RSS Feed for Đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia trong quá trình tái cấu trúc EVN theo tinh thần Nghị quyết 79 của Bộ Chính trị | Tạp chí Năng lượng Việt Nam Thứ sáu 18/09/2026 17:20
TRANG TTĐT CỦA TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia trong quá trình tái cấu trúc EVN theo tinh thần Nghị quyết 79 của Bộ Chính trị

 - Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cần mạnh hơn trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, nhưng điều đó không nhất thiết đồng nghĩa EVN phải làm nhiều hơn, hoặc sở hữu nhiều hơn. Vấn đề quan trọng hơn là xác định EVN cần mạnh ở những năng lực nào để vừa sử dụng hiệu quả nguồn lực nhà nước, vừa góp phần bảo đảm hệ thống điện quốc gia vận hành an toàn trước những biến động ngày càng khó dự báo.
Ngành điện Việt Nam nên được tái cơ cấu theo hướng nào? Ngành điện Việt Nam nên được tái cơ cấu theo hướng nào?

Trong hơn 3 thập niên qua, mô hình phát triển tập trung với vai trò nòng cốt của EVN đã góp phần quan trọng đưa Việt Nam từ một quốc gia thường xuyên thiếu điện trở thành quốc gia có hệ thống điện hàng đầu Đông Nam Á. Tuy nhiên, khi thị trường điện từng bước hình thành, chuyển dịch năng lượng tăng tốc và nhu cầu huy động nguồn lực xã hội cho đầu tư điện ngày càng lớn, cấu trúc ngành điện cũng đứng trước yêu cầu phải thay đổi. Vì vậy, tái cơ cấu EVN không nên được nhìn nhận như câu chuyện của riêng một doanh nghiệp, mà là một phần trong quá trình chuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới của ngành điện Việt Nam.

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước tiếp tục khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; đồng thời yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, xây dựng doanh nghiệp nhà nước lớn, hiện đại, có năng lực cạnh tranh và dẫn dắt trong những ngành, lĩnh vực then chốt [1].

Trước đó, Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 đặt yêu cầu bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 [2].

Đặt hai nghị quyết trong mối quan hệ với quá trình tái cấu trúc EVN cho thấy một vấn đề cần được tiếp cận mới: Tái cấu trúc EVN không nên chủ yếu là sắp xếp lại tổ chức, sở hữu và đầu mối doanh nghiệp, mà phải hướng tới tái cấu trúc những năng lực chiến lược cần thiết để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

I. TÁI ĐỊNH VỊ EVN TRONG KIẾN TRÚC AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA:

Nghị quyết 79-NQ/TW nhìn nhận kinh tế nhà nước trong phạm vi rộng hơn doanh nghiệp nhà nước, bao gồm tổng thể các nguồn lực kinh tế do nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển, ổn định kinh tế vĩ mô, quốc phòng, an ninh và xử lý những yêu cầu đột xuất, cấp bách [1]. Theo cách tiếp cận này, EVN không chỉ là một doanh nghiệp kinh doanh điện. Những hạ tầng và năng lực Tập đoàn đang quản lý có quan hệ trực tiếp với hoạt động của nền kinh tế, đời sống xã hội và nhiều hạ tầng thiết yếu khác.

Tuy nhiên, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không đồng nghĩa doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện mọi hoạt động của thị trường. Nghị quyết 79 đồng thời yêu cầu nâng cao hiệu quả nguồn lực, quản trị hiện đại và bảo đảm cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế [1]. Vì vậy, EVN mạnh không nhất thiết là EVN sở hữu nhiều hơn. Quan trọng hơn là EVN phải mạnh đúng những năng lực nhà nước cần để bảo đảm an toàn hệ thống điện.

Quan điểm này phù hợp với Nghị quyết 70-NQ/TW, trong đó vừa đặt yêu cầu phát triển thị trường năng lượng cạnh tranh, minh bạch, vừa xác định những hạ tầng năng lượng chiến lược nhà nước cần kiểm soát [2]. Luật Điện lực (năm 2024) tạo khuôn khổ pháp lý mới cho phát triển thị trường điện cạnh tranh và huy động nhiều thành phần kinh tế tham gia đầu tư [3]. Chương trình hành động của Chính phủ tại Nghị quyết số 328/NQ-CP ngày 13/10/2025 tiếp tục cụ thể hóa các nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết 70-NQ/TW [5]. Trong bối cảnh đó, tài liệu chuyên đề EVN công bố tháng 3/2026 cho thấy việc sắp xếp, cơ cấu lại doanh nghiệp đang được đặt trong yêu cầu đồng thời nâng cao năng lực quản trị, hiệu quả hoạt động và thích ứng với mô hình thị trường điện mới [6].

