Khung chính sách cho lưu trữ năng lượng (BESS) - Góc nhìn của EVN
09:21 | 13/05/2026
GG Power đã chính thức giới thiệu Nhà máy sản xuất pin lưu trữ năng lượng (Battery Energy Storage System - BESS) tại Khu công nghiệp số 5, Xuân Trúc, Hưng Yên. Sự kiện đánh dấu cột mốc của GG Power trong việc tiên phong phát triển năng lượng sạch và tự chủ năng lượng quốc gia, từng bước đưa Việt Nam trở thành một trung tâm sản xuất hệ thống lưu trữ năng lượng tại Đông Nam Á. |
Nhận thức rõ tính cấp bách của nhiệm vụ đảm bảo an ninh cung cấp điện, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã và đang khẩn trương triển khai một lộ trình phát triển BESS với các giải pháp toàn diện. Lộ trình này không chỉ dừng lại ở các nghiên cứu mang tính chiến lược, mà đã được cụ thể hóa thành các hành động thực tế - từ việc định lượng nhu cầu công suất lưu trữ của hệ thống, xác định không gian lắp đặt, định hướng thiết kế hệ thống, thu xếp nguồn vốn, triển khai đầu tư, phối hợp điều độ vận hành hệ thống.
1. Định hướng và nhu cầu BESS trong hệ thống điện Việt Nam theo Quy hoạch điện VIII và điều chỉnh:
Theo quy hoạch và kế hoạch thực hiện Quy hoạch điện VIII Điều chỉnh: “Pin lưu trữ phát triển phục vụ nhu cầu hệ thống và kết hợp với năng lượng tái tạo, bố trí phân tán gần các trung tâm nguồn điện gió, điện mặt trời hoặc trên hệ thống điện tại các trung tâm phụ tải” và quy mô BESS đến năm 2030 là 10.000-16.300 MW. Trong đó, “các dự án điện mặt trời tập trung phải lắp pin lưu trữ với công suất tối thiểu bằng 10% công suất đặt của dự án, tích trong 2 giờ; phần công suất pin tích năng còn lại được lắp đặt trên hệ thống điện phụ thuộc vào nhu cầu vận hành”.
Mặt khác, BESS cũng được định hướng là các phần tử trong các công trình, dự án nâng cao khả năng điều khiển và vận hành trạm điện, hệ thống điện” với ghi chú “Bao gồm, nhưng không giới hạn các dự án: Thay thế, lắp đặt kháng điện, tụ bù, SVC, SVG, thiết bị FACTS, BESS, máy bù đồng bộ...; mở rộng ngăn lộ TBA, cải tạo, hoàn thiện sơ đồ các trạm biến áp theo hướng linh hoạt; lắp đặt...”.
2. Các giải pháp triển khai hệ thống BESS của EVN đến năm 2030:
EVN đã phối hợp với Công ty Vận hành Hệ thống điện và Thị trường điện Quốc gia (NSMO) tính toán, đánh giá nhu cầu tiềm năng và quy mô BESS của hệ thống điện Việt Nam đến năm 2030 theo 4 kịch bản tăng trưởng phụ tải (tương ứng 8,5%, 10,2%, 11,7% và 14,1%) và xác định mục tiêu sử dụng.
Theo tính toán, nhu cầu xuất hiện ở khu vực miền Bắc trong cả giai đoạn 2026-2030 với quy mô năm 2026 là 1,35 GW-2.8 GW và có thể tăng lên đến 1.7 GW-6.5 GW vào năm 2030 ở các kịch bản khác nhau.
Với khu vực miền Nam, nhu cầu BESS xuất hiện từ khoảng giai đoạn 2027-2028, chủ yếu nhằm phủ đỉnh cho hệ thống điện quốc gia. Ngoài mục tiêu đáp ứng cân bằng công suất (phủ đỉnh) các hệ thống BESS có thể hỗ trợ giảm đầy - quá tải lưới điện, điều tần sơ cấp, điều tần thứ cấp, điều chỉnh điện áp.
EVN đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tiến hành rà soát kỹ lưỡng hạ tầng hiện hữu, đánh giá khả năng đấu nối và xác định các vị trí khả thi nhất. Quá trình rà soát này đã xác định được tiềm năng lắp đặt lên tới 1,3 GW tại khu vực phía Bắc và khoảng 2,0 GW tại khu vực miền Trung và miền Nam. Các vị trí lắp đặt tiếp tục đang tiếp tục được rà soát tại các vị trí trạm biến áp xây dựng mới để mở ra không gian dự phòng trong các trường hợp phụ tải tăng cao nhằm đáp ứng nhu cầu phục vụ phát triển tăng trưởng kinh tế 2 con số trong giai đoạn 2026-2030.
