Lùi Net Zero sau năm 2050 - Phân tích các khía cạnh kinh tế, công nghệ trong bối cảnh Việt Nam
06:13 | 07/05/2026
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế “hai con số” và duy trì ổn định vĩ mô trong giai đoạn 2026-2030, hạ tầng năng lượng nổi lên như một trụ cột quyết định. Thông điệp của Chính phủ (nhiệm kỳ 2026-2031) về yêu cầu “không để thiếu điện trong bất cứ tình huống nào” không chỉ là cam kết đầu tư và vận hành hệ thống điện, mà phản ánh một chuyển dịch tư duy sâu sắc - từ bảo đảm đủ điện, sang bảo đảm an ninh năng lượng toàn diện. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, hệ thống năng lượng quốc gia cần vượt qua nhiều điểm nghẽn về thể chế, đầu tư và công nghệ… Bài viết sau đây của Hội đồng khoa học Tạp chí Năng lượng Việt Nam phân tích bối cảnh chính sách, nhận diện các thách thức cốt lõi và gợi ý một số giải pháp ban đầu với Chính phủ mới nhằm hoàn thiện hạ tầng năng lượng, phục vụ mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững. |
Cơ sở dẫn đến Việt Nam cam kết Net Zero 2050:
Việt Nam có chuẩn bị thăm dò một số đối tác trước khi đưa ra cam kết Net Zero 2050 tại Hội nghị Các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu lần thứ 26 (COP26) tổ chức ở Glasgow từ 31/10-12/11/2021.
Liên minh châu Âu (EU), Hoa Kỳ và các nước đã phát triển trong Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) đã lên tiếng cam kết Net Zero 2050 trước hội nghị khá lâu. Cơ sở của họ là các ràng buộc cắt giảm phát thải khí nhà kính đối với các nước phát triển trong Hiệp định Paris về Biến đổi khí hậu ký năm 2015. Sau này, Hoa Kỳ đã hai lần rút khỏi Hiệp định Paris - đồng nghĩa với việc rũ bỏ tất cả cam kết Net Zero (một lần vào năm 2020 và lần sau vào đầu năm 2025) vẫn còn hiệu lực đến ngày nay.
Việc Hoa Kỳ - quốc gia có phát thải khí nhà kính lũy kế lớn nhất thế giới rút khỏi Hiệp định Paris, cho thấy thực hiện các cam kết giảm phát thải không hề đơn giản, thậm chí rất tốn kém và có thể gây thiệt hại cho nền kinh tế mạnh nhất thế giới. Hoa Kỳ lo sợ làm chậm tốc độ phát triển sẽ bị Trung Quốc vượt qua về kinh tế. Ngay cả nếu Hoa Kỳ quay trở lại Hiệp định Paris vào năm 2029, thì cũng quá muộn để quốc gia này có thể đạt Net Zero vào năm 2050.
Trung Quốc - quốc gia có phát thải khí nhà kính hàng năm hiện tại lớn nhất thế giới lại được hưởng sự ưu đãi dành cho các nước đang phát triển, nên không bị ràng buộc phải cam kết Net Zero vào năm 2050.
Xét thực lực và khả năng công nghệ của mình, tháng 9/2021, Trung Quốc đã đưa ra cam kết đạt Net Zero vào năm 2060. Xét về tiềm năng công nghệ (như điện hạt nhân, thủy điện, năng lượng tái tạo), Trung Quốc là nước có đủ năng lực để tiến tới gần Net Zero một cách vững chắc. Về mặt ngoại giao, Trung Quốc hiểu Hoa Kỳ bỏ chính sách Khí hậu gần như là sự chuyển giao quyền lực Khí hậu cho EU và Trung Quốc.
Một nước có tiềm năng lớn nhất thế giới về chuyển đổi năng lượng, với diện tích rừng đủ để bán chứng chỉ carbon cho toàn thế giới là Liên bang Nga cũng chỉ đưa ra mục tiêu Net Zero khiêm tốn vào năm 2060. Nga đã khôn khéo đưa ra cam kết 2060 vào ngày 13/10/2021 (trước Hội nghị COP26) để cảnh báo cho các nước còn đang do dự khi đến Hội nghị COP26.
Cùng ở mức phát triển tương đương Việt Nam, nhưng sở hữu nguồn than lớn, Indonesia cũng sớm đưa ra cam kết Net Zero vào năm 2060 khi ra mắt báo cáo “Indonesia Chiến lược dài hạn cho carbon thấp và chống chịu Khí hậu năm 2050” vào tháng 7/2021.