Nghị quyết 70 đặt mục tiêu đến năm 2030 tổng công suất các nguồn điện khoảng 183-236 GW (hoặc cao hơn tùy nhu cầu); tổng sản lượng điện khoảng 560-624 tỷ kWh; đồng thời yêu cầu đáp ứng tiêu chí an toàn N-1 đối với vùng phụ tải quan trọng và N-2 đối với vùng phụ tải đặc biệt quan trọng [2]. Điều này cho thấy an ninh điện không chỉ là “đủ điện”, mà còn bao gồm khả năng duy trì vận hành khi hệ thống gặp sự cố.

Có thể khái quát: Đủ nguồn → an toàn → dự phòng → linh hoạt → chống chịu → phục hồi.

EVN giữ vai trò quan trọng, chủ chốt ở nhiều khâu của hệ thống điện, nhưng an ninh cung ứng điện là kết quả hoạt động của cả hệ thống gồm nhà nước, EVN, Công ty TNHH MTV Vận hành Hệ thống điện và Thị trường điện Quốc gia (NSMO), các doanh nghiệp phát điện, truyền tải, phân phối, doanh nghiệp cung ứng nhiên liệu và các nhà đầu tư khác. Vì vậy, tái cấu trúc EVN phải được đặt trong tổng thể phát triển ngành điện, thị trường điện và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

II. NHỮNG SỨC ÉP MỚI ĐỐI VỚI EVN VÀ HỆ THỐNG ĐIỆN:

1. Phụ tải tăng nhanh và sức ép tại thời điểm cực đại:

Sáu tháng đầu năm 2026, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt 171,54 tỷ kWh, tăng 9,85% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đợt nắng nóng cuối tháng 6, công suất cực đại đạt 57.537 MW [8].

Điều đáng chú ý là một hệ thống có thể đủ điện xét theo tổng sản lượng năm, nhưng vẫn căng thẳng trong những giờ cực đại, nếu công suất khả dụng, truyền tải và dự phòng không đáp ứng kịp. Vì vậy, bên cạnh phát triển nguồn cần nâng cao năng lực dự báo phụ tải, dự phòng công suất, nguồn điện linh hoạt, lưu trữ điện và điều chỉnh phụ tải.

2. An ninh điện ngày càng phụ thuộc an ninh nhiên liệu:

Sáu tháng đầu năm 2026, nhiệt điện than chiếm khoảng 54,5% sản lượng huy động, thủy điện 21%, năng lượng tái tạo 12,9%, tua bin khí 8% và điện nhập khẩu khoảng 3,5% [8].

Khi hệ thống còn phụ thuộc đáng kể vào than, khí và các nguồn nhiên liệu có yếu tố nhập khẩu, biến động địa chính trị, giá nhiên liệu hoặc gián đoạn chuỗi cung ứng và vận chuyển có thể tác động trực tiếp tới cung ứng điện. Do đó, an ninh điện, an ninh nhiên liệu và an ninh chuỗi cung ứng phải được xem xét trong một chỉnh thể thống nhất.

3. Nguồn - lưới - vốn đầu tư phải phát triển đồng bộ:

Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII đặt ra nhu cầu đầu tư rất lớn đối với nguồn và lưới điện đến năm 2030 [4]. Sự phát triển nhanh của điện gió, điện mặt trời càng làm bài toán nguồn - lưới phức tạp. Bởi nguồn điện thường phân bố xa trung tâm phụ tải và biến động theo thời tiết. Có nguồn, nhưng không giải tỏa được công suất thì chưa thể coi là bảo đảm an ninh cung ứng. Vì vậy, truyền tải, lưu trữ và điều độ phải phát triển đồng bộ với nguồn điện.