Trên cơ sở kết quả khảo sát khả năng lắp đặt BESS trên lưới điện và tính toán của NSMO, EVN đã giao các đơn vị nghiên cứu và triển khai lắp đặt các hệ thống BESS với tổng quy mô khoảng 2 GW ở nhu cầu tối thiểu của hệ thống cho giai đoạn 2026-2030 với kịch bản tăng trưởng phụ tải cơ sở 8,5% và chuẩn bị sẵn sàng cho các kịch bản cao hơn (theo kết quả tính toán của NSMO).
3. Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện:
Thứ nhất: Về quy mô các loại hình BESS theo quy hoạch: Hiện nay, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đã xác định tổng quy mô BESS đến năm 2030 là 10.000-16.300 MW và định hướng mục đích lắp đặt BESS gồm: “phục vụ nhu cầu hệ thống”, hoặc “kết hợp với năng lượng tái tạo”. Tuy nhiên, quy mô từng loại hình chưa được xác định/chưa có hướng dẫn tính toán để làm cơ sở triển khai thực hiện.
Thứ hai: Về kỹ thuật vận hành, việc tích hợp các hệ thống BESS phân tán trên lưới điện truyền tải, phân phối đặt ra yêu cầu cao về công tác điều độ, điều khiển và phối hợp vận hành. Hiện nay, chưa có đầy đủ quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật chi tiết về mô hình điều khiển tập trung/phi tập trung, chế độ vận hành (phủ đỉnh, chống quá tải, điều tần, điều áp), cũng như cơ chế phối hợp giữa các hệ thống BESS và các nguồn điện khác. Mặt khác, công tác dự báo, tối ưu hóa chế độ vận hành BESS theo phụ tải và nguồn năng lượng tái tạo (NLTT) cũng chưa có công cụ, quy trình chuẩn hóa, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện.
Về tổn thất điện năng, trong quá trình vận hành BESS, với hiệu suất hiện nay khoảng 85% trong 1 chu trình xạc - xả, nên sẽ ảnh hưởng đáng kể đến chỉ tiêu tổn thất điện năng trên lưới điện của đơn vị.
Thứ ba: Về tiêu chuẩn kỹ thuật, giải pháp đầu tư, PCCC và môi trường: Hiện nay, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với BESS (đặc biệt khi lắp đặt trong/gần trạm biến áp 110 kV) chưa được ban hành đầy đủ, đồng bộ, gây khó khăn trong công tác thiết kế, thẩm định và triển khai dự án. Các quy định về PCCC đối với hệ thống pin lithium-ion còn thiếu hướng dẫn cụ thể (về khoảng cách an toàn, giải pháp ngăn cháy lan, hệ thống chữa cháy chuyên dụng, yêu cầu thông gió, giám sát nhiệt...) dẫn đến việc phải áp dụng tham chiếu các tiêu chuẩn nước ngoài, làm kéo dài thời gian thẩm định và tiềm ẩn rủi ro pháp lý.
Ngoài ra, chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể về quản lý môi trường, thu gom, tái chế và xử lý pin sau vòng đời, cũng như tiêu chuẩn lựa chọn công nghệ (LFP, NMC, containerized, centralized BESS...).
Thứ tư: Về thu xếp vốn, với quy mô tối thiểu triển khai nêu trên việc thu xếp nguồn vốn của các đơn vị đang gặp nhiều thách thức trong bối cảnh EVN và các đơn vị đồng thời đang phải triển khai khối lượng rất lớn các hạ tầng lưới điện truyền tải và phân phối trên địa bàn cả nước.
Thứ năm: Về cơ chế đầu tư, các đơn vị của EVN hiện đang triển khai đầu tư BESS các cơ chế, tuy nhiên, các cơ chế này cần được tiếp tục xem xét, hoàn thiện để đảm bảo tính phù hợp và hiệu quả linh hoạt cho các hệ thống BESS đã và đang được triển khai. Cụ thể:
- Hệ thống pin lưu trữ do các tổng công ty điện lực đầu tư, thực hiện theo quy định tại Thông tư 17/2025/TT-BCT quy định phương pháp lập và trình tự thủ tục phê duyệt khung giá bán buôn điện; phương pháp xác định giá bán buôn điện.
- Hệ thống BESS tập trung (NPT, EVNPMB1): EVNPMB1 đang lập đề án theo cơ chế quy định theo Thông tư số 62/2025/TT-BCT (giá dịch vụ phát điện của hệ thống pin lưu trữ năng lượng).
