» Nhận định - Dự báo

Giải pháp năng lượng châu Á - bài học cho Việt Nam [Kỳ 2]

09:24 |13/11/2017

 - 

Chiến lược tăng trưởng xanh là giải pháp để các quốc gia vượt qua các thách thức nghiêm trọng của suy thoái kinh tế, bùng nổ dân số, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, đa dạng sinh học suy giảm, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu. Trong bối cảnh phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, mô hình tăng trưởng xanh, bền vững là mô hình được mọi quốc gia mong đợi.

Giải pháp năng lượng châu Á - bài học cho Việt Nam [Kỳ 1]

KỲ 2: GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO NGUỒN NĂNG LƯỢNG Ở CHÂU Á

PGS, TS. PHẠM THANH BÌNH - VIỆN KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI

Nhiều quốc gia trên thế giới đang hành động để tăng cường bảo đảm nguồn năng lượng. Để bảo đảm nguồn năng lượng, có 4 yếu tố cần quan tâm:

Một là, đảm bảo đa dạng hoá nguồn cung năng lượng tối đa.

Hai là, đầu tư phát triển công nghệ. Lợi ích chính của công nghệ là khả năng phát triển, ứng dựng và sau đó chuyển giao, đồng thời hỗ trợ giảm giá thành năng lượng.

Ba là, công nghệ phát triển giúp đạt nhiều mục tiêu khác nhau, bao gồm đáp ứng thách thức môi trường.

Bốn là, ứng dụng kiến thức thương mại về thị trường toàn cầu, nhằm đảm bảo khách hàng và đối tác được tiếp cận với nguồn cung khi cần thiết. Các giải pháp bảo đảm nguồn năng lượng cần chú trọng, bao gồm:

1/ Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Việc sử dụng điện năng hiệu quả, thân thiện với môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống để đảm bảo an ninh năng lượng và phát triển bền vững là vô cùng quan trọng. Vấn đề tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng sạch, thân thiện với môi trường đang là mục tiêu ưu tiên hướng tới của nhiều quốc gia không chỉ ở châu Á mà các nước trên thế giới. Trung Quốc đã tiến hành một loạt biện pháp tiết kiệm năng lượng để hạn chế sự gia tăng nhập khẩu năng lượng: thực hiện nghiêm ngặt tiết kiệm dầu mỏ trong nước, khuyến khích sản xuất các sản phẩm tiết kiệm năng lượng, các sản phẩm công nghệ mới ít tiêu hao năng lượng; cử các chuyên gia đi học tập kinh nghiệm tiên tiến nước ngoài... Mặt khác, quốc gia này kêu gọi các công xưởng luân phiên ngừng sản xuất, tránh căng thẳng về điện trong giờ cao điểm, toàn dân tiết kiệm và xây dựng mô hình xã hội tiết kiệm năng lượng.

Nếu sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả có thể giảm được 15-20% lượng điện tiêu thụ và có thể giảm việc xây dựng 1-2 nhà máy điện mới. Sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng, đặc biệt thông qua việc giảm tiêu thụ dầu lửa sẽ đem lại 3 lợi ích: an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế.

Vấn đề sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả có một số đặc điểm riêng.

Thứ nhất, đây là hoạt động liên quan đến nhiều lĩnh vực bao gồm: giao thông, xây dựng và công nghiệp.

Thứ hai, việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả thường phụ thuộc vào rất nhiều đối tác khác nhau. Do vậy, cần nhiều thời gian và năng lực chuyên môn để điều phối mối quan hệ giữa các đối tác nhằm đạt được kết quả.

Thứ ba, vấn đề sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng đòi hỏi phải xây dựng chương trình trung, dài hạn. Mọi quyết định hiện tại sẽ tác động rất lớn đến tương lai.

Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 12 (2010-2015), Trung Quốc đã đưa ra những mục tiêu chính về bảo vệ tài nguyên và môi trường: cắt giảm 16% cường độ tiêu thụ năng lượng trên một đơn vị GDP, cắt giảm 17% mức thải các-bon trên mỗi đơn vị GDP và tăng mức độ sử dụng các nguồn năng lượng nhiên liệu tái tạo từ mức 8% hiện nay lên 11,4% mức tiêu thụ năng lượng chủ yếu, giảm 8% lượng khí suphur, giảm 10% lượng khí amoniac và các khí nitơ ôxit được phát thải chủ yếu ở các khu vực sản xuất than đá. Đồng thời, tập trung cắt giảm ô nhiễm kim loại nặng trong sản xuất công nghiệp; giảm 30% mức độ tiêu thụ nước trên một đơn vị giá trị gia tăng sản lượng công nghiệp vào năm 2015; tăng mức độ che phủ rừng lên 21,66%.

Để thực hiện những mục tiêu đề ra, Trung Quốc đã tăng đầu tư vào các lĩnh vực bảo vệ môi trường trong giai đoạn 2011- 2015 hơn 3 nghìn tỷ NDT. Phần lớn khoản tiền này được sử dụng để đầu tư kiểm soát ô nhiễm, giảm đáng kể việc phát thải các chất gây ô nhiễm chủ yếu.

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả mang lại lợi ích không chỉ cho doanh nghiệp (như giảm chi phí năng lượng, tăng khả năng cạnh tranh, tăng năng suất sản xuất, cải thiện chất lượng hàng hóa...); cho quốc gia (như giảm nhập khẩu năng lượng, tiết kiệm nguồn tài nguyên quốc gia, tiền tiết kiệm được có thể dùng cho các hoạt động xóa đói giảm nghèo, chủ động hơn trong sản xuất, tiêu thụ năng lượng) mà còn đối với toàn cầu (như giúp giảm phát thải khí nhà kính, duy trì, ổn định môi trường bền vững).

Năm 2008, trong khoản đầu tư kích cầu 4.000 tỷ NDT ứng phó khủng hoảng tài chính toàn cầu, trong đó có 210 tỷ NDT được đầu tư cho chiến lược tiết kiệm năng lượng và bảo vệ mội trường. Trung Quốc đã ban hành hàng loạt văn bản, chính sách về hỗ trợ tài chính cho hoạt động tiết kiệm năng lượng, cung cấp hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm hiệu quả cao, đồng thời cũng có các chính sách trợ giá thúc đẩy sản xuất các nhiên liệu tái sinh.

Bên cạnh đó, áp dụng chính sách cắt giảm thuế cho các dự án thân thiện với môi trường. Năm 2009, Trung Quốc đã chi ra 180 tỷ NDT để tái cấu trúc kỹ thuật tiết kiệm năng lượng, bao gồm tái cấu trúc công nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong hệ thống nhà ở đô thị, nông thôn và phát triển các năng lượng tái sinh.

Nhờ chính sách tiết kiệm năng lượng và áp dụng công nghệ mới của các nước trong khu vực kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), hiệu quả sử dụng năng lượng tại APEC đã được cải thiện trong ba thập kỷ (1980-2010). Dự đoán, tỷ lệ này được tiếp tục tăng nhẹ và đạt 53% năm 2035.

So với giải pháp phát triển nguồn năng lượng tái tạo (gió, mặt trời, sinh khối, nhiệt lượng từ đốt chất thải…) thì giải pháp tiết kiệm năng lượng có chi phí thấp hơn từ 50% - 70%. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của hướng tiếp cận tập trung vào giải pháp sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng nhằm tạo nền tảng phát triển kinh tế một cách bền vững.

2/ Chú trọng phát triển các nguồn năng lượng mới thay thế.