Như vậy, trước khi đến COP26, một số nước đã cân nhắc kỹ và đưa ra tuyên bố Net Zero sau 2050, mặc dù được khuyến cáo và áp lực của các nước đã phát triển thúc giục phải cam kết Net Zero vào 2050.
Tại COP26, Ấn Độ không ngần ngại đưa ra mục tiêu 2070 bất chấp áp lực các nước giàu, vì họ thực sự hiểu tình trạng phụ thuộc vào than đá và năng lượng hóa thạch của đất nước đông dân nhất thế giới, dù đang phát triển tốt năng lượng hạt nhân. Tuy nhiên, họ chỉ công bố tại COP26.
Ngay tại COP26, Ấn Độ đã đấu tranh không mệt mỏi (kéo dài thêm một ngày và tranh luận đến đêm khuya) cùng với Trung Quốc để tuyên bố của Hội nghị phải chuyển câu “từ bỏ than”, thành “giảm bớt than”. Ấn Độ đã không chỉ đấu tranh cho riêng mình, mà đại diện cho các nước đang phát triển không muốn bị tước bỏ quyền được phát triển dựa trên nguồn tài nguyên trong nước.
Trong ngày đầu Hội nghị COP26, đa số các nước đang phát triển không đưa ra cam kết cụ thể nào về thời hạn Net Zero. Riêng Thái Lan có cam kết thời hạn 2050, nhưng với ràng buộc là “nếu được các nước phát triển tài trợ”.
Cho đến nay, vẫn chưa rõ nghiên cứu nào đưa Việt Nam tuyên bố cam kết Net Zero vào năm 2050 tại COP26? Vì xét về tiềm lực chuyển đổi năng lượng, chúng ta không thể so sánh với Nga, hay Trung Quốc.
Xét về độ sẵn sàng, năm 2021 Việt Nam chưa hề chuẩn bị cho cuộc chuyển dịch năng lượng, tuy công suất đặt điện gió và mặt trời năm 2021 rất cao so với mặt bằng Đông Nam Á (chiếm 26,9% tổng công suất đặt), nhưng toàn bộ thiết bị phải nhập khẩu. Thủy điện là nguồn điện không phát thải carbon của Việt Nam đạt 29% tổng công suất đặt, nhưng đã khai thác gần hết tiềm năng. Điện than vẫn là nguồn chính cả về công suất và sản lượng. Giao thông phụ thuộc hoàn toàn vào nhiên liệu hóa thạch. Các ngành sản xuất tiêu thụ năng lượng lớn như thép, xi măng vẫn sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Diện tích rừng - nguồn hấp thụ carbon chính, trên đầu người của Việt Nam có 0,14 ha/người trong khi của Nga là 5,7 ha, Indonesia 0,35 ha.
Những lợi ích khi cam kết Net Zero 2050:
Sau khi Việt Nam cam kết Net Zero, các đối tác phát triển có cam kết nguồn vốn cho vay từ Đối tác Chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP) với vốn cam kết khoảng 15,5 tỷ USD, nhưng phần lớn là vốn vay với lãi suất thương mại và một phần rất nhỏ là hỗ trợ kỹ thuật. Trong khi đó, nhu cầu vốn cho Quy hoạch điện VIII Điều chỉnh được ước tính 136,4 tỷ USD cho giai đoạn 2026-2030 (lớn gấp hàng chục lần nguồn vốn JETP). Thực tế JETP hầu như không đóng góp gì cho vốn đầu tư vào riêng ngành điện từ 2022 đến 2026, ngoài vốn cho vay dự án Thủy điện Tích năng Bác Ái đã được ngân hàng phát triển của Pháp là AFD cam kết từ trước, nhưng gộp luôn vào JETP.
Indonesia cam kết Net Zero 2060 vẫn được hưởng quyền sử dụng vốn của JETP không khác gì Việt Nam. Điều đó cho thấy Net Zero 2050 không phải là điều kiện tiên quyết để được tiếp cận vốn JETP. Các nước tiếp cận vốn JETP đều nhận định đó là nguồn vốn khó tiếp cận và đi kèm các điều kiện, hoặc ràng buộc.