Bài toán này đồng thời đặt sức ép lớn lên năng lực tài chính. Năm 2025, EVN giải ngân đầu tư xây dựng khoảng 125.778 tỷ đồng, tăng 14,7% so với năm 2024 [7], nhưng khối lượng đầu tư những năm tới còn rất lớn. Khả năng huy động vốn dài hạn vì thế trở thành một biến số quan trọng của an ninh năng lượng.

4. Rủi ro mới đòi hỏi khả năng chống chịu:

Bão Yagi năm 2024 từng làm hơn 5,7 triệu khách hàng bị ảnh hưởng; đến sáng 9/9/2024, khoảng 4,2 triệu khách hàng đã được khôi phục cấp điện, đạt 73,7% (theo thông tin chính thức của EVN). Trường hợp này cho thấy an ninh điện không chỉ được đo bằng khả năng phòng ngừa sự cố, mà còn bằng khả năng duy trì các phụ tải thiết yếu và tốc độ phục hồi sau sự cố.

Cùng với thiên tai là rủi ro trên không gian số. Hệ thống điện ngày càng phụ thuộc vào hệ thống giám sát, điều khiển và thu thập dữ liệu (SCADA), công nghệ vận hành (OT) và hệ thống điều khiển công nghiệp (ICS). Vì vậy, an ninh mạng trong ngành điện phải được coi là một bộ phận của an ninh vận hành.

III. TỪ TÁI CẤU TRÚC TỔ CHỨC, ĐẾN TÁI CẤU TRÚC NĂNG LỰC:

Câu hỏi quan trọng nhất không nên bắt đầu từ việc EVN cần có bao nhiêu đơn vị thành viên, mà là: Nhà nước cần EVN có những năng lực nào để hệ thống điện quốc gia vẫn vận hành an toàn khi xảy ra các cú sốc lớn? Từ yêu cầu đó, có 5 năng lực cần được ưu tiên trong quá trình tái cấu trúc.

Thứ nhất: Năng lực đầu tư hạ tầng chiến lược.

EVN cần tập trung nguồn lực vào những công trình có ý nghĩa hệ thống, thời gian đầu tư dài và thị trường khó tự bảo đảm. Ngược lại, đối với những lĩnh vực mà khu vực tư nhân có thể đầu tư hiệu quả, cần mở rộng huy động nguồn lực xã hội, tránh phân tán nguồn lực của Tập đoàn.

Thứ hai: Năng lực tài chính và huy động vốn dài hạn.

Khó khăn tài chính ở hiện tại có thể chưa gây thiếu điện ngay, nhưng có thể làm chậm đầu tư nguồn và lưới, tạo ra rủi ro thiếu điện có độ trễ trong những năm tiếp theo. Vì vậy, cần nhìn nhận đầy đủ chuỗi quan hệ: Giá điện → tài chính → huy động vốn → đầu tư → an ninh cung ứng.

Điều này không có nghĩa mọi chi phí đều được tự động chuyển vào giá điện. Minh bạch chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và kiểm soát đầu tư vẫn phải là yêu cầu tiên quyết. Nhưng cơ chế giá cũng cần tạo điều kiện duy trì khả năng tái đầu tư dài hạn của hệ thống.

Thứ ba: Năng lực hoạt động trong hệ thống điện đa chủ thể.

Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia (A0) đã được tách khỏi EVN thành Công ty TNHH MTV Vận hành Hệ thống điện và Thị trường điện Quốc gia (NSMO) thuộc Bộ Công Thương; ngày càng nhiều doanh nghiệp ngoài EVN tham gia đầu tư và phát điện. EVN mạnh trong tương lai, vì thế không nên được đo chủ yếu bằng tỷ lệ công suất nguồn do Tập đoàn sở hữu, mà bằng khả năng giữ vững những hạ tầng cốt lõi được giao, thực hiện đầu tư chiến lược và phối hợp hiệu quả với các chủ thể khác.

Đây là sự chuyển dịch - từ tư duy quản trị một doanh nghiệp điện lực tương đối khép kín, sang hoạt động và dẫn dắt trong một hệ sinh thái điện lực đa chủ thể.

Thứ tư: Năng lực chống chịu và phục hồi.

