Tách Truyền tải điện Quốc gia ra khỏi EVN và vấn đề minh bạch thị trường, bảo đảm an ninh năng lượng khi về bộ ngành quản lý
06:20 | 19/10/2026
Về phương án tái cơ cấu EVN, hiện Bộ Tài chính và Bộ Công Thương đang có quan điểm khác nhau. Thực chất, hai bộ không khác nhau về mục tiêu, mà khác nhau về thứ tự ưu tiên. Bộ Công Thương nhìn từ yêu cầu cấu trúc thị trường (truyền tải là khâu độc quyền tự nhiên, nên phải độc lập với bên mua, bên bán điện thì cạnh tranh mới công bằng); Bộ Tài chính nhìn từ rủi ro tài chính và an ninh cung ứng. Qua nghiên cứu một số mô hình thành công, cũng như thất bại từ quốc tế, chúng tôi phân tích làm rõ thêm những lo ngại của hai bộ; gợi mở các điều kiện, nguyên tắc và những vấn đề cần giải quyết trong tái cơ cấu ngành điện Việt Nam. |
1. Tái cơ cấu phải xuất phát từ yêu cầu phát triển thị trường điện:
Trong ngành điện, truyền tải điện có vị trí đặc biệt. Đây là lĩnh vực mang tính độc quyền tự nhiên, đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài và phải tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu kỹ thuật về an toàn, độ tin cậy và ổn định hệ thống. Khác với hoạt động phát điện có thể từng bước mở rộng cạnh tranh giữa các nhà đầu tư, việc xây dựng nhiều hệ thống đường dây và trạm biến áp song song để cạnh tranh trực tiếp thường không hiệu quả về kinh tế và sử dụng đất đai. Do đó, yêu cầu đặt ra không phải là tạo ra cạnh tranh bằng cách nhân đôi hạ tầng truyền tải, mà là bảo đảm đơn vị quản lý lưới điện vận hành theo nguyên tắc minh bạch, không phân biệt đối xử, có trách nhiệm giải trình và chịu sự giám sát phù hợp. Đây cũng là điều kiện để các đơn vị phát điện, khách hàng sử dụng điện và các chủ thể tham gia thị trường được tiếp cận hạ tầng truyền tải trên cơ sở công bằng.
Luật Điện lực số 61/2024/QH15 đặt nền tảng pháp lý cho việc phát triển thị trường điện và hoàn thiện cơ chế hoạt động của ngành điện [1]. Trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục mở rộng các nguồn điện tư nhân, năng lượng tái tạo, điện khí và các hình thức mua bán điện trực tiếp, vai trò của lưới truyền tải ngày càng vượt ra ngoài chức năng đưa điện từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ. Lưới điện còn quyết định khả năng giải tỏa công suất, tiếp nhận nguồn điện mới, trao đổi điện giữa các vùng và khai thác hiệu quả các nguồn lực của toàn hệ thống.
Vì vậy, xem xét lại vị trí tổ chức của EVNNPT cần gắn với yêu cầu hoàn thiện thị trường điện, chứ không nên chỉ nhìn nhận như một giải pháp sắp xếp doanh nghiệp. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra cơ chế vận hành, trong đó quyền tiếp cận lưới điện, quyết định đầu tư, chi phí truyền tải và trách nhiệm cung cấp dịch vụ được xác định rõ ràng, có thể kiểm tra, giám sát.
2. Tách tổ chức không đồng nghĩa với độc lập thực chất:
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không có một mô hình tổ chức truyền tải điện duy nhất phù hợp với mọi quốc gia. Cách thức tổ chức phụ thuộc vào cấu trúc thị trường, mô hình sở hữu, cơ chế điều tiết, lịch sử phát triển ngành điện và yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng.