Những ràng buộc khi cam kết Net Zero 2050:
Khi cam kết Net Zero 2050, hầu hết nguồn năng lượng phải đảm bảo chuyển đổi sang năng lượng mới, hoặc thu hồi lượng CO2 thải ra trước 2050 (chỉ cho phép tổng phát thải khoảng 101 triệu tấn CO2 và được coi như được hấp thụ lại bởi sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp - LULUCF); đồng thời phải cam kết không phát triển thêm nhiệt điện than. Đó là cung cách áp đặt phát triển nguồn điện giống như các nước đã phát triển, khi nhu cầu của họ hầu như không tăng.
Việt Nam là nước đang tăng trưởng, có nhu cầu sử dụng năng lượng tăng rất nhanh. Các giới hạn trên đã buộc Việt Nam phải quy hoạch năng lượng trong một khoảng thời gian bó hẹp (2025-2050) nhằm đạt các mục tiêu hầu như không thể đạt được. Tức là ra một đề bài quy hoạch với các ràng buộc, khiến cho các lời giải trở nên bất khả thi, hoặc khả thi với chi phí cao.
Nhiệt điện than chỉ được phát triển các nhà máy đã có trong quy hoạch đến 2030, sau đó phải cắt giảm dần công suất, hoặc đốt kèm các nhiên liệu gốc hữu cơ. Ngay cả việc thay thế, nâng cấp nhà máy điện than cũ cũng không được phép.
Thực tế cho thấy, các nhà máy điện than mới có công suất rất linh hoạt, có thể vận hành ở mức trên 30% công suất niêm yết, đáng ra phải là một trong các nguồn chính để hỗ trợ cho năng lượng tái tạo.
Điện gió ngoài khơi có mục tiêu đạt 6.000 MW công suất đặt vào năm 2030, nhưng hiện tại chưa có nhà máy nào khởi công. Tính toán giá thành từ nguồn điện gió ngoài khơi cho thấy quá cao so với mức chịu đựng của nền kinh tế, chưa kể chi phí rất lớn khi hệ thống sẽ phải bỏ ra để có nguồn dự bị sẵn sàng khi không có gió.
Nguồn điện sử dụng khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) nhập khẩu, hiện mới có nhà máy điện Nhơn Trạch 3 và 4 được hoàn thành. Các nhà máy khác đang vướng các cơ chế làm cản trở việc vay vốn ngân hàng. Vì cam kết Net Zero 2050 nên các nguồn điện LNG bị buộc phải chuyển đổi sang đốt hydrogen và amoniac từ năm 2040. Tức là nếu đàm phán kéo dài thêm vài năm nữa thì đời sống của nhà máy chỉ còn dưới 10 năm, hoàn toàn không hấp dẫn cho việc đầu tư nhà máy điện LNG chu trình hỗn hợp mới. Trong khi đó, Việt Nam vẫn cần nguồn vốn nước ngoài đầu tư vào nguồn điện mới có thể đạt mục tiêu quy hoạch.
Tổng hợp các nguồn điện và kỳ vọng đạt Quy hoạch điện VIII Điều chỉnh được nêu trong bảng dưới đây:
|
| 4/2026 | Theo QHĐ 8 điều chỉnh, năm 2030 KB cao | Kỳ vọng thực tế* |
| Nhu cầu toàn quốc Pmax (MW) | 52.000 | 99.934 |
|
| Tổng công suất đặt (MW) | 95.283 | 236.363 |
|
| Nhiệt điện than | 30.942 | 31.055 | Đạt |
| TBKHH+NĐ khí trong nước. chuyển LNG | 10.545 | 16.300 | Đạt |
| TBKHH sử dụng LNG mới | 1.624 | 22.524 | Không đạt |
| Nguồn điện linh hoạt | 0 | 3.000 | Chưa rõ |
| Nhiệt điện dầu | 1.286 | 0 | Đạt |
| Điện sinh khối | 312 | 2.699 | Không đạt |
| Điện rác | 120 | 2.137 | Không đạt |
| Thủy điện (cả TĐ nhỏ) | 25.184 | 34.667 | Đạt |
| Điện gió trên bờ, gần bờ | 8.180 | 38.029 | Không đạt |
| Điện gió ngoài khơi | 0 | 6.000 | Không đạt |
| Điện mặt trời tập trung và mái nhà nối lưới | 9.335 | 73.416 | Không đạt |
| Điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu | 7,755 | 16.420 | Đạt |
| Pin lưu trữ | 0 | 16.300 | Không đạt |
| Thủy điện tích năng | 0 | 6.000 | Không đạt |
Nguồn NSMO ngày 29/4/2026 và Quy hoạch điện VIII Điều chỉnh.