Sự cố chia tách hệ thống điện đồng bộ châu Âu năm 2021 cho thấy vai trò của bảo vệ tự động, dự phòng và phối hợp giữa các đơn vị vận hành trong hạn chế sự cố lan truyền [9]. Cuộc khủng hoảng điện tại bang Texas (Hoa Kỳ) trong đợt giá lạnh cực đoan tháng 2/2021 cho thấy thời tiết khắc nghiệt, nguồn điện mất khả dụng và gián đoạn cung ứng nhiên liệu có thể cộng hưởng, làm gia tăng nghiêm trọng rủi ro hệ thống [10].

Hai trường hợp trên không được sử dụng để suy diễn rằng: Việt Nam sẽ xảy ra sự cố tương tự, mà để chỉ ra một nguyên lý: Rủi ro đối với hệ thống điện ngày càng có tính liên thông. Khi nhiều yếu tố bất lợi xảy ra đồng thời, những sự cố ban đầu có thể cộng hưởng và tạo ra hậu quả lớn hơn nhiều so với từng rủi ro riêng lẻ.

Do đó, EVN cần củng cố chu trình: Dự báo → phòng ngừa → dự phòng → cô lập → phục hồi → nâng cấp.

Thứ năm: Năng lực công nghệ, dữ liệu và an ninh mạng.

Chuyển đổi số phải đi cùng bảo vệ dữ liệu vận hành, hệ thống công nghệ thông tin (IT), công nghệ vận hành (OT), hệ thống điều khiển công nghiệp (ICS) và hệ thống giám sát, điều khiển và thu thập dữ liệu (SCADA). Dữ liệu về nguồn điện, lưới điện, phụ tải và trạng thái vận hành cần được nhìn nhận - vừa là nguồn lực phục vụ quản trị, vừa là tài sản có ý nghĩa đối với an ninh hệ thống.

Nguyên tắc cần được giữ vững là: Chuyển đổi số phải làm hệ thống điện thông minh hơn, nhưng không được làm hệ thống trở nên mong manh hơn.

Từ 5 năng lực trên, có thể xác lập 4 định hướng đối với tái cấu trúc EVN là GIỮ - MỞ - TÁCH - PHỐI HỢP:

GIỮ quyền kiểm soát chiến lược đối với những năng lực và hạ tầng mà nếu bị gián đoạn, hoặc mất khả năng chi phối có thể tạo ra rủi ro cho toàn hệ thống.

MỞ những lĩnh vực cạnh tranh mà khu vực tư nhân có khả năng huy động vốn, công nghệ và quản trị hiệu quả, như nhiều loại nguồn điện, năng lượng tái tạo, hệ thống lưu trữ và dịch vụ năng lượng.

TÁCH những chức năng cần tính độc lập và minh bạch. Việc vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia thông qua NSMO là một ví dụ. Tuy nhiên, tách về tổ chức không đồng nghĩa tách rời về trách nhiệm phối hợp.

PHỐI HỢP rõ trách nhiệm giữa cơ quan quản lý nhà nước, NSMO, EVN, Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT), các doanh nghiệp phát điện, doanh nghiệp cung ứng nhiên liệu, nhà đầu tư và các chủ thể liên quan.

Có thể khái quát về phân công chức năng: Nhà nước định hướng - NSMO điều độ - EVN giữ trụ cột - thị trường huy động nguồn lực.

Đây là cách khái quát chức năng chủ yếu, không hàm ý thu hẹp vai trò của các cơ quan quản lý, doanh nghiệp năng lượng khác và chính quyền địa phương trong bảo đảm an ninh năng lượng.

Tái cấu trúc cũng đòi hỏi thay đổi thước đo. Bên cạnh doanh thu, lợi nhuận, năng suất và hiệu quả sử dụng vốn, cần đánh giá biên dự phòng, khả năng đáp ứng phụ tải cực đại, mức đáp ứng tiêu chí an toàn N-1/N-2 phù hợp, độ tin cậy cung cấp điện, tiến độ nguồn - lưới, khả năng huy động vốn, an ninh số và thời gian phục hồi sau sự cố.

Câu hỏi sau tái cấu trúc vì thế không chỉ là “EVN có hiệu quả hơn không?”, mà còn phải trả lời “hệ thống điện quốc gia có an toàn, linh hoạt và chống chịu tốt hơn không?”