Cùng với tiết kiệm năng lượng, chủ động đầu tư phát triển các cơ sở sản xuất năng lượng truyền thống và huy động các nguồn năng lượng mới (năng lượng hạt nhân), phát triển năng lượng tái tạo (năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng địa nhiệt, năng lượng đại dương...). Phát triển năng lượng tái sinh và các nguồn năng lượng thay thế khác đang là một trong những trọng tâm của chiến lược an ninh năng lượng.

Chiến lược năng lượng của Trung Quốc trong tương lai có sự chuyển hướng đầu tư mạnh mẽ sang các dạng năng lượng tái tạo và năng lượng sạch (gồm thủy điện, năng lượng gió, điện mặt trời, năng lượng sinh học). Chiến lược này được chia thành 3 giai đoạn:

Giai đoạn đầu (2005-2010): Năng lượng tái tạo đóng vai trò phụ trợ.

Giai đoạn hai (2010-2020): Nguồn năng lượng thay thế dần dần thay thế cho các loại năng lượng khác.

Giai đoạn ba (2020-2030): Năng lượng tái tạo sẽ vươn lên chiếm lĩnh.

Phát triển năng lượng tái tạo được coi là một trong những giải pháp đảm bảo an ninh năng lượng và thân thiện với môi trường, giúp nguồn cung điện bớt phụ thuộc vào các nguồn năng lượng truyền thống. Châu Á đang hướng tới sử dụng 100% năng lượng tái tạo và đó là cách tốt nhất để xây dựng một châu Á bền vững.

Theo IEA, năng lượng tái tạo sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong sản xuất điện, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng của toàn cầu trong giai đoạn (2015-2020). Trung Quốc chiếm khoảng 40% tổng công suất điện được sản xuất từ các nguồn năng lượng tái tạo trên toàn cầu và cam kết, năng lượng tái tạo sẽ chiếm 15% mức sử dụng năng lượng vào năm 2020, lượng khí thải trên một đơn vị GDP sẽ giảm 40%-45% so với mức năm 2005. Dự báo, năm 2050, loại năng lượng tái tạo sẽ trở thành nguồn cung cấp chính, chiếm 35-40% tổng năng lượng của Trung Quốc8. Năng lượng tái tạo đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng với tiềm năng và tính khả thi tại nhiều quốc gia, trong đó có châu Á, với tổng số tiền đầu tư lên tới 100 nghìn tỷ USD vào năm 20509.

Phát triển năng lượng tái sinh thông qua việc xây dựng các thiết bị phát điện bằng sức gió, các nhà máy thủy điện để tăng cường điện năng. Năm 2020, năng lượng điện dùng sức gió ở Trung Quốc có thể đạt 20 triệu kWh. Hiện Trung Quốc được xem là nhà sản xuất năng lượng gió lớn thứ ba trên thế giới (sau Hoa Kỳ và Đức). Trung Quốc có nguồn năng lượng gió đặc biệt dồi dào và phong phú. Nguồn tài nguyên gió ở phía Đông Bắc, phía Bắc, phía Tây Bắc, các vùng ven biển, các hải đảo và thậm chí là ở cả các khu vực nội địa có trữ lượng rất lớn. Năm 2020, ngành công nghiệp năng lượng gió của Trung Quốc sẽ có công suất lắp đặt là 200GW, tương đương với 440.000 GWh điện và sẽ giúp giảm 440 triệu tấn CO2, giảm lượng tiêu thụ 200 triệu tấn than.

Huy động nguồn năng lượng mới (năng lượng hạt nhân). Năng lượng hạt nhân là nguồn năng lượng duy nhất có thể thay thế với quy mô lớn năng lượng hoá dầu, đồng thời giảm được việc thải thể khí và vật chất vào môi trường.

Theo Diễn đàn Đông Á (East Asia Forum), năng lượng hạt nhân tiếp tục được xem là nguồn năng lượng quan trọng của châu Á. Năm 2004, bên cạnh việc thúc đẩy hợp tác với Mỹ xây dựng 4 nhà máy điện hạt nhân (trị giá hơn 5 tỷ USD), Trung Quốc cũng đang xây dựng các nhà máy điện hạt nhân tự thiết kế. Trung Quốc đặt mục tiêu đến năm 2020 sẽ xây dựng 40 tổ máy phát điện hạt nhân.