* Nhận định về kỳ vọng thực tế là của tác giả, dựa trên tổng hợp kế hoạch thực hiện của các dự án tại thời điểm tháng 4/2026.
Ngay cả nguồn điện mặt trời dự kiến sẽ phát triển rất mạnh cũng đang gặp khó khăn do vướng mắc về giá điện và các thủ tục đất đai, chứng nhận hoàn thành, phòng cháy chữa cháy, đường truyền tải… Nhóm 173 dự án năng lượng tái tạo (NLTT) đang bị các nhà đầu tư khiếu nại và dọa kiện trở thành một vật cản lớn trước các nhà đầu tư vào nguồn năng lượng này.
Nhìn nhận lại vai trò của điện gió, mặt trời trong hệ thống điện:
Cam kết Net Zero 2050 tạo ra một phong trào xã hội rất mạnh tin tưởng điện NLTT (gồm gió, mặt trời) có thể thay thế toàn bộ nguồn điện hóa thạch trong tương lai gần. Khi gắn với điện khí hóa giao thông, năng lượng xanh sẽ thay thế toàn bộ các nguồn năng lượng hóa thạch. Niềm tin này cản trở cả việc phát triển nguồn điện hóa thạch, thậm chí cản trở cả phát triển thủy điện và điện hạt nhân trong khi nhu cầu điện lại tăng mạnh.
Điện gió và mặt trời đóng góp rất lớn cho bổ sung nguồn điện, giảm nhu cầu nhiên liệu hóa thạch, tăng cường an ninh năng lượng. Để giữ cho hệ thống ổn định, thủy điện đang đóng vai trò ổn định hệ thống điện chống lại những biến thiên theo ngày, đêm và thời tiết của điện gió, mặt trời. Nhưng tiềm năng thủy điện đã khai thác gần hết, khả năng điều tiết của các nhà máy hiện có phụ thuộc nhiều vào thời tiết từng năm, nên việc hỗ trợ NLTT cần được chuyển bớt cho điện than, điện sử dụng LNG nhập khẩu, hay điện sử dụng khí trong nước.
Thủy điện tích năng và pin lưu trữ (BESS) có thể giúp ổn định nguồn NLTT trong ngày, vì giữa trưa điện mặt trời sẽ phát rất tốt, thường bị cắt bỏ do vượt nhu cầu. Lưu điện mặt trời vào ban ngày để dùng vào ban đêm là một giải pháp. Tuy vậy, chúng vẫn chưa phát triển, vì giá thành điện (nếu cộng thêm chi phí và tổn hao lưu trữ) sẽ quá đắt.
![]() |
| Hình 1: Tính biến thiên theo mùa rất mạnh của điện gió ngoài khơi Việt Nam. |
![]() |
| Hình 2: Tính biến thiên theo mùa rất mạnh của điện gió trên bờ. |
Điện gió (cả trên bờ và ngoài khơi), ngoài biến thiên trong ngày còn biến thiên theo mùa (Hình 1). Mùa cần điện nhất là tháng 4, 5 thì điện gió lại phát kém nhất. Kỳ vọng dùng thủy điện tích năng, hay BESS để lưu trữ năng lượng cho nhiều ngày và đặc biệt là từ mùa này qua mùa khác như đối với điện gió là không khả thi.
Về mặt kỹ thuật, BESS sẽ tự mất điện khi lưu trữ quá lâu. Về mặt tài chính, thủy điện tích năng và BESS vốn là hộ tiêu thụ điện (với hiệu suất phát điện/bơm nước của thủy điện tích năng là 75%, sạc/xả của BESS là 85%) nên phải huy động nạp/xả hàng ngày mới có doanh thu để thu hồi vốn đầu tư.
Nâng công suất của điện than mới và điện LNG chính là nhằm tăng tỷ lệ sản lượng NLTT trên tổng sản lượng điện. Điện than mới và LNG không đơn giản là bước chuyển tiếp, chúng sẽ còn ở đó để hỗ trợ điện mặt trời khi trời mưa diện rộng kéo dài nhiều ngày, hay hỗ trợ điện gió vào tháng 4 và tháng 5 hàng năm - khi BESS không thể cung cấp đủ điện. Tất nhiên là để làm được như thế, điện than và điện LNG cần cơ chế giá riêng (như giá công suất) đã áp dụng ở một số nước.