Bài viết “Ngành điện Việt Nam nên được tái cơ cấu theo hướng nào?” trên Tạp chí Năng lượng Việt Nam ngày 19/8/2026 đã đề cập các mô hình tổ chức ngành điện và kinh nghiệm quốc tế, gợi mở những vấn đề cần cân nhắc khi lựa chọn phương án tái cơ cấu phù hợp với điều kiện Việt Nam [2]. Từ kinh nghiệm đó, có thể thấy việc tách một đơn vị truyền tải khỏi tập đoàn điện lực không tự động bảo đảm tính độc lập. Nếu đơn vị sau tái cơ cấu vẫn chịu ảnh hưởng chi phối trong các quyết định đầu tư, kế hoạch phát triển lưới, phân bổ nguồn lực, hoặc tiếp cận vốn, những hạn chế về quản trị và khả năng tiếp cận bình đẳng có thể vẫn tồn tại (dù sơ đồ tổ chức đã thay đổi).
Độc lập, trước hết phải được thể hiện trong cơ chế quản trị và ra quyết định. EVNNPT cần có thẩm quyền, trách nhiệm rõ ràng đối với việc lập kế hoạch đầu tư, quản lý tài sản, tổ chức vận hành và phát triển lưới điện trong phạm vi được giao; đồng thời phải tuân thủ quy hoạch, tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế điều tiết và các yêu cầu vận hành thống nhất của hệ thống điện quốc gia.
Bên cạnh đó, quan hệ giữa EVNNPT với EVN và các đơn vị liên quan phải được xác lập minh bạch, có quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm và cơ chế giám sát. Việc tiếp cận lưới truyền tải không nên phụ thuộc vào quan hệ sở hữu, hoặc vị trí của một chủ thể trong cơ cấu tập đoàn, mà phải dựa trên các quy định và tiêu chí áp dụng thống nhất. Đây là điểm cốt yếu khi đánh giá phương án tái cơ cấu. Không chỉ xem EVNNPT thuộc cơ quan nào, hoặc có tư cách pháp nhân độc lập hay không, mà phải xem đơn vị này có thực sự được vận hành theo nguyên tắc minh bạch, bình đẳng và chịu trách nhiệm giải trình hay không.
3. Bài toán vốn, không thể chỉ nhìn vào nhu cầu vay nợ:
Truyền tải điện là lĩnh vực có nhu cầu vốn lớn, trong khi hiệu quả đầu tư thường được đánh giá trên thời gian dài. Việc mở rộng lưới điện 500 kV, 220 kV, xây dựng các trạm biến áp và phát triển hạ tầng kết nối các trung tâm nguồn điện với phụ tải đòi hỏi nguồn tài chính ổn định, năng lực quản lý dự án và khả năng tiếp cận vốn với chi phí hợp lý.
Một trong những vấn đề được đặt ra khi xem xét tách EVNNPT khỏi EVN là khả năng huy động vốn sau khi thay đổi mô hình tổ chức. Nếu chỉ nhìn vào việc tách riêng bảng cân đối kế toán, hoặc chuyển nghĩa vụ vay nợ, đánh giá có thể chưa phản ánh đầy đủ năng lực tài chính của doanh nghiệp. Khả năng tiếp cận vốn còn phụ thuộc vào tổng tài sản, tỷ lệ nợ trên tài sản, cơ chế hình thành doanh thu, mức độ ổn định của dòng tiền, phương án hoàn trả nợ, chính sách giá truyền tải, bảo lãnh và cam kết của chủ sở hữu, cũng như đánh giá tín nhiệm của các tổ chức cho vay. Trong thời gian hoạt động trong EVN, EVNNPT có mối liên hệ nhất định với năng lực tín dụng và uy tín tài chính của tập đoàn. Nếu chuyển sang mô hình độc lập mà cơ chế tài chính, giá dịch vụ truyền tải và trách nhiệm của chủ sở hữu chưa được xác định rõ, chi phí vốn có thể tăng, làm giảm khả năng triển khai các dự án lưới điện.
Ngược lại, nếu xây dựng được cơ chế doanh thu minh bạch, dòng tiền có khả năng dự báo và phương án huy động vốn phù hợp, việc tổ chức lại có thể tạo điều kiện nâng cao tính chủ động tài chính và trách nhiệm sử dụng vốn.
