RSS Feed for Sau mưa tháng 9/2026, tích nước thế nào để chủ động nguồn điện cho mùa khô năm 2027? | Tạp chí Năng lượng Việt Nam Thứ sáu 18/09/2026 07:44
TRANG TTĐT CỦA TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Sau mưa tháng 9/2026, tích nước thế nào để chủ động nguồn điện cho mùa khô năm 2027?

 - Đợt mưa lớn kéo dài trong tháng 9/2026 đang đặt hệ thống hồ chứa thủy điện trước hai yêu cầu tưởng như trái chiều: Bảo đảm an toàn công trình, hạ du trong thời gian lũ và nhanh chóng chuyển sang tích nước khi điều kiện cho phép. Trong bối cảnh El Niño được dự báo có cường độ rất mạnh vào cuối năm 2026 và tiếp tục ảnh hưởng sang đầu năm 2027, bài toán đặt ra không phải là tích nước bằng mọi giá, mà là “xả an toàn - tích chủ động - phát điện có chọn lọc”, trên cơ sở dữ liệu khí tượng, thủy văn và nhu cầu của hệ thống điện.
El Niño 2026-2027 với cường độ rất mạnh và bài toán tích nước chủ động, xả an toàn, phát điện có chọn lọc El Niño 2026-2027 với cường độ rất mạnh và bài toán tích nước chủ động, xả an toàn, phát điện có chọn lọc

Bài học từ bão Yagi tháng 9/2024 cho thấy đầu tháng 9/2026 chưa thể mặc nhiên coi là thời điểm kết thúc mùa lũ. Vì vậy, chiến lược phù hợp cho năm nay là tích nước chủ động, xả theo yêu cầu an toàn và phát điện có chọn lọc, đặt trong một phương án tổng thể nhằm bảo đảm cung cấp điện cho mùa khô 2027.

Mưa lũ tháng 9 và một “khoảng chuyển” quan trọng:

Từ đầu tháng 9/2026, nhiều khu vực Bắc Bộ và Trung Bộ liên tục xuất hiện các đợt mưa lớn.

Theo báo cáo của cơ quan phòng, chống thiên tai: Từ 19h ngày 10/9 đến 7h ngày 16/9, khu vực trung du và đồng bằng Bắc Bộ có tổng lượng mưa phổ biến 150-300 mm; từ Hà Tĩnh đến Quảng Ngãi phổ biến 150-400 mm. Riêng Quảng Trị và Thành phố Huế có nơi 400-600 mm. Một số điểm có lượng mưa đặc biệt lớn như Tà Long 896 mm, La Tó 808 mm và đỉnh Bạch Mã 1.321 mm. Trong ngày và đêm 15-16/9, nhiều nơi ở Phú Thọ, Thanh Hóa, Nghệ An và đồng bằng Bắc Bộ tiếp tục có mưa từ 70-170 mm, cục bộ trên 250 mm. Nhiều sông ở Bắc Bộ và Thanh Hóa đã xuất hiện lũ, trong đó sông Bôi và sông Bưởi có thời điểm vượt báo động 3.

Đây trước hết là tình huống phải ưu tiên an toàn hồ đập, hạ du và tuân thủ nghiêm các quy trình vận hành hồ, liên hồ chứa. Trong các công điện ứng phó mưa lũ năm 2026, EVN cũng yêu cầu các đơn vị quản lý hồ chứa tuân thủ quy trình đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, kiểm tra hệ thống cảnh báo và thông báo sớm cho chính quyền, người dân vùng hạ du trước khi điều tiết, xả lũ. Nhưng sau đỉnh lũ luôn xuất hiện một “khoảng chuyển” rất quan trọng đối với hệ thống điện: Khi nào có thể chuyển từ ưu tiên tạo dung tích phòng lũ, sang chủ động tích nước cho giai đoạn tiếp theo? Đây là vấn đề cần được nhìn nhận sớm, nhất là khi mùa khô 2027 đang ở phía trước.

Nước về hồ đang cho thấy điều gì?

