RSS Feed for Trung tâm Lọc hóa dầu và Năng lượng Quốc gia tại Dung Quất - Vì sao cần thiết và hiệu quả kinh tế ở đâu? | Tạp chí Năng lượng Việt Nam Chủ nhật 20/09/2026 10:07
TRANG TTĐT CỦA TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Trung tâm Lọc hóa dầu và Năng lượng Quốc gia tại Dung Quất - Vì sao cần thiết và hiệu quả kinh tế ở đâu?

 - Việc hình thành Trung tâm Lọc hóa dầu và Năng lượng Quốc gia tại Khu kinh tế Dung Quất là bước phát triển tiếp theo của một hệ sinh thái công nghiệp năng lượng đã hình thành tại Dung Quất, với Nhà máy Lọc dầu Dung Quất làm hạt nhân, cùng hệ thống cảng biển, khu công nghiệp gang thép, hạ tầng công nghiệp và không gian phát triển tương đối thuận lợi. Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng tiếp tục tăng, yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng ngày càng cao và quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ, việc hình thành Trung tâm là cần thiết. Vấn đề quan trọng hiện nay là thành lập như thế nào để tạo được chuỗi giá trị đủ lớn, có sức cạnh tranh và mang lại hiệu quả kinh tế thực chất cho cả quốc gia và khu vực miền Trung.
Luật Dầu khí (sửa đổi năm 2026) và không gian phát triển mới của kinh tế năng lượng Việt Nam Luật Dầu khí (sửa đổi năm 2026) và không gian phát triển mới của kinh tế năng lượng Việt Nam

Việc Quốc hội khóa XVI thông qua Luật Dầu khí (sửa đổi) ngày 23/8/2026 đánh dấu một bước điều chỉnh quan trọng đối với khuôn khổ pháp lý của ngành dầu khí Việt Nam. Luật mới nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn phát sinh (sau hơn ba năm thực hiện Luật Dầu khí 2022), qua đó mở rộng không gian phát triển của ngành thông qua phân cấp, phân quyền, cơ chế ưu đãi cho các mỏ có điều kiện đặc thù, phát triển dịch vụ kỹ thuật cao, năng lượng ngoài khơi và bước đầu hình thành khung pháp lý cho thu giữ và lưu trữ CO₂ (CCS). Ý nghĩa của lần sửa đổi này là tạo cơ sở để ngành dầu khí chuyển từ tư duy khai thác tài nguyên, sang phát triển một hệ sinh thái công nghiệp năng lượng có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn.

Ngày 14/9/2026, Bộ Tài chính ban hành Công văn số 14362/BTC-DNNN xin ý kiến các bộ, ngành, doanh nghiệp và các tổ chức liên quan về cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển Trung tâm Lọc hóa dầu và Năng lượng Quốc gia tại Khu kinh tế Dung Quất theo đề xuất của UBND tỉnh Quảng Ngãi. Đây là một bước tiến đáng chú ý. Bởi câu chuyện về Dung Quất hiện đã chuyển từ phạm vi một dự án lọc dầu, sang một định hướng phát triển trung tâm công nghiệp năng lượng có quy mô và ý nghĩa quốc gia. Chủ trương này cũng phù hợp với định hướng được Chính phủ đặt ra trong năm 2026.

Theo đó, Dung Quất được định hướng phát triển thành trung tâm lọc hóa dầu, năng lượng và công nghiệp liên quan, gắn với cảng nước sâu, logistics, công nghiệp hóa dầu, khí, điện, công nghiệp nặng, năng lượng tái tạo và các ngành công nghiệp hỗ trợ. Nhà máy Lọc dầu Dung Quất chính là hạt nhân của quá trình này. Sau nhiều năm hoạt động, nhà máy đã tạo ra một nền tảng công nghiệp mà không phải địa điểm nào cũng có thể hình thành và phát triển một cách liên tục. Nếu chỉ tiếp tục nhìn Dung Quất dưới góc độ một nhà máy lọc dầu, giá trị của nền tảng đó sẽ chưa được khai thác đầy đủ. Điều cần thiết là hình thành một hệ sinh thái trong đó các lĩnh vực lọc dầu, hóa dầu, khí, điện, năng lượng mới, logistics và công nghiệp hỗ trợ có quan hệ bổ trợ lẫn nhau. Đó chính là ý nghĩa cốt lõi của việc thành lập Trung tâm.