Vì vậy, đánh giá phương án tái cơ cấu nên đi cùng một đề án tài chính cụ thể, trong đó làm rõ hiện trạng tài sản, nợ vay, nghĩa vụ bảo lãnh, các cam kết tín dụng, hợp đồng đang thực hiện và nhu cầu vốn đầu tư trong trung, dài hạn. Đồng thời, cần xác định rõ cơ chế hình thành nguồn thu, nguyên tắc thanh toán chi phí truyền tải và trách nhiệm của chủ sở hữu đối với những dự án có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về an ninh năng lượng. Điều quan trọng là không để quá trình sắp xếp tổ chức làm gián đoạn các chương trình đầu tư lưới điện đang triển khai, hoặc làm suy giảm khả năng huy động vốn cho những công trình cấp thiết. Tái cơ cấu chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo được nền tảng tài chính bền vững hơn, chứ không phải đơn thuần chuyển các nghĩa vụ hiện hữu từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác.
4. Giữ sự đồng bộ giữa nguồn điện, lưới điện và vận hành hệ thống:
Một hệ thống điện an toàn không thể được bảo đảm chỉ bằng việc có đủ nguồn điện. Năng lực truyền tải, khả năng điều độ và mức độ phối hợp giữa các khâu cũng quyết định khả năng cung cấp điện đến phụ tải. Trong điều kiện các nguồn điện phân bố không đồng đều giữa các vùng, năng lượng tái tạo phát triển nhanh và phụ tải tăng mạnh tại các trung tâm kinh tế, yêu cầu phối hợp này càng trở nên quan trọng.
Nếu tái cơ cấu EVNNPT, nhưng không đồng thời làm rõ quan hệ giữa đơn vị truyền tải, đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện, nguy cơ phát sinh khoảng trống trách nhiệm là điều cần tính đến. Mỗi chủ thể có chức năng khác nhau: Đơn vị truyền tải chịu trách nhiệm đối với tài sản và năng lực lưới điện thuộc phạm vi quản lý; đơn vị vận hành hệ thống điện thực hiện các nhiệm vụ điều độ, vận hành hệ thống và thị trường theo thẩm quyền; còn các đơn vị phát điện, mua bán điện và giao dịch điện thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng và quy định thị trường. Sự phân định này cần được thể hiện nhất quán trong quy trình lập kế hoạch, đầu tư, đấu nối, điều độ, xử lý tình huống bất thường và xác định trách nhiệm khi xảy ra hạn chế truyền tải, hoặc không thể giao nhận điện theo kế hoạch.
Chẳng hạn, việc một nhà máy không phát hết công suất không mặc nhiên đồng nghĩa với lỗi của đơn vị truyền tải; nguyên nhân có thể liên quan đến điều kiện hệ thống, giới hạn kỹ thuật, yêu cầu vận hành, tình trạng lưới, hoặc các yếu tố khác. Cơ chế xác định trách nhiệm phải dựa trên dữ liệu, quy trình và nguyên nhân thực tế.
Đối với các hợp đồng mua bán điện, trong đó có các hợp đồng do Công ty Mua bán điện (EPTC) thực hiện, việc phân định rõ nghĩa vụ hợp đồng, trách nhiệm điều độ và khả năng tiếp nhận của lưới điện có ý nghĩa trực tiếp đối với thanh toán, giải quyết tranh chấp và phân bổ rủi ro.
Vì vậy, thay đổi mô hình tổ chức không nên dẫn đến tình trạng các chủ thể phải xử lý lại những quan hệ hợp đồng hiện hữu mà chưa có cơ chế chuyển tiếp rõ ràng.
Về dài hạn, kế hoạch phát triển lưới điện phải được phối hợp chặt chẽ với tiến độ các dự án nguồn, dự báo phụ tải, khả năng trao đổi điện giữa các miền và yêu cầu vận hành an toàn. Cơ chế chia sẻ dữ liệu và phối hợp giữa EVNNPT, đơn vị vận hành hệ thống điện, EVN và các chủ đầu tư nguồn điện cần tiếp tục được hoàn thiện, bảo đảm mọi thay đổi về tổ chức không làm suy giảm tính thống nhất trong vận hành hệ thống điện quốc gia.