IV. NĂM KIẾN NGHỊ GẮN TÁI CẤU TRÚC EVN VỚI BẢO ĐẢM AN NINH NĂNG LƯỢNG:

1. Xác định rõ những năng lực chiến lược nhà nước cần EVN duy trì.

Điểm xuất phát của tái cấu trúc nên là bản đồ năng lực chiến lược, thay vì trước hết là danh mục doanh nghiệp cần giữ, tách, chuyển giao, hay sáp nhập. Cần xác định rõ năng lực nào nếu suy yếu sẽ tác động đến an ninh hệ thống; hạ tầng nào nhà nước cần duy trì quyền kiểm soát; hoạt động nào có thể mở rộng cạnh tranh mà không tạo ra rủi ro hệ thống.

Nói cách khác, cần chuyển từ câu hỏi “Nhà nước sở hữu bao nhiêu?” sang “Nhà nước cần kiểm soát được những năng lực chiến lược nào?”

2. Tái cấu trúc tài chính EVN đồng bộ với cơ chế giá điện và đầu tư.

Cần tiếp tục minh bạch chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kiểm soát đầu tư và từng bước hoàn thiện cơ chế giá điện theo tín hiệu thị trường; đồng thời có chính sách hỗ trợ trực tiếp, đúng đối tượng đối với những nhóm cần được bảo vệ.

Mục tiêu là hình thành vòng tuần hoàn: Hiệu quả quản trị → tài chính lành mạnh → huy động được vốn → đầu tư đúng tiến độ → cung ứng điện an toàn.

3. Đồng bộ tái cấu trúc EVN với hoàn thiện thị trường điện cạnh tranh.

Không nên đặt một EVN mạnh đối lập với thị trường cạnh tranh. Một EVN mạnh trong mô hình mới phải đủ năng lực giữ những trụ cột chiến lược; đồng thời hoạt động minh bạch trong thị trường và tạo điều kiện để nguồn lực ngoài nhà nước tham gia hiệu quả.

Luật Điện lực (năm 2024) đã tạo khuôn khổ pháp lý mới cho phát triển thị trường điện cạnh tranh [3]. Quá trình triển khai cần tiếp tục làm rõ trách nhiệm cân bằng hệ thống, dịch vụ phụ trợ, dự phòng, mua bán điện và trách nhiệm bảo đảm cung ứng trong những tình huống thị trường không tự cân bằng được.

4. Đưa khả năng chống chịu, chuyển đổi số và an ninh mạng thành cấu phần chính thức của tái cấu trúc.

Đối với những hạ tầng quan trọng, cần định kỳ thực hiện kiểm tra sức chịu đựng (stress-test) theo các tình huống phụ tải cực đoan, thiếu nhiên liệu, sự cố truyền tải, thiên tai, tấn công mạng, hoặc nhiều yếu tố xảy ra đồng thời.

Mục đích không phải dự báo chính xác sự cố nào sẽ xảy ra, mà phát hiện trước những điểm mà hệ thống có thể mất khả năng kiểm soát khi điều kiện vận hành vượt khỏi trạng thái bình thường.

Đối với công nghệ vận hành và hệ thống điều khiển công nghiệp (OT/ICS), cần có yêu cầu an ninh phù hợp, kiểm soát chuỗi cung ứng phần cứng, phần mềm, duy trì hệ thống dự phòng và thường xuyên diễn tập các tình huống sự cố.

5. Nghiên cứu thiết lập “Đánh giá tác động an ninh năng lượng” đối với những thay đổi cơ cấu lớn. (Đây là đề xuất của bài viết, không phải thủ tục pháp lý hiện hành).

Trước những quyết định lớn về tách đơn vị, chuyển giao tài sản, thay đổi sở hữu, cổ phần hóa, hoặc thay đổi chức năng, cần đánh giá tác động đến khả năng cung ứng điện, đầu tư, tài chính, phối hợp vận hành, công nghệ, dữ liệu và khả năng phục hồi. Cơ chế này cần được thiết kế gọn, dựa trên rủi ro và chỉ tiêu định lượng, tránh tạo thêm thủ tục hành chính không cần thiết.

Cùng với đó, kết quả tái cấu trúc phải được kiểm chứng theo chu kỳ bằng số liệu. Tái cấu trúc không nên là một lần sắp xếp rồi kết thúc, mà phải là quá trình: Thiết kế → thực hiện → đo lường → kiểm chứng → điều chỉnh.