Nhiều quốc gia đang phát triển khác cũng đang đẩy mạnh kế hoạch phát triển nguồn năng lượng gió, năng lượng mặt trời (đặc biệt sau sự cố tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima, Nhật Bản). Bhutan - một quốc gia nhỏ bé cũng đang nỗ lực phát triển các nguồn năng lượng tái tạo như Việt Nam. Châu Á rất có lợi thế về năng lượng mặt trời, song việc phát điện mặt trời trên quy mô lớn gặp khó khăn do thiếu cơ chế đầu tư hợp lý, thiếu quyết đoán về chính sách thể chế và yếu kém về mặt kiến thức chuyên môn. Hiện chỉ có xấp xỉ 0,25% trên tổng số các nhà máy điện tại châu Á phát điện mặt trời. Mục tiêu của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) là tăng tỷ lệ điện mặt trời lên 35% - 50%, giúp giải quyết vấn đề về điện năng cho khoảng 900 triệu người châu Á và điện năng sạch giá rẻ cho nhiều hộ gia đình ở vùng sâu, vùng xa. Năm 2013, ADB tăng nguồn đầu tư cho sáng kiến năng lượng mặt trời lên tới 2 tỷ USD/năm.

Nhật Bản vạch ra chiến lược giảm sự phụ thuộc dầu khoảng 40% năm 2030, Hàn Quốc cũng có kế hoạch giảm mức độ phụ thuộc dầu khoảng 35% năm 2030. Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 12 (2011-2015), Trung Quốc đặt mục tiêu sản xuất thêm 40 tỉ oát điện hạt nhân, tăng đáng kể đầu tư vào thủy điện, sản xuất thêm 70 tỉ oát điện từ năng lượng gió và 5 tỉ oát điện từ nguồn năng lượng mặt trời. Trung Quốc đã xây dựng và đầu tư vào các dự án năng lượng ở hơn 50 quốc gia, trải gần khắp mọi châu lục. Việc xây dựng các dự án năng lượng của Trung Quốc được thúc đẩy bởi 2 nhân tố:

Một là, Trung Quốc đang ngày càng phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu để duy trì nền kinh tế của mình. Là quốc gia xuất khẩu dầu lửa cho đến năm 1993, Trung Quốc vẫn lo ngại về các thị trường năng lượng quốc tế.

Hai là, các dự án năng lượng là sự lựa chọn khả thi để đầu tư các cổ phần ngoại tệ khổng lồ của Trung Quốc. Kế hoạch đến năm 2020, nền kinh tế toàn cầu phải thay thế được 10%-20% lượng dầu tiêu thụ bằng các dạng năng lượng mới, nhằm kéo dài thời gian sử dụng dầu mỏ và bảo đảm an ninh năng lượng để phát triển kinh tế.

Thu hút đầu tư phát triển và đổi mới công nghệ trong ngành năng lượng

Ngành năng lượng có công nghệ phức tạp mang tính đặc thù cao và đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn. Việc huy động nguồn vốn cho phát triển ngành năng lượng là nhiệm vụ trọng tâm và cần giải quyết. Đổi mới công nghệ, cải tiến công nghệ để tiêu thụ và tiêu tốn ít năng lượng hơn nhưng vẫn đảm bảo đạt được hiệu quả cao về năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Rà soát và loại trừ các công nghệ cũ, những công nghệ tiêu tốn nhiều năng lượng.