5. Chuyển cơ quan chủ quản không thay thế yêu cầu quản trị minh bạch:
Công văn số 10382/VPCP-CN ngày 10/10/2026 của Văn phòng Chính phủ về các giải pháp bảo đảm cung ứng điện giai đoạn 2026-2030 và Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII đề cập phương án chuyển Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PetroVietnam), Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và EVNNPT về Bộ Công Thương. Nội dung này được đặt trong trình tự xem xét theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, sau khi Bộ Tài chính hoàn thiện và báo cáo Bộ Chính trị về phương án tái cơ cấu EVN [3].
Như vậy, cần phân biệt giữa việc đề cập một phương án trong quá trình chỉ đạo, xem xét và việc ban hành quyết định cuối cùng về mô hình tổ chức. Công văn nêu trên không nên được diễn giải thành việc chuyển cơ quan chủ quản đã hoàn tất, hoặc phương án tách EVNNPT đã được quyết định đầy đủ. Ngay cả khi thay đổi cơ quan chủ quản, hiệu quả tái cơ cấu vẫn phụ thuộc vào chất lượng quản trị và cơ chế giám sát. Nếu chỉ chuyển đơn vị từ một đầu mối quản lý sang đầu mối khác mà không làm rõ thẩm quyền quyết định đầu tư, nguyên tắc tiếp cận lưới điện, cơ chế điều tiết doanh thu và trách nhiệm giải trình, những vấn đề cốt lõi có thể chưa được giải quyết.
Với lĩnh vực truyền tải điện mang tính độc quyền tự nhiên, yêu cầu minh bạch cần được thể hiện trong cả hoạt động đầu tư và vận hành. Các tiêu chí lập kế hoạch phát triển lưới, xác định nhu cầu đầu tư, quản lý chi phí, đánh giá hiệu quả dự án và xử lý các yêu cầu đấu nối cần có cơ sở rõ ràng, có thể kiểm tra. Cơ chế giám sát cũng phải đủ năng lực phát hiện xung đột lợi ích, hạn chế phân biệt đối xử và bảo đảm chi phí truyền tải được xác định trên nguyên tắc hợp lý.
Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển thị trường năng lượng và huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội [4]. Từ định hướng này, tái cơ cấu EVNNPT nên được xem là một bộ phận của quá trình hoàn thiện thể chế ngành điện, với yêu cầu đồng thời nâng cao hiệu quả quản trị, khả năng đầu tư và độ tin cậy cung cấp điện.
6. Lộ trình phải đi cùng điều kiện thực hiện:
Tái cơ cấu một đơn vị giữ vai trò trọng yếu trong hệ thống điện quốc gia là quá trình phức tạp, liên quan đến tài sản, vốn, nhân lực, hợp đồng, cơ chế quản lý và trách nhiệm vận hành. Vì vậy, việc lựa chọn mô hình tổ chức nên dựa trên đánh giá toàn diện các phương án, thay vì mặc nhiên coi tách doanh nghiệp là mục tiêu tự thân.
Trước hết, cần làm rõ mục tiêu của phương án tái cơ cấu: Tăng tính độc lập trong quản trị, nâng cao tính minh bạch của thị trường, cải thiện khả năng huy động vốn, hay phân định lại chức năng quản lý nhà nước và hoạt động kinh doanh. Các mục tiêu này có liên hệ với nhau, nhưng không hoàn toàn đồng nhất - mỗi mục tiêu đòi hỏi những công cụ và điều kiện thực hiện khác nhau. Trên cơ sở đó, việc so sánh các phương án nên xem xét đầy đủ chi phí chuyển đổi, tác động đến tín dụng và nghĩa vụ nợ, khả năng tiếp tục triển khai dự án, cơ chế quản lý tài sản, quyền lợi người lao động, các hợp đồng đang có hiệu lực và nguy cơ phát sinh khoảng trống trong phối hợp vận hành. Những vấn đề này cần được lượng hóa ở mức có thể, làm cơ sở lựa chọn phương án có hiệu quả tổng thể cao nhất.