Số liệu quan trắc lúc 7h ngày 16/9/2026 cho thấy lượng nước về một số hồ lớn ở miền Bắc tăng rất mạnh. Sơn La có lưu lượng nước về 1.703 m³/s, Hòa Bình 4.057 m³/s, Tuyên Quang 431 m³/s và Thác Bà 260 m³/s.

Đáng chú ý, lượng nước xả xuống hạ lưu tại cùng thời điểm thấp hơn đáng kể so với lượng nước về ở một số hồ. Hòa Bình có lưu lượng nước về 4.057 m³/s, nhưng lưu lượng nước xả xuống hạ lưu 236 m³/s; Sơn La nước về 1.703 m³/s, nước xả xuống hạ lưu 870 m³/s. Tại Tuyên Quang và Thác Bà, báo cáo ghi nhận nước về lần lượt 431 m³/s và 260 m³/s, trong khi lưu lượng ra tại thời điểm 7h bằng 0.

Ở Bắc Trung Bộ, báo cáo cùng ngày ghi nhận hồ Chi Khê có lưu lượng về 734 m³/s, xả tràn 498 m³/s; hồ Hủa Na có nước về 570 m³/s và xả tràn 415 m³/s.

Tại miền Nam, hồ Trị An lúc 8h ngày 16/9 có nước về 1.260 m³/s, mực nước gần 59,3 m và tổng lưu lượng xả về hạ du 791 m³/s.

Những con số trên cho thấy một thực tế đáng chú ý: Sau những đợt mưa lớn, lưu lượng nước vào hồ có thể lớn hơn đáng kể lưu lượng nước xả xuống hạ lưu trong từng thời điểm quan trắc. Đây là cơ sở để theo dõi quá trình tích nước sau lũ, nhưng chưa thể dùng trực tiếp để kết luận lượng nước thực tế đã được tích trong hồ.

Bảng lưu lượng nước về hồ và xả xuống hạ lưu tại một số hồ thủy điện đại diện ngày 16/9/2026:

Khu vực

Hồ

MNC (m)

MNDBT (m)

Mực nước tại thời điểm báo cáo (m)

Cách MNDBT (m)

Lưu lượng nước về hồ (m³/s)

Lưu lượng nước xả xuống hạ lưu (m³/s)

Chênh lệch lưu lượngvào - ra (m³/s)

Miền Bắc

Sơn La

175

215

211,67

-3,33

1.703

870

+833

Hòa Bình

80

117

111,33

-5,67

4.057

236

+3.821

Tuyên Quang

90

120

116,60

-3,40

431

0

+431

Thác Bà

46

58

55,19

-2,81

260

0

+260

Bắc Trung Bộ

Hủa Na

215

240

-

-

570

415*

+155*

Miền Nam

Trị An

50

62

-59,3

-2,7

1.260

791**

+469

*Đối với thủy điện Hủa Na, báo cáo trực ban ghi “lưu lượng xả tràn/lưu lượng về hồ” là 415/570 m³/s; vì chưa có mực nước hồ trong cùng bảng nên không suy diễn vị trí mực nước tại thời điểm này.

** Nguồn số liệu Trị An lúc 8h ngày 16/9/2026 do Công ty Thủy điện Trị An cung cấp, gồm lưu lượng nước về 1.260 m³/s, mực nước gần 59,3 m và tổng lưu lượng xả xuống hạ lưu là 791 m³/s.

Số liệu trong bảng cho thấy hồ Hòa Bình là trường hợp đặc biệt đáng chú ý. Tại thời điểm 7h ngày 16/9, chênh lệch giữa lưu lượng nước về và xả ra khoảng 3.821 m³/s. Nếu chỉ lấy phép trừ tức thời này nhân với 24 giờ, thì dung tích tương đương tích lại trong hồ khoảng 330 triệu m³. Tuy nhiên, đây không phải là lượng nước đã được giữ lại hồ trong vòng 24 giờ, bởi lưu lượng nước vào hồ và ra thay đổi liên tục theo thời gian. Muốn xác định lượng nước tích thực tế phải tính theo chuỗi số liệu lưu lượng theo thời gian và đối chiếu với biến động mực nước, dung tích hồ. Đây là nguyên tắc cần được giữ chặt trong phân tích để tránh biến một số liệu tức thời thành kết luận quá mức.