Vì sao Dung Quất cần một Trung tâm Năng lượng quy mô quốc gia?

1. Nhìn tổng thể:

Sự cần thiết trước hết xuất phát từ vị trí và nền tảng công nghiệp đã có. Dung Quất nằm ở vị trí trung tâm của miền Trung, có cảng nước sâu, Khu kinh tế Dung Quất và hệ thống công nghiệp đã được đầu tư trong nhiều năm. Đây cũng là khu vực thuận lợi kết nối với Khu kinh tế mở Chu Lai, Tây Nguyên và các trung tâm kinh tế khác thông qua hệ thống giao thông, cảng biển và logistics. Quan trọng hơn, Dung Quất đã có Nhà máy Lọc dầu Dung Quất (Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam - BSR) thuộc Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam). Đây là tài sản công nghiệp có giá trị lớn và là hạt nhân để hình thành các ngành công nghiệp phía sau.

Theo đề xuất của tỉnh Quảng Ngãi, Trung tâm có quy mô khoảng 2.000 ha đất và 2.700 ha mặt nước, được tổ chức thành các khu chức năng về công nghiệp, năng lượng, logistics và dịch vụ hỗ trợ. Tổng nhu cầu vốn đầu tư cho các dự án tiềm năng được ước tính khoảng 16,1-20,5 tỷ USD, trong đó giai đoạn đến năm 2030 khoảng 14,1-17,5 tỷ USD. Đây là quy mô lớn. Nhưng điều đáng quan tâm không phải là con số vốn đầu tư, mà là khả năng biến lượng vốn đó thành một hệ thống sản xuất có liên kết và tạo ra giá trị gia tăng cao.

2 . Chuỗi giá trị liên hoàn:

Nếu Trung tâm chỉ được hiểu là nơi tập trung thêm các nhà máy lọc dầu và hóa dầu, hiệu quả kinh tế sẽ phụ thuộc rất lớn vào giá dầu thô, giá sản phẩm, công suất vận hành, chi phí nguyên liệu và chu kỳ thị trường hóa dầu. Cách tiếp cận đó chưa đủ. Giá trị lớn hơn của Trung tâm nằm ở việc hình thành chuỗi giá trị liên hoàn.

Theo đó, dầu thô, khí và các nguyên liệu đầu vào được nhập khẩu, hoặc khai thác từ các nguồn phù hợp sẽ được chế biến sâu. Sản phẩm lọc dầu có thể tiếp tục trở thành nguyên liệu cho công nghiệp hóa dầu, hóa chất và vật liệu. Các sản phẩm phụ của quá trình sản xuất có thể trở thành đầu vào cho các ngành khác. Năng lượng, hơi, nước công nghiệp, kho chứa, cảng và các dịch vụ kỹ thuật có thể được sử dụng chung. Khi đó, một dự án không chỉ tạo ra doanh thu của chính dự án đó, mà còn tạo đầu ra, hoặc đầu vào cho các dự án khác trong Trung tâm.

Đây là khác biệt căn bản giữa một “cụm dự án” và một “trung tâm công nghiệp tích hợp”. Hiệu quả kinh tế vì vậy không nên chỉ tính bằng lợi nhuận của từng nhà máy. Cần tính cả giá trị gia tăng tạo ra trong toàn chuỗi, khả năng thay thế một phần sản phẩm nhập khẩu, phát triển công nghiệp hỗ trợ, tạo việc làm, tăng năng lực logistics và mở rộng nguồn thu ngân sách.