Một yêu cầu quan trọng khác là thiết kế cơ chế chuyển tiếp. Các dự án lưới điện đang triển khai, hợp đồng tín dụng, nghĩa vụ thanh toán và các thỏa thuận liên quan không thể chỉ được xử lý bằng quyết định thay đổi tổ chức. Cần có phương án cụ thể để bảo đảm tính liên tục của hoạt động, duy trì quan hệ với các tổ chức tín dụng và nhà thầu; đồng thời không làm gián đoạn tiến độ các công trình có ý nghĩa đối với an ninh cung cấp điện. Lộ trình thực hiện cũng nên gắn với các điều kiện kiểm chứng được, như hoàn thiện khung pháp lý, xác định cơ chế doanh thu truyền tải, làm rõ quan hệ giữa các đơn vị tham gia thị trường, bảo đảm năng lực tài chính và xây dựng hệ thống giám sát độc lập, hiệu quả. Việc đánh giá kết quả sau mỗi giai đoạn sẽ giúp nhận diện sớm những vướng mắc và điều chỉnh phương án khi cần thiết.
Đặc biệt, trong thời gian chuyển đổi, yêu cầu bảo đảm cung ứng điện phải được đặt lên hàng đầu. Không nên để việc thay đổi mô hình quản lý làm chậm quyết định đầu tư, ảnh hưởng đến tiến độ các đường dây và trạm biến áp trọng điểm, hoặc tạo ra sự không rõ ràng về trách nhiệm khi xử lý các tình huống vận hành khẩn cấp.
Kết luận:
Tái cơ cấu EVNNPT là vấn đề cần được xem xét trong tổng thể hoàn thiện thể chế ngành điện, phát triển thị trường cạnh tranh và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Giá trị của phương án không nằm ở việc thay đổi sơ đồ tổ chức đơn thuần, mà ở khả năng tạo ra một đơn vị truyền tải có cơ chế quản trị minh bạch, năng lực tài chính bền vững, trách nhiệm giải trình rõ ràng và quan hệ phối hợp hiệu quả với các chủ thể trong hệ thống điện. Việc lựa chọn mô hình phù hợp nên dựa trên đánh giá thấu đáo cả lợi ích và chi phí; đồng thời có lộ trình chuyển tiếp chặt chẽ để bảo toàn năng lực đầu tư, duy trì vận hành an toàn và không làm gián đoạn cung ứng điện.
Tách EVNNPT, nếu được lựa chọn, không nhằm làm suy yếu EVN, mà hướng tới hoàn thiện cách tổ chức ngành điện để vừa phát triển thị trường minh bạch, vừa nâng cao năng lực bảo đảm an ninh năng lượng của đất nước./.
TS. NGUYỄN HUY HOẠCH - HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Tài liệu tham khảo:
[1] Quốc hội: Luật Điện lực số 61/2024/QH15, ngày 30/11/2024.
[2] “Ngành điện Việt Nam nên được tái cơ cấu theo hướng nào?”, Tạp chí Năng lượng Việt Nam, ngày 19/08/2026 https://nangluongvietnam.vn/nganh-dien-viet-nam-nen-duoc-tai-co-cau-theo-huong-nao-36509.html
[3] Văn phòng Chính phủ: Công văn số 10382/VPCP-CN về các giải pháp bảo đảm cung ứng điện giai đoạn 2026-2030 và điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, ngày 10/10/2026.
[4] Bộ Chính trị: Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, ngày 20/08/2025.
[5] European Parliament and Council: Directive (EU) 2019/944 on common rules for the internal market for electricity, ngày 05/06/2019. https://eur-lex.europa.eu/eli/dir/2019/944/2025-10-12/eng