Phát triển năng lượng tái tạo được coi là một trong những giải pháp đảm bảo an ninh năng lượng và thân thiện với môi trường, giúp nguồn cung điện bớt phụ thuộc vào các nguồn truyền thống. Tuy nhiên, vốn đầu tư vào dự án năng lượng tái tạo không hề nhỏ. Giá điện từ các nguồn năng lượng tái tạo có sự chênh lệch khá lớn với giá điện từ các nguồn truyền thống. Vì vậy, thu hút vốn đầu tư vào các dự án năng lượng tái tạo rất khó khăn, cần có sự "chung tay" của các nguồn vốn đầu tư tư nhân cộng với "sức đẩy" từ sự trợ giúp của Chính phủ.

Ở Trung Quốc, để hỗ trợ phát triển điện mặt trời, Chính phủ trợ giúp doanh nghiệp và người dân bằng cách hỗ trợ chi phí nghiên cứu, sản xuất máy nước nóng năng lượng mặt trời, nhằm giảm giá thành loại máy năng lượng mặt trời bằng với giá loại máy nước nóng chạy điện bình thường. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng hỗ trợ chi phí tuyên truyền, quảng bá máy nước nóng… Nhờ những giải pháp "mạnh tay", tỷ lệ "phổ cập" máy nước nóng năng lượng mặt trời ở Trung Quốc có nơi lên đến trên 90%.

Các nước Đông Nam Á (ASEAN) đang tập trung đầu tư vào cải tiến các công nghệ năng lượng nhằm nâng cao hiệu suất năng lượng. Áp dụng công nghệ sản xuất năng lượng đồng thời sản xuất cùng lúc cả điện và nhiệt từ cùng một nguồn nhiên liệu đang được áp dụng rất có hiệu quả tại Thái Lan, Inđônêsia và Malaysia.

Giai đoạn 2009-2013, tổng vốn đầu tư vào dự án năng lượng tái tạo của Việt Nam lên tới 318 triệu USD. Trong đó, vốn vay là 202 triệu USD, vốn tài trợ của Chính phủ Úc là 2,3 triệu USD. Vốn đối ứng trong nước là 113,7 triệu USD. Giá năng lượng thấp chính là "rào cản" đối với việc đầu tư vào các dự án năng lượng của các nhà đầu tư nước ngoài, điển hình như lĩnh vực điện năng. Vì vậy, Nhà nước cần có cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển ngành năng lượng với những hỗ trợ cụ thể, nhất là nguồn vốn đầu tư. Bên cạnh đó, việc minh bạch hóa giá năng lượng, có cơ chế cho giá điện theo giá thị trường với định hướng của Nhà nước cũng là một giải pháp.

Đẩy mạnh chiến lược tăng trưởng xanh

Tăng trưởng xanh là mô hình tăng trưởng mới, được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm. Tăng trưởng xanh là quá trình cơ cấu lại nền kinh tế quốc dân, xây dựng lại cơ sở hạ tầng nhằm sử dụng mọi nguồn lực hiệu quả hơn, tăng trưởng và phát triển hài hoà, bền vững. Thúc đẩy tăng trưởng xanh (quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh) tạo tiềm năng to lớn để phát triển bền vững và giảm đói nghèo. Đối với các quốc gia đang phát triển, tăng trưởng xanh còn tạo đà cho một bước "nhảy vọt" để phát triển kinh tế mà không cần theo con đường phát triển kinh tế "ô nhiễm trước, xử lý sau".

Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản trong quá trình đưa ra các gói kích thích kinh tế sau khủng hoảng tài chính toàn cầu đều dành ưu tiên cao cho tăng trưởng xanh (cơ cấu của Trung Quốc là 35%, của Hàn Quốc lên đến 80%). Trong đó, đầu tư tập trung cho lĩnh vực năng lượng sạch, giao thông thân thiện môi trường, đô thị hóa bền vững, nông nghiệp sinh thái, du lịch sinh thái, công nghiệp văn hóa, xử lý chất thải, thúc đẩy tiêu dùng bền vững và xây dựng lối sống xanh...