KẾT LUẬN:

Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 70-NQ/TW tạo cơ sở để nhìn nhận tái cấu trúc EVN trong một không gian rộng hơn câu chuyện sắp xếp doanh nghiệp - đó là mối quan hệ giữa vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, hiệu quả của thị trường và yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Trong một hệ thống điện ngày càng lớn, số hóa và phụ thuộc lẫn nhau, an ninh năng lượng không chỉ cần thêm công suất, mà cần đủ nguồn, đủ lưới, có dự phòng, vận hành an toàn, linh hoạt trước biến động và có khả năng phục hồi nhanh sau sự cố.

Vì vậy, thành công của tái cấu trúc EVN không nên được đo chủ yếu bằng việc Tập đoàn lớn hơn, hay nhỏ hơn, giữ thêm, hay tách bớt bao nhiêu doanh nghiệp. Thước đo quan trọng hơn là EVN có mạnh hơn ở những năng lực chiến lược mà đất nước cần hay không và hệ thống điện sau tái cấu trúc có an toàn, hiệu quả, linh hoạt và chống chịu tốt hơn hay không.

EVN mạnh trong giai đoạn mới không nhất thiết là tập đoàn làm tất cả. Đó phải là tập đoàn đủ năng lực giữ vững những trụ cột chiến lược được giao, đầu tư vào những hạ tầng có ý nghĩa hệ thống, quản trị hiệu quả nguồn lực nhà nước, hoạt động minh bạch trong thị trường điện cạnh tranh và có khả năng kết nối các nguồn lực xã hội.

Tái cấu trúc vì thế không nên hướng tới một EVN làm nhiều hơn, mà hướng tới một EVN mạnh hơn ở những năng lực đất nước thực sự cần. Khi nhà nước kiểm soát được rủi ro hệ thống, EVN giữ vững các trụ cột chiến lược và thị trường huy động hiệu quả nguồn lực xã hội, tái cấu trúc doanh nghiệp mới thực sự chuyển hóa thành năng lực bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia./.

PGS, TS. ĐỒNG ĐẠI LỘC - GIẢNG VIÊN CAO CẤP VIỆN AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI)


Tái liệu tham khảo:

[1] Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước.

[2] Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

[3] Quốc hội (2024), Luật Điện lực số 61/2024/QH15 ngày 30/11/2024.

[4] Thủ tướng Chính phủ (2025), Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.

[5] Chính phủ (2025), Nghị quyết số 328/NQ-CP ngày 13/10/2025 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

[6] Tập đoàn Điện lực Việt Nam (2026), Tài liệu sinh hoạt chuyên đề: Quản trị doanh nghiệp minh bạch, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả gắn với sắp xếp, cơ cấu lại doanh nghiệp và cổ phần hóa, công bố ngày 04/3/2026.

[7] Tập đoàn Điện lực Việt Nam (2025), Năm 2025: EVN vững vàng vượt khó, tạo sức bật phát triển bền vững, công bố ngày 29/12/2025.

[8] Tập đoàn Điện lực Việt Nam (2026), Tình hình hoạt động 6 tháng đầu năm 2026; mục tiêu, nhiệm vụ công tác 6 tháng cuối năm 2026, công bố ngày 07/7/2026.

[9] European Network of Transmission System Operators for Electricity - ENTSO-E (2021), Continental Europe Synchronous Area Separation on 08 January 2021 - ICS Final Report (Báo cáo cuối cùng về sự cố chia tách khu vực đồng bộ điện châu Âu ngày 8/1/2021), tháng 7/2021.

[10] Federal Energy Regulatory Commission - FERC, North American Electric Reliability Corporation - NERC and Regional Entity Staff (2021), The February 2021 Cold Weather Outages in Texas and the South Central United States (Báo cáo cuối cùng về sự cố điện do thời tiết giá lạnh tháng 2/2021 tại Texas và khu vực Nam Trung bộ Hoa Kỳ).

[11] Tạp chí Năng lượng Việt Nam: Ngành điện Việt Nam nên được tái cơ cấu theo hướng nào? - ngày 19/8/2026.

Có thể bạn quan tâm

Các bài đã đăng

[Xem thêm]
Phiên bản di động