Mực nước còn cách mực nước dâng bình thường bao xa?

Một thông tin khác rất đáng chú ý là dù lưu lượng nước về lớn, nhiều hồ vẫn chưa đạt mực nước dâng bình thường. Lúc 7h ngày 16/9, mực nước tại hồ thủy điện Sơn La là 211,67 m, thấp hơn mực nước dâng bình thường 215 m khoảng 3,33 m. Hồ Hòa Bình ở mức 111,33 m, thấp hơn mực nước dâng bình thường 117 m khoảng 5,67 m. Hồ Tuyên Quang ở mức 116,60 m, thấp hơn MNDBT 3,40 m; hồ Thác Bà 55,19 m, thấp hơn mực nước dâng bình thường 2,81 m. Đây là những khoảng cách có ý nghĩa đối với việc chuẩn bị nguồn nước cho các tháng tiếp theo.

Đáng chú ý hơn, mực nước tại hồ Hòa Bình trong 24 giờ từ 7h ngày 15/9 đến 7h ngày 16/9 tăng 1,21 m; tại hồ Sơn La tăng 0,15 m; hồ Tuyên Quang tăng 0,23 m và hồ Thác Bà tăng 0,09 m.

Như vậy, sau một đợt mưa lớn, điều cần quan tâm không chỉ là: Hồ có nhiều nước hay chưa? Mà là: Nước đang vào với tốc độ nào, mực nước đang tăng ra sao và hồ còn cách mực nước mục tiêu bao nhiêu? Đó chính là cơ sở để chuyển từ cách nhìn tĩnh, sang cách nhìn động trong điều hành hồ chứa.

Xả lũ và tích nước không phải hai nhiệm vụ đối lập:

Trong điều kiện bình thường, xả lũ và tích nước có thể được nhìn như hai trạng thái khác nhau. Nhưng trong thực tế vận hành hồ chứa, chúng là hai giai đoạn liên tiếp của một quá trình. Trong thời gian lũ, yêu cầu ưu tiên là bảo đảm an toàn công trình và hạ du, tuân thủ quy trình vận hành. Khi lũ giảm và điều kiện cho phép, yêu cầu lại chuyển sang tận dụng nguồn nước đến để nâng dần mực nước hồ, tạo nguồn cho phát điện và các nhu cầu sử dụng nước trong giai đoạn sau.

Vì vậy, vấn đề không phải là lựa chọn “xả, hay tích”, mà là xả đến đâu, trong thời điểm nào và chuyển sang tích nước khi nào.

Quy trình vận hành hồ chứa đã quy định các giới hạn và nguyên tắc cần tuân thủ. Điều cần tăng cường là chất lượng thông tin đầu vào và khả năng cập nhật phương thức vận hành theo diễn biến thực tế.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết đã phối hợp với Công ty Vận hành Hệ thống điện và Thị trường điện Quốc gia (NSMO) xây dựng phương thức huy động nguồn nước theo từng tuần, bám sát diễn biến thủy văn và phụ tải; đồng thời dành dung tích phù hợp cho phòng, chống lũ năm 2026. Trong mùa khô 2026, các hồ đã xả khoảng 3,4 tỷ m³ phục vụ gieo cấy, nhưng vẫn tiết kiệm khoảng 0,6 tỷ m³ so với kế hoạch để dành cho phát điện. Điều này cho thấy phương thức điều hành nguồn nước theo tuần, thay vì chỉ dựa vào một mốc kế hoạch cố định, đã trở thành một yêu cầu thực tế của vận hành hệ thống điện.

El Niño rất mạnh không có nghĩa là tích nước bằng mọi giá:

Bài toán mùa khô 2027 càng đáng lưu ý khi Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia nhận định: El Niño hiện đã ở ngưỡng rất mạnh. Trong thời kỳ tháng 10-12/2026, xác suất El Niño đạt cường độ rất mạnh được dự báo tới 98%; hiện tượng này tiếp tục duy trì trong tháng 1-3/2027, dù xác suất có xu hướng giảm. Tuy nhiên, không nên hiểu El Niño theo cách đơn giản rằng: Cứ El Niño là phải tích nước bằng mọi giá.