Theo Đề án của tỉnh Quảng Ngãi, đến năm 2030 Trung tâm hướng tới đáp ứng toàn bộ nhu cầu xăng dầu của khu vực miền Trung và Tây Nguyên, tối thiểu 30% nhu cầu xăng dầu cả nước; đồng thời hình thành dự trữ dầu thô và sản phẩm dầu ở mức tương đương khoảng 30 ngày. Đây là những mục tiêu cần được tiếp tục lượng hóa và kiểm chứng trong quá trình hoàn thiện Đề án, nhưng nếu thực hiện được, ý nghĩa của Trung tâm sẽ vượt xa phạm vi kinh tế của một địa phương.

3. Góp phần bảo đảm an ninh năng lượng:

An ninh năng lượng không chỉ được quyết định bởi tổng công suất nguồn điện. Đối với một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, khả năng bảo đảm dầu thô, xăng dầu, khí và các sản phẩm năng lượng thiết yếu cũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Việt Nam vẫn phải nhập khẩu một phần đáng kể dầu thô và các sản phẩm dầu. Thị trường năng lượng quốc tế lại chịu tác động ngày càng mạnh từ địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, biến động giá và các yêu cầu chuyển dịch năng lượng. Trong điều kiện đó, một trung tâm có năng lực nhập khẩu, tồn trữ, chế biến và phân phối quy mô lớn tại vị trí chiến lược sẽ tạo thêm một lớp bảo đảm cho an ninh năng lượng quốc gia.

Dung Quất có lợi thế về cảng biển và khả năng tiếp nhận nguyên liệu từ bên ngoài. Nếu kết hợp năng lực lọc hóa dầu với hệ thống dự trữ chiến lược, logistics và các cơ sở năng lượng khác, Trung tâm có thể trở thành một đầu mối quan trọng của chuỗi cung ứng năng lượng quốc gia. Đây là một lợi ích mà không thể đánh giá đầy đủ chỉ bằng các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp. Trong trường hợp thị trường thế giới biến động mạnh, chi phí của việc không có năng lực dự trữ và chế biến phù hợp có thể lớn hơn nhiều so với chi phí đầu tư ban đầu cho hạ tầng dự phòng.

Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả của Trung tâm, cần tính cả giá trị của khả năng chống chịu của nền kinh tế.

4. Hiệu quả kinh tế:

Theo đề xuất hiện nay, tổng vốn đầu tư tiềm năng của các dự án trong Trung tâm khoảng 16,1-20,5 tỷ USD. Trong đó, lĩnh vực lọc hóa dầu chiếm khoảng 54-56%; năng lượng khoảng 37-39%; năng lượng mới và năng lượng tái tạo khoảng 5-9%. Nếu triển khai đúng hướng, lượng vốn này có thể tạo ra một chuỗi đầu tư lớn cho miền Trung.

Tuy nhiên, vốn lớn không đồng nghĩa với hiệu quả lớn. Điểm quyết định là các dự án có liên kết với nhau hay không, có sử dụng chung hạ tầng hay không và có tạo ra các ngành sản xuất tiếp theo hay không.

Một nhà máy nhập nguyên liệu, sản xuất sản phẩm rồi xuất khẩu sẽ tạo ra giá trị nhất định. Nhưng nếu sản phẩm của nhà máy đó tiếp tục trở thành nguyên liệu cho một nhà máy hóa chất, vật liệu, hoặc sản phẩm công nghiệp khác ngay trong Trung tâm, giá trị gia tăng sẽ cao hơn.

Tương tự, nếu cảng biển, kho chứa, hệ thống cấp điện, cấp khí, nước công nghiệp, xử lý chất thải và logistics được quy hoạch dùng chung, chi phí đầu tư và vận hành của toàn hệ thống có thể được tối ưu hơn so với việc mỗi dự án tự xây dựng một hệ thống riêng. Đó mới là hiệu quả kinh tế mà Trung tâm cần hướng tới.