Tác động của việc lùi Net Zero đến năm 2060 (hoặc sau nữa):
Thứ nhất: Vì thời gian quy hoạch điện và năng lượng hiện tại bị chặn ở mốc 2050 nên càng cố điều chỉnh, cập nhật quy hoạch thì số lượng lớn đầu tư vào các nguồn phát điện càng bị ép vào một khoảng thời gian hẹp đến mức bất khả thi. Nhưng nếu được lùi đến 2060 (hoặc sau nữa), thời gian thực hiện quy hoạch sẽ dễ khả thi hơn.
Nếu nới thêm 10 năm (hoặc hơn nữa) cho cam kết về giảm điện than, các nhà máy điện than cũ sẽ được xây mới tại vị trí cũ, giúp tăng được mức độ linh hoạt của hệ thống điện và tăng được an ninh năng lượng. Tuy than và LNG đều phải nhập khẩu, nhưng than có nguồn cung đa dạng, bảo quản than dự trữ được lâu hơn và chi phí bảo quản thấp hơn nhiều so với bảo quản LNG.
Thứ hai: Vì Indonesia cũng cam kết 2060 mà vẫn được JETP hỗ trợ, nên việc Việt Nam lùi thời hạn Net Zero đến 2060 sẽ không ảnh hưởng đến tiếp cận quỹ JETP.
Thứ ba: Với các rào cản về hàm lượng carbon trong hàng xuất khẩu, EU không quan tâm là cam kết Net Zero vào năm nào, mà chỉ quan tâm hàm lượng carbon (năng lượng hóa thạch) trong sản phẩm xuất khẩu vào thị trường này. Với tỷ lệ NLTT cao trong điện năng như của Việt Nam 45% (bao gồm cả thủy điện) thì hàm lượng carbon trong hàng hóa của chúng ta vẫn thấp hơn nhiều các đối thủ cạnh tranh khác.
Thứ tư: Việt Nam có lùi cam kết Net Zero, hay giữ nguyên cũng không ảnh hưởng gì đến tốc độ của biến đổi khí hậu và hậu quả của nó. Hậu quả của biến đổi khí hậu vẫn sẽ đến và Việt Nam vẫn sẽ phải bỏ ra những nguồn lực to lớn để tăng sức chống chịu cho tất cả các ngành.
Về lâu dài, nếu không được quây đê, thì những vùng trồng lúa rộng lớn vẫn cứ chìm dưới làn nước biển. Việc Trái đất nóng lên phụ thuộc chủ yếu vào các cường quốc phát thải khí nhà kính như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ… và hiện chắc chắn vượt mức 1,5ºC - theo tính toán của Liên Hợp Quốc.
Thứ năm: Net Zero 2050 là một cam kết không có ký kết cụ thể văn bản nào, mà hoàn toàn do tự nguyện của một quốc gia. Việc tuyên bố lùi thời hạn Net Zero đến năm 2060 chỉ cần một tuyên bố, không phải đàm phán, hay ký lại hiệp định quốc tế mới.
Tạm kết luận:
Lùi thời hạn cam kết Net Zero đến 2060 hầu như không gây thiệt hại gì về sản xuất (ngoại trừ một chút phiền toái ngoại giao). Nhưng lợi ích nó đem lại sẽ rất lớn - từ việc quy hoạch sẽ mang tính thực tế hơn, khả thi hơn, đến không gian phát triển rộng rãi hơn cho nền kinh tế.
Trong dài hạn, nhiên liệu hóa thạch sẽ cạn kiệt, nên cả thế giới vẫn sẽ phải tiến đến Net Zero. Mỗi quốc gia cần dựa vào nội lực, xác định lộ trình tiến đến Net Zero để không ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của nền kinh tế./.
ĐÀO NHẬT ĐÌNH - HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Tài liệu tham khảo:
1. Sắc lệnh hành chính của Tổng thống Mỹ ngày 20/01/2025: https://www.whitehouse.gov/presidential-actions/2025/01/putting-america-first-in-international-environmental-agreements/
2. Bài phát biểu qua video của Tập Cận Bình tới Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, 22/09/2021. https://regional.chinadaily.com.cn/Qiushi/2021-09/22/c_662472.htm
3. Bài phát biểu của Vladimir Putin tại Tuần lễ Năng lượng Nga, 13/10/2021. http://kremlin.ru/events/president/news/66916
4. Indonesia Long-Term Strategy for Low Carbon and Climate Resilience 2050.
5. UNDP, Norway Meteorologisk Institut, NCHMF: Tiềm năng kỹ thuật năng lượng gió ngoài khơi Việt Nam, 2025.