El Niño là một yếu tố khí hậu quy mô lớn, có thể ảnh hưởng đến chế độ mưa và dòng chảy trên nhiều khu vực, nhưng không thay thế được dự báo khí tượng, thủy văn tại từng lưu vực. Ngay trong tháng 9/2026, khi El Niño đang mạnh, Bắc Bộ và Trung Bộ vẫn xuất hiện những đợt mưa rất lớn. Vì vậy, El Niño nên được xem là một biến số quan trọng trong lập kế hoạch nguồn nước trung hạn, còn quyết định vận hành từng hồ vẫn phải dựa trên dự báo mưa, dòng chảy, mực nước, dung tích phòng lũ, yêu cầu hạ du và nhu cầu của hệ thống điện.

Nói cách khác, không thể vì lo mùa khô, mà tích nước khi còn nguy cơ lũ. Nhưng cũng không nên để một đợt nước lớn đi qua, mà chậm chuyển sang trạng thái tích nước khi các điều kiện an toàn đã cho phép.

Mực nước mục tiêu cần được nhìn theo “đường đi”, không chỉ một con số:

Trong điều hành hồ chứa, mực nước dâng bình thường là một thông số kỹ thuật quan trọng, nhưng không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với mục tiêu phải đạt ngay lập tức. Sau một đợt lũ, mực nước mục tiêu cần được xem xét trong mối quan hệ với ít nhất bốn yếu tố: Dự báo nước về, khả năng xuất hiện các đợt mưa tiếp theo, yêu cầu dung tích phòng lũ và nhu cầu phát điện của hệ thống. Có thể gọi đây là “mực nước mục tiêu động”.

Chẳng hạn, một hồ mà mực nước đang thấp hơn mực nước dâng bình thường vài mét, nhưng dòng chảy về lớn và dự báo mưa trong những ngày tới giảm có thể có điều kiện tích nước nhanh hơn. Ngược lại, một hồ mà mực nước đang ở gần mực nước dâng bình thường, nhưng phía trước còn nguy cơ xuất hiện lũ lớn, thì việc duy trì dung tích phòng lũ vẫn có thể quan trọng hơn việc tiếp tục nâng mực nước.

Do đó, con số cần theo dõi không chỉ là “hồ đang ở bao nhiêu mét”, mà là hồ đang ở đâu so với mực nước chết, mực nước dâng bình thường, giới hạn phòng lũ và mục tiêu phát điện của từng giai đoạn.

Bảng số liệu ngày 16/9/2026 cho thấy cách tiếp cận này có ý nghĩa rõ ràng. Hồ Sơn La còn cách mực nước dâng bình thường 3,33 m, hồ Hòa Bình 5,67 m, hồ Tuyên Quang 3,40 m và hồ Thác Bà 2,81 m. Đây không phải là những con số để đưa ra một yêu cầu vận hành cụ thể, nhưng là những chỉ báo cần được đưa vào bài toán tích nước ngay sau khi điều kiện lũ cho phép.

Chuỗi dữ liệu phải đi cùng nhau:

Một trong những yêu cầu quan trọng nhất đối với vận hành thủy điện trong điều kiện thời tiết ngày càng khó dự báo là kết nối tốt hơn ba nhóm dữ liệu: Khí tượng - thủy văn - hệ thống điện.

Dự báo mưa cho biết khả năng nước sẽ đến. Quan trắc lưu lượng và mực nước cho biết lưu lượng nước đang thực sự đến như thế nào. Còn nhu cầu phụ tải và phương thức vận hành hệ thống điện cho biết cần sử dụng nguồn nước vào thời điểm nào. Ba nhóm dữ liệu này nếu được cập nhật liên tục sẽ giúp người vận hành trả lời tốt hơn những câu hỏi rất cụ thể: Còn bao nhiêu dung tích phòng lũ; lượng nước đang về có xu hướng tăng, hay giảm; nếu tiếp tục tích trong vài ngày, thì mực nước sẽ thay đổi thế nào; khi nào cần phát điện; và nếu giữ nước hôm nay thì giá trị của lượng nước đó trong mùa khô 2027 là bao nhiêu? Đây cũng là hướng phù hợp với yêu cầu vận hành các hồ thủy điện chiến lược đa mục tiêu.