Theo Đề án, Trung tâm có thể tạo khoảng 10.000 việc làm mới đến năm 2030 và khoảng 30.000 việc làm vào giai đoạn sau. Nhưng tác động lớn hơn có thể đến từ những việc làm gián tiếp trong logistics, cơ khí, bảo dưỡng, hóa chất, vật liệu, dịch vụ kỹ thuật và các ngành công nghiệp hỗ trợ.

Nói cách khác, Trung tâm cần được đánh giá như một hệ sinh thái kinh tế, chứ không phải cộng đơn thuần hiệu quả của từng dự án.

5. Một cực tăng trưởng mới:

Một lợi thế khác của Trung tâm là khả năng tạo liên kết vùng. Dung Quất không đứng riêng lẻ. Cùng với Khu kinh tế mở Chu Lai, hành lang kết nối lên Tây Nguyên và hệ thống cảng biển miền Trung - khu vực này có khả năng hình thành một không gian công nghiệp và logistics lớn hơn.

Nếu Trung tâm phát triển được các ngành hóa dầu, hóa chất, cơ khí, vật liệu, thiết bị năng lượng và công nghiệp hỗ trợ, tác động của nó sẽ không dừng ở hàng rào Khu kinh tế Dung Quất. Đây có thể là một trong những nền tảng để miền Trung nâng cao tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo và giảm sự phụ thuộc vào các ngành có giá trị gia tăng thấp.

Vì vậy, hiệu quả của Trung tâm cần được tính ở cả cấp độ doanh nghiệp, tỉnh Quảng Ngãi, khu vực miền Trung và nền kinh tế quốc gia.

Nhận diện rủi ro:

Ủng hộ việc thành lập Trung tâm không có nghĩa là xem nhẹ những thay đổi của thị trường năng lượng. Ngành lọc hóa dầu trên thế giới đang đứng trước sức ép kép. Một mặt, nhu cầu năng lượng vẫn tăng ở nhiều nền kinh tế. Mặt khác, quá trình chuyển dịch sang năng lượng sạch, xe điện, nhiên liệu sinh học và các công nghệ phát thải thấp đang làm thay đổi cơ cấu nhu cầu trong dài hạn. Vì vậy, nếu đầu tư một Trung tâm có vòng đời hàng chục năm, không thể chỉ dựa vào nhu cầu xăng dầu hiện tại.

Trung tâm Dung Quất cần có khả năng thích ứng với thị trường năng lượng tương lai. Lọc dầu phải gắn với hóa dầu và hóa chất có giá trị gia tăng cao hơn. Hạ tầng năng lượng cần có khả năng tiếp nhận năng lượng tái tạo. Các hướng như hydrogen, ammonia xanh, nhiên liệu sinh học, thu hồi và lưu trữ carbon, tiết kiệm năng lượng và kinh tế tuần hoàn cần được tính ngay từ khâu quy hoạch. Điều này không có nghĩa biến Trung tâm lọc hóa dầu thành một “trung tâm năng lượng xanh” trên giấy tờ. Mọi mục tiêu giảm phát thải cần đi cùng công nghệ, tiêu chuẩn đo lường và khả năng kiểm chứng. Một Trung tâm được xây dựng hôm nay, nhưng không thích ứng được với thị trường năng lượng của 20-30 năm tới sẽ khó đạt hiệu quả đầu tư như kỳ vọng.

Cơ chế đặc thù:

Công văn 14362/BTC-DNNN của Bộ Tài chính cho thấy quá trình xây dựng cơ chế, chính sách cho Trung tâm đang bước vào giai đoạn cụ thể hơn.

Theo thông tin từ Quảng Ngãi, địa phương đang đề xuất 12 nhóm cơ chế liên quan đến tài chính, huy động vốn, nhà đầu tư chiến lược, đất đai, quy hoạch, thủ tục đầu tư, thuế, hải quan, công nghệ, các dự án lọc hóa dầu - hóa chất, dự trữ dầu thô và xăng dầu, cũng như nguồn nhân lực chất lượng cao.

