc trách nhiệm và giám sát tiến độ toàn bộ quá trình thực hiện dự án điện; (2) xây dựng khung giá phát điện kịp thời, khách quan, phản ánh đầy đủ chi phí hợp lý và đủ sức thu hút đầu tư; (3) hoàn thiện pháp luật điện lực và cơ chế mua bán điện (PPA) đáp ứng các yêu cầu cơ bản của tài chính quốc tế. Tạp chí Năng lượng Việt Nam trích dẫn nguyên văn phát biểu của Đại biểu dưới đây để bạn đọc tham khảo.
Bộ trưởng Công Thương giải trình ý kiến đại biểu Quốc hội quan tâm về Luật Điện lực (sửa đổi năm 2026) Bộ trưởng Công Thương giải trình ý kiến đại biểu Quốc hội quan tâm về Luật Điện lực (sửa đổi năm 2026)

Ngày 3/11/2026, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng đã tiếp thu, giải trình ý kiến đại biểu Quốc hội quan tâm về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực. Tạp chí Năng lượng Việt Nam tổng hợp một số nội dung tiếp thu, giải trình của Bộ trưởng Bộ Công Thương tại hội trường Quốc hội.

Kiến nghị của TS. Nguyễn Thị Thanh Bình - ĐBQH tỉnh Hưng Yên về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực
TS. Nguyễn Thị Thanh Bình - ĐBQH tỉnh Hưng Yên (Phó chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam).

Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, dữ liệu và chuyển đổi xanh, nguồn điện ổn định, đủ và cạnh tranh là nền tảng để thu hút đầu tư, phát triển các ngành kinh tế mới và thực hiện tăng trưởng hai con số. Với nhiều địa phương, dự án năng lượng còn tạo việc làm, nguồn thu và động lực tăng trưởng.

Thời gian qua, Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ đã rất quan tâm, kịp thời ban hành nhiều chủ trương, chính sách, nghị quyết thúc đẩy phát triển năng lượng, đặc biệt là năng lượng tái tạo, năng lượng xanh. Tuy nhiên, từ chủ trương đến kết quả thực tế còn khoảng cách rất lớn.

Quy hoạch điện VIII được phê duyệt năm 2023, điều chỉnh năm 2025, nhưng triển khai đến nay còn rất chậm. Sau khi Quốc hội ban hành Nghị quyết 253/2025/QH15 cuối năm 2025, sang năm 2026 nhiều địa phương mới bắt đầu lựa chọn nhà đầu tư. Hai đến ba năm đã trôi qua, nhưng chưa có dự án mới của Quy hoạch điện VIII đi vào vận hành.

Như vậy, chúng ta đã chậm ngay từ khâu khởi đầu. Nếu không có các giải pháp đồng bộ, tình trạng các dự án chậm tiến độ theo Quy hoạch sẽ tiếp diễn, dẫn tới tình trạng thiếu điện, ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế xanh và bền vững.

Để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật Điện lực sửa đổi, tôi xin kiến nghị ba nội dung sau:

Thứ nhất: Cần ràng buộc trách nhiệm và giám sát tiến độ toàn bộ quá trình thực hiện dự án điện.

Quy định nhà đầu tư phải bảo đảm tiến độ là hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, chọn được nhà đầu tư chưa đồng nghĩa ký được hợp đồng mua bán điện, thu xếp được vốn; xây dựng xong vẫn có thể phải chờ lưới giải tỏa, nghiệm thu và vận hành thương mại. Mỗi khâu chậm vài tháng, cả dự án có thể chậm hàng năm, hoặc vài năm.

Do vậy, đề nghị bổ sung tại Điều 12, Điều 13 cơ chế giám sát tiến độ liên thông, có đầu mối tại UBND cấp tỉnh, phối hợp với Bộ Công Thương, EVN và các đơn vị liên quan. Mỗi dự án phải có kế hoạch chung, xác định trách nhiệm, thời hạn từ thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi, thỏa thuận đấu nối, đàm phán cơ chế mua bán điện (PPA) đến nghiệm thu, vận hành thương mại. Chính phủ quy định thời hạn xử lý hồ sơ, các mốc đàm phán, trách nhiệm giải trình và xử lý quá hạn, phân định rõ nguyên nhân chậm tiến độ của từng bên.

Tại khoản 5a Điều 10, đề nghị gắn danh mục nguồn điện với các công trình lưới cần thiết để giải tỏa công suất; xác định rõ chủ đầu tư lưới, trách nhiệm của EVN và đơn vị liên quan, thời hạn hoàn thành trước, hoặc đồng thời với nguồn điện, bảo đảm nhà máy có thể vận hành đúng tiến độ.

Thứ hai: Xây dựng khung giá phát điện kịp thời, khách quan, phản ánh đầy đủ chi phí hợp lý và đủ sức thu hút đầu tư.