Quyết định 637/QĐ-TTg ngày 7/4/2026 đã xác định 9 nhà máy thủy điện chiến lược đa mục tiêu, trong đó có thủy điện Sơn La, Hòa Bình, Lai Châu, Tuyên Quang, Ialy và Trị An. Các hồ này không chỉ có nhiệm vụ phát điện. Chúng còn liên quan đến phòng, chống lũ, cấp nước và ổn định hệ thống điện. Vì vậy, giá trị của một mét khối nước không thể chỉ được tính bằng lượng điện có thể phát ra tại thời điểm hiện tại.

Mùa khô 2027 cần được chuẩn bị từ mùa mưa 2026:

Điểm đáng chú ý của năm 2026 là hệ thống điện bước vào giai đoạn nhu cầu phụ tải tăng, trong khi điều kiện khí hậu từ cuối năm 2026 sang đầu năm 2027 được dự báo có nhiều yếu tố bất lợi đối với nguồn nước. Trong bối cảnh đó, thủy điện cần được nhìn nhận như một nguồn năng lượng có khả năng điều chỉnh theo thời gian, chứ không đơn thuần là nguồn điện phụ thuộc vào lượng nước tự nhiên.

Giá trị lớn nhất của hồ chứa nằm ở khả năng dịch chuyển giá trị của nước theo thời gian. Một mét khối nước được giữ lại hợp lý sau mùa lũ có thể trở thành điện năng trong thời điểm hệ thống cần công suất cao vào mùa khô. Nhưng nếu giữ nước không đúng thời điểm, lại có thể làm giảm dung tích phòng lũ và tăng rủi ro cho hạ du.

Do đó, “tích nước” phải được hiểu là một quá trình có tính toán, chứ không phải một mục tiêu độc lập. Cũng không nên tách việc tích nước khỏi bài toán điều độ hệ thống. Nếu nhu cầu phụ tải tăng cao trong những thời điểm nhất định, thủy điện có thể có giá trị lớn về công suất điều chỉnh và hỗ trợ cân bằng hệ thống. Ngược lại, khi nguồn điện khác đáp ứng tốt phụ tải, nước có thể được dành lại cho thời điểm có giá trị hệ thống cao hơn. Đó chính là ý nghĩa của “phát điện có chọn lọc”.

Cần một cơ chế chuyển trạng thái rõ hơn sau lũ:

Từ thực tế tháng 9/2026, có thể xem xét một cơ chế vận hành theo hai bước:

Bước thứ nhất là ưu tiên tuyệt đối an toàn mùa lũ, tuân thủ quy trình vận hành hồ và liên hồ, duy trì dung tích phòng lũ phù hợp và bảo đảm an toàn hạ du.

Bước thứ hai bắt đầu ngay khi xu thế lũ đã qua và dự báo cho phép. Khi đó, cần nhanh chóng cập nhật lại mực nước, lượng nước về, dự báo dòng chảy, dự báo phụ tải và khả năng xuất hiện các đợt mưa tiếp theo để xác định phương thức tích nước cho từng hồ.

Điều quan trọng là bước chuyển này không nên chờ đến khi mùa khô bắt đầu mới thực hiện. Nếu đợi đến tháng 12 năm nay, hoặc tháng 1 năm sau mới đánh giá khả năng nguồn nước cho mùa khô, thì nhiều cơ hội tích nước có giá trị đã đi qua.

Mùa khô 2027, vì vậy, cần được chuẩn bị ngay từ mùa mưa 2026.

Không thay đổi định hướng, mà nâng chất lượng điều hành:

Nhìn từ các số liệu hiện có, chưa có cơ sở để cho rằng: Việc vận hành các hồ trong đợt mưa lũ tháng 9 là không phù hợp. Ngược lại, việc tuân thủ quy trình và ưu tiên an toàn hạ du vẫn phải là nguyên tắc xuyên suốt. Điều cần đặt ra ở đây là một vấn đề khác: Sau khi điều kiện lũ thay đổi, hệ thống có chuyển trạng thái vận hành đủ nhanh hay không? Câu trả lời phụ thuộc rất lớn vào chất lượng dự báo và khả năng kết nối dữ liệu giữa khí tượng, thủy văn, hồ chứa và hệ thống điện.