Việc đề xuất cơ chế đặc thù là có cơ sở, nếu Trung tâm thực sự mang những lợi ích vượt ra ngoài phạm vi của một địa phương, hoặc một doanh nghiệp. Tuy nhiên, cơ chế đặc thù không nên trở thành mục tiêu tự thân. Điều cần thiết là xác định rõ những điểm mà pháp luật hiện hành chưa đáp ứng được đối với một trung tâm có quy mô và tính tích hợp như Dung Quất. Phần nào đã có cơ chế thì nên sử dụng cơ chế hiện hành. Chỉ những vấn đề thực sự cần thiết mới nên đề xuất cơ chế riêng. Đặc biệt, ưu đãi phải gắn với cam kết đầu tư, tiến độ, công nghệ, hiệu quả sử dụng đất, môi trường và đóng góp kinh tế.

Như vậy, cơ chế đặc thù sẽ trở thành công cụ để tháo gỡ điểm nghẽn, chứ không phải một hình thức ưu đãi kéo dài.

Vai trò của nhà nước và doanh nghiệp:

Một trong những điều kiện quan trọng để Trung tâm thành công là phân định rõ vai trò của nhà nước và doanh nghiệp. Nhà nước cần tạo lập không gian phát triển, quy hoạch đồng bộ, hạ tầng kết nối, hạ tầng dùng chung, cơ chế đất đai, logistics và các điều kiện cần thiết cho một trung tâm công nghiệp quy mô quốc gia.

Nhưng nhà nước không nên thay thị trường quyết định tất cả các dự án sản xuất. Những dự án lọc hóa dầu, hóa chất, năng lượng, logistics, hay công nghiệp hỗ trợ cần được lựa chọn trên cơ sở hiệu quả, công nghệ, thị trường và khả năng cạnh tranh. Nhà đầu tư chiến lược cần được lựa chọn theo tiêu chí rõ ràng, thay vì chỉ dựa trên quy mô vốn đăng ký.

Đặc biệt, các hạ tầng dùng chung cần có cơ chế vận hành minh bạch, bảo đảm khả năng tiếp cận bình đẳng và chi phí hợp lý cho các nhà đầu tư. Khi đó, Trung tâm mới có thể thu hút nhiều doanh nghiệp cùng tham gia thay vì phụ thuộc vào một vài dự án lớn.

Lời kết:

Điểm cần tránh nhất là biến Trung tâm Lọc hóa dầu và Năng lượng Quốc gia thành phép cộng cơ học của nhiều dự án. Một trung tâm đúng nghĩa phải có quy hoạch chung, hạ tầng dùng chung và sự liên kết giữa các ngành.

Lọc dầu phải kết nối với hóa dầu. Hóa dầu phải kết nối với hóa chất và vật liệu. Khí phải được tính đồng bộ với điện và công nghiệp. Cảng phải gắn với kho chứa và logistics. Năng lượng tái tạo phải từng bước tham gia vào quá trình giảm phát thải của toàn Trung tâm. Cùng với đó là hệ thống quản trị đủ mạnh để điều phối các hoạt động có tính liên ngành.

Đặc biệt, vấn đề môi trường phải được đặt ngay từ đầu. Một tổ hợp lọc hóa dầu quy mô lớn phải kiểm soát chặt khí thải, nước thải, chất thải nguy hại, rủi ro cháy nổ và tác động đến môi trường biển. Hạ tầng xử lý môi trường nên được tính như một bộ phận của hạ tầng Trung tâm, không phải phần bổ sung sau khi các dự án đã hình thành. Đây cũng là điều kiện để Trung tâm có thể thu hút các nhà đầu tư quốc tế có yêu cầu cao về tiêu chuẩn môi trường và phát thải carbon.

Từ những phân tích trên, có thể thấy sự cần thiết của Trung tâm Lọc hóa dầu và Năng lượng Quốc gia tại Dung Quất:

Thứ nhất: Dung Quất đã có hạt nhân công nghiệp là Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, có cảng biển, hạ tầng công nghiệp và vị trí chiến lược. Đây là nền tảng mà nhiều địa điểm khác phải mất hàng chục năm mới có thể hình thành.