Để thúc đẩy các mục tiêu tăng trưởng xanh, APEC thực hiện các biện pháp như giảm 45% cường độ sử dụng năng lượng năm 2035 so với năm 2005, chiến lược phát triển khí thải carbon thấp. Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, Hàn Quốc đã dành 80% trong gói kích cầu kinh tế (khoảng 38,1 tỷ USD) để dùng cho sự chuyển dịch từ nền kinh tế nâu sang nền kinh tế xanh. Chiến lược quốc gia về "tăng trưởng xanh, các-bon thấp" của Hàn Quốc xác định tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng là 2,7% (2009), 3,78% (2013) và lên đến 6,08% (2020); mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính xuống còn 30% trước năm 2020. Đây là mức cắt giảm phát thải cao nhất do Nhóm chuyên gia liên chính phủ về Biến đổi khí hậu IPCC10 đề xuất. Trung Quốc cũng tiến hành những cuộc cách mạng sạch, cách mạng xanh, cách mạng công nghệ cao... Chỉ riêng trong lĩnh vực tái chế và năng lượng tái tạo, Trung Quốc đã kiếm được 17 tỷ USD mỗi năm và tạo công ăn việc làm cho 10 triệu người.

Việt Nam triển khai xây dựng Chiến lược tăng trưởng xanh (2011- 2030) và tầm nhìn 2050. Chiến lược tăng trưởng xanh là quá trình tái cơ cấu nền kinh tế để tiến tới việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính thông qua nghiên cứu và áp dụng công nghệ hiện đại; phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng để nâng cao hiệu quả nền kinh tế, ứng phó với biến đổi khí hậu. Là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới và đã đạt tới vị trí của một quốc gia có thu nhập trung bình 1.300 USD/năm (2012), Việt Nam cần có chính sách cho một nền kinh tế có lượng khí thải CO2 thấp và bảo đảm an ninh năng lượng với biến đổi khí hậu. Kinh nghiệm tăng trưởng kinh tế mà không gia tăng tiêu thụ năng lượng của Đan Mạch là bài học hữu ích cho các nước châu Á.

Chiến lược tăng trưởng xanh là giải pháp để các quốc gia vượt qua các thách thức nghiêm trọng của suy thoái kinh tế, bùng nổ dân số, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, đa dạng sinh học suy giảm, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu. Trong bối cảnh phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, mô hình tăng trưởng xanh, bền vững là mô hình được mọi quốc gia mong đợi.

Đón đọc kỳ 3: Kinh nghiệm cho Việt Nam

Tài liệu tham khảo chính:

- Xavier Labandeira and Baltasar Manzano (2012), Some Economic Aspects of Energy Security, Economics for Energy, University of Vigo.

- APERC (2007), A Quest for Energy Security in the 21 st Century: Resources and Constraints. Asia Pacific Energy Research Center.

- Bùi Huy Phùng (2013), Phát triển năng lượng và chiến lược tăng trưởng xanh ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học năng lượng, số 1/2013.

- An ninh năng lượng, giá dầu tăng cao và sự tác động tới tăng trưởng kinh tế các nước ASEAN. Tạp chí Hội nhập và phát triển, số 36/2005.

- Military and Security Development Involving the People's Republic of China 2013. Office of the Secretary of Defense. Tài liệu tham khảo số 6-7/2013, Thông tấn xã Việt Nam.

- China’s Green Revolution energy, environment and the 12th Five - year Plan, Ebook001, 2011.

- Nguyen Duc Thanh, (2011), “The Rise of China and the Economic Divergence of the Southeast Asian Countries”, Singapore, August, 2011.

- Phạm Sỹ Thành (2011), Trung Quốc: Tăng trưởng và chuyển đổi kinh tế (1949 - 2009), NXB ĐHQG Hà Nội.

- TTXVN, Tài liệu tham khảo đặc biệt, tháng 2/2011.



®    Khi sao chép, trích dẫn nội dung, số liệu từ Website này phải ghi rõ "nguồn", hoặc "theo": TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3