Thực tế, khi xây dựng phương án khung giá năm 2026, EVN sử dụng thông số dự án mẫu có báo cáo nghiên cứu khả thi được phê duyệt từ năm 2023, trước khi Luật Đất đai mới ban hành. Trong khi đó, chính sách bồi thường, hỗ trợ mới làm tăng đáng kể chi phí giải phóng mặt bằng, làm tổng mức đầu tư các dự án lên tới từ 2-10% (tùy loại hình điện gió, điện mặt trời). Nếu giữ nguyên dữ liệu cũ, khung giá sẽ không phản ánh đúng điều kiện đầu tư hiện nay.

Do vậy, đề nghị bổ sung tại khoản 3 Điều 51 nguyên tắc cập nhật dữ liệu theo năm áp dụng, công nghệ và địa bàn, tính đầy đủ chi phí hợp lý, hợp lệ, đặc biệt các nghĩa vụ đất đai. Chính phủ quy định phương pháp cập nhật, xử lý biến động chi phí do thay đổi chính sách và kiểm soát việc tính trùng.

Ngoài ra, phương án khung giá cần do đơn vị có năng lực, độc lập với lợi ích thương mại của bên mua điện (EVN) xây dựng. EVN chỉ có trách nhiệm cung cấp dữ liệu, Bộ Công Thương tổ chức thẩm định, phê duyệt. Khung giá phải công bố chậm nhất trong quý 1 hằng năm, kèm cơ chế chuyển tiếp (nếu chưa ban hành khung mới).

Thứ ba: Hoàn thiện pháp luật điện lực và PPA đáp ứng các yêu cầu cơ bản của tài chính quốc tế.

Mục tiêu tổng công suất nguồn điện đến 2030 và 2035 rất lớn và nguồn vốn đầu tư rất lớn. Rêng nguồn điện giai đoạn 2026-2035 cần trên 100 tỷ USD. Quy mô này đòi hỏi huy động vốn và thu hút nhà đầu tư quốc tế có công nghệ, kinh nghiệm quản trị, đặc biệt với các dự án nguồn điện lớn (như LNG, điện gió ngoài khơi). Để thu hút được vốn quốc tế, cần phải hoàn thiện các khuôn khổ pháp luật điện lực tiệm cận và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế.

Thực tế, theo báo cáo của Bộ Công Thương tại cuộc họp ngày 1/10/2026: Trong 15 dự án điện LNG dự kiến vận hành trước 2030, với tổng công suất trên 20.000 MW, chỉ một dự án được đánh giá có khả năng đáp ứng tiến độ. Một nút thắt quan trọng là PPA chưa đáp ứng yêu cầu thu xếp vốn quốc tế. Điện gió ngoài khơi tới đây khi giải quyết xong việc lựa chọn nhà đầu tư, đến giai đoạn đàm phán PPA cũng có thể gặp vướng mắc tương tự.

Tôi đề nghị tập trung điều chỉnh các cơ chế sau:

Một là: Tại Điều 51, cần quy định nguyên tắc phân bổ hợp lý rủi ro tỷ giá. Doanh thu bằng đồng Việt Nam, nhưng nghĩa vụ trả nợ bằng ngoại tệ tạo rủi ro lớn cho dự án. Cần cho phép thành phần giá tương ứng với nghĩa vụ ngoại tệ hợp lý được điều chỉnh theo tỷ giá tham chiếu, thanh toán bằng đồng Việt Nam; giao Chính phủ quy định cụ thể, đồng bộ với pháp luật ngoại hối.

Hai là: Tại khoản 2 Điều 12 và Điều 51, cần quy định cam kết mua điện dài hạn cho nguồn điện lớn, phù hợp từng loại nguồn; mở rộng giá công suất cho LNG, không giới hạn ở mô hình đối tác công tư (PPP). Thanh toán gắn với công suất khả dụng được kiểm chứng, bù đắp chi phí cố định hợp lý trong thời gian phù hợp với nghĩa vụ trả nợ.

Với LNG, làm rõ sản lượng hợp đồng tối thiểu, thời gian áp dụng và xử lý chi phí bao tiêu nhiên liệu hợp lý, không thể tránh khi không được huy động ngoài trách nhiệm nhà máy.

Với nguồn điện lớn khác, quy định cam kết mua sản lượng đủ điều kiện giao nhận và phân bổ rủi ro cắt giảm ngoài lỗi nhà đầu tư. Chính phủ quy định điều kiện thanh toán, nghĩa vụ giảm thiểu thiệt hại, chuyển tiếp cho dự án đang đàm phán PPA, thu xếp vốn được áp dụng khi đủ điều kiện./.

BBT TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Có thể bạn quan tâm

Các bài đã đăng

[Xem thêm]
Phiên bản di động