Thứ hai: Trung tâm có thể góp phần củng cố an ninh năng lượng quốc gia thông qua năng lực nhập khẩu, chế biến, tồn trữ và phân phối dầu khí; đồng thời tạo thêm khả năng chống chịu trước biến động của thị trường năng lượng quốc tế.

Thứ ba: Mô hình tích hợp có thể tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn nhiều so với việc phát triển các dự án lọc dầu riêng lẻ. Giá trị nằm ở chuỗi liên kết giữa lọc dầu, hóa dầu, hóa chất, khí, điện, logistics và công nghiệp hỗ trợ.

Thứ tư: Trung tâm có khả năng tạo một cực tăng trưởng công nghiệp mới cho Quảng Ngãi và miền Trung, thu hút vốn đầu tư, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Nhưng để đạt được những mục tiêu đó, chúng ta phải trả lời câu hỏi: Việt Nam có cần một trung tâm công nghiệp năng lượng tích hợp, đủ sức nâng cao giá trị của dầu khí, bảo đảm một phần quan trọng an ninh năng lượng và tạo động lực công nghiệp mới cho miền Trung hay không?

Nếu câu trả lời là “có và cần thiết”, thì Dung Quất là một địa điểm có nhiều điều kiện thuận lợi để thực hiện. Vấn đề còn lại là thiết kế Trung tâm như thế nào để đầu tư hôm nay không trở thành gánh nặng của ngày mai. Điều đó đòi hỏi quy hoạch theo chuỗi giá trị, đầu tư theo giai đoạn, lựa chọn công nghệ phù hợp, kiểm soát môi trường, bảo đảm hiệu quả tài chính và đặc biệt phải có khả năng thích ứng với quá trình chuyển dịch năng lượng.

Vì vậy, việc lập Trung tâm Lọc hóa dầu và Năng lượng Quốc gia tại Dung Quất là cần thiết, nhưng mục tiêu không phải là tạo ra một tổ hợp có quy mô lớn nhất, mà là xây dựng một trung tâm có sức cạnh tranh, có liên kết và có khả năng phát triển bền vững. Đây cũng là cách để biến lợi thế sẵn có của Dung Quất thành một lợi thế mới của nền kinh tế - từ “hạt nhân lọc dầu” trở thành một cực công nghiệp - năng lượng có ý nghĩa quốc gia./.

HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM


Tài liệu tham khảo:

[1] Bộ Tài chính: “Công văn số 14362/BTC-DNNN ngày 14/9/2026 về việc xin ý kiến về cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển Trung tâm lọc hóa dầu và năng lượng quốc gia tại Khu kinh tế Dung Quất theo đề xuất của UBND tỉnh Quảng Ngãi” - 14/9/2026.

[2] Chính phủ: “Thủ tướng: Phát triển Trung tâm Lọc hóa dầu và năng lượng quốc gia tại Dung Quất”. Báo Điện tử Chính phủ, 3/4/2026.

[3] Chính phủ: “Khẩn trương hoàn thiện đề xuất cơ chế, chính sách phát triển Trung tâm lọc hóa dầu và năng lượng quốc gia tại Dung Quất” - Báo Điện tử Chính phủ, 5/8/2026.

[4] TTXVN: “Thống nhất đề xuất 12 nhóm cơ chế đặc biệt cho Trung tâm lọc hóa dầu và năng lượng quốc gia” - Báo Tin tức, 11/9/2026.

[5] UBND tỉnh Quảng Ngãi/Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất và các KCN Quảng Ngãi: “Cần khoảng 16,1–20,5 tỷ USD đầu tư các dự án tiềm năng của Trung tâm Lọc hóa dầu và Năng lượng quốc gia tại Dung Quất” - Cổng thông tin Khu kinh tế Dung Quất, 2024.

[6] Chính phủ: “Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/8/2026” - Báo Điện tử Chính phủ, 19/8/2026.

Có thể bạn quan tâm

Các bài đã đăng

[Xem thêm]
Phiên bản di động