Thực tế vận hành năm 2026 cho thấy các hồ thủy điện lớn đã được yêu cầu tăng cường quan trắc, cảnh báo và phối hợp vận hành. Các công trình thủy điện trên bậc thang sông Đà cũng đã được đánh giá đủ điều kiện vận hành mùa lũ 2026; đồng thời tiếp tục theo dõi các vấn đề kỹ thuật liên quan đến an toàn công trình. Vì vậy, hướng đi phù hợp không phải là thay đổi các nguyên tắc vận hành đã được phê duyệt, mà là nâng chất lượng dữ liệu đầu vào, tăng khả năng cập nhật và rút ngắn thời gian chuyển từ trạng thái phòng lũ sang trạng thái tích nước.

Kết luận:

Mưa lũ tháng 9/2026 một lần nữa cho thấy giá trị của các hồ thủy điện điều tiết trong việc vừa bảo đảm an toàn hạ du, vừa tạo nguồn nước cho hệ thống điện. Nhưng sau mỗi đợt lũ, một bài toán khác lại xuất hiện: Làm thế nào để không bỏ lỡ cơ hội tích nước khi nguồn nước đang dồi dào, trong khi vẫn giữ đủ dư địa an toàn cho những diễn biến bất ngờ tiếp theo? Câu trả lời không nằm ở việc tích nước bằng mọi giá, cũng không nằm ở việc phát điện tối đa khi nước vừa về hồ. Cần một chuỗi điều hành liên tục: Dự báo trước - quan trắc thật - điều hành linh hoạt - tích nước chủ động - phát điện có chọn lọc.

Với triển vọng El Niño rất mạnh từ cuối năm 2026 sang đầu năm 2027, mỗi đợt nước lớn trong mùa mưa 2026 cần được nhìn không chỉ như một vấn đề phòng, chống lũ, mà còn là một cơ hội để chuẩn bị nguồn nước cho mùa khô. An toàn trong mùa lũ, chủ động tích nước sau lũ và dành đủ dư địa nguồn nước cho mùa khô 2027 - đó nên là mục tiêu xuyên suốt của vận hành các hồ thủy điện trong những tháng còn lại của năm 2026.

Đón đọc: Khi dự báo thời tiết trở thành dữ liệu của hệ thống điện Việt Nam

TS. NGUYỄN HUY HOẠCH - HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM


Tài liệu tham khảo:

1. Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia: “Bản tin dự báo, cảnh báo khí hậu thời hạn mùa trên phạm vi toàn quốc (từ tháng 10/2026-3/2027)” 15/9/2026.

2. Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai: “Báo cáo nhanh công tác trực ban phòng, chống thiên tai ngày 15/9/2026” - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cập nhật 16/9/2026.

3. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN): “EVN triển khai đồng bộ, linh hoạt các giải pháp vận hành thủy điện phục vụ cao điểm mùa khô 2026”.

4. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN): “Công điện số 4317/CĐ-EVN về việc chủ động ứng phó với mưa lớn, lũ, ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất, lốc, sét, mưa đá” - 24/7/2026.

5. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN): “5 công trình thủy điện trên bậc thang sông Đà đủ điều kiện vận hành mùa lũ 2026”.

6. Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 637/QĐ-TTg ngày 7/4/2026 về việc phê duyệt Danh mục các nhà máy thủy điện chiến lược đa mục tiêu.

7. Bộ Công Thương: Quyết định số 1157/QĐ-BCT ngày 23/4/2025 phê duyệt Quy trình vận hành hồ chứa thủy điện Trị An.

8. Công ty Thủy điện Trị An: Số liệu vận hành hồ Trị An ngày 16/9/2026.

9. TS. Nguyễn Huy Hoạch: “El Niño 2026-2027 với cường độ rất mạnh và bài toán tích nước chủ động, xả an toàn, phát điện có chọn lọc” - NangluongVietNam online 24/8/2026.

Có thể bạn quan tâm

Các bài đã đăng

[Xem thêm]
Phiên bản di động