4. Một số đề xuất và kiến nghị Bộ Công Thương:
Thứ nhất: Chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công an (về PCCC) và Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét ban hành và hoàn thiện đồng bộ hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và hướng dẫn kỹ thuật đối với hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin (BESS). Trong đó tập trung làm rõ:
- Yêu cầu kỹ thuật trong thiết kế, lắp đặt và tích hợp BESS (đặc biệt đối với cấu hình lắp đặt trong/gần trạm biến áp 110 kV), làm cơ sở cho công tác thiết kế, thẩm định và triển khai dự án.
- Quy định, hướng dẫn về PCCC đối với hệ thống pin lithium-ion, bao gồm các yêu cầu về khoảng cách an toàn, giải pháp ngăn cháy lan, hệ thống phát hiện và chữa cháy chuyên dụng, điều kiện thông gió, giám sát nhiệt và các thông số an toàn đặc thù.
- Quy định về bảo vệ môi trường đối với BESS, bao gồm quản lý vòng đời thiết bị, thu gom, tái chế và xử lý pin sau khi hết hạn sử dụng.
- Định hướng và xây dựng tiêu chí lựa chọn công nghệ BESS (như LFP, NMC, cấu hình container hóa, tập trung...), phù hợp với điều kiện vận hành hệ thống điện Việt Nam.
Thứ hai: Xem xét chỉ đạo Viện Năng lượng (đơn vị tư vấn lập Quy hoạch điện VIII điều chỉnh) chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan rà soát, tính toán và làm rõ cơ cấu các loại hình hệ thống lưu trữ năng BESS trong tổng quy mô công suất khoảng 10.000-16.300 MW dự kiến phát triển đến năm 2030. Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương xem xét, phê duyệt cơ cấu nêu trên làm căn cứ để tổ chức triển khai thực hiện.
Thứ ba: Có hướng dẫn xác định loại hình BESS phục vụ vận hành hệ thống điện là các thiết bị nâng cao khả năng điều khiển và vận hành trạm điện, hệ thống điện (như Phụ lục III.1 Quyết định 768) và cho phép triển khai linh hoạt theo tính toán vận hành để hàng năm các tổng công ty điện lực, Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia phối hợp với NSMO để tính toán xác định nhu cầu, dung lượng và vị trí lắp đặt.
5. Kế hoạch tiếp theo:
Trong giai đoạn tới, EVN sẽ tiếp tục lựa chọn, thuê đơn vị tư vấn có năng lực để lập đề án nghiên cứu, đánh giá và tính toán nhu cầu phát triển các loại hình hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin (BESS) theo từng giai đoạn/năm (trong đó xem xét các nguồn hỗ trợ từ Chính phủ/Đại sứ quán Úc, WB...). Nội dung nghiên cứu cần làm rõ nhu cầu theo từng năm và theo vai trò, hiệu quả của BESS trong các ứng dụng. Cụ thể là hỗ trợ điều tiết huy động nguồn điện (tăng/giảm công suất), dịch chuyển phụ tải/giờ phát, giảm quá tải lưới điện, nâng cao chất lượng điện áp, cấp điện cho khu vực hải đảo và vùng lõm, thay thế, hoặc trì hoãn đầu tư lưới điện… Trên cơ sở đó, EVN và các đơn vị thành viên xem xét xây dựng và triển khai kế hoạch đầu tư phù hợp.
Hiện nay các chủ đầu tư ngoài EVN cũng đang chủ động triển khai lắp đặt các hệ thống BESS kết hợp điện mặt trời (tự sản xuất, tự tiêu thụ), hoặc phục vụ các nhu cầu tiết giảm chi phí sử dụng điện/kinh doanh dịch vụ. Đồng thời, các hệ thống BESS lắp đặt kèm dự án NLTT cũng có khả năng tham gia phủ đỉnh. Do đó EVN sẽ:
Thứ nhất: Chỉ đạo các đơn vị tiếp tục rà soát tình hình thực hiện lắp đặt BESS của các chủ đầu tư ngoài EVN; đồng thời rà soát khả năng cân đối nguồn vốn, nghiên cứu các vị trí khả thi lắp đặt để có kế hoạch lắp đặt BESS cho giai đoạn tiếp theo.
Thứ hai: Tiếp tục phối hợp với NSMO hoàn thiện các kết quả tính toán nhu cầu lắp đặt BESS và xây dựng các điều kiện, yêu cầu kỹ thuật liên quan điều độ, điều khiển tích hợp, tối ưu hệ thống BESS phân tán.
Kỳ tới: Khung chính sách cho lưu trữ năng lượng (BESS) - Góc nhìn của Petrovietnam
BBT TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM