Tác động chiến sự ở Iran đến thị trường năng lượng châu Á và kích hoạt ưu tiên của Việt Nam
07:44 | 06/03/2026
Ngay sau khi xảy ra xung đột tại Ukraine, Liên minh châu Âu (EU) vốn đã gặp vấn đề về năng lượng. Nay cuộc chiến giữa liên minh Hoa Kỳ - Israel diễn ra tại vùng Vịnh khiến kế hoạch năng lượng của EU trở nên tồi tệ hơn. Dưới đây, những nguy cơ hiện hữu vừa được Tạp chí Năng lượng Việt Nam cập nhật dựa trên tình hình cuộc chiến tại khu vực này. |
Hệ lụy nguồn cung dầu khí bị gián đoạn:
Cuộc xung đột Hoa Kỳ và Israel với Iran đã đẩy hệ thống năng lượng toàn cầu vào tình trạng hỗn loạn, nhất là khi eo biển Hormuz bị đóng cửa, cắt đứt một trong những tuyến đường huyết mạch vận chuyển dầu thô và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) quan trọng nhất thế giới. Hậu quả làm thiếu hụt 20% lượng dầu toàn cầu và làm gián đoạn 18% vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không, buộc các hoạt động hậu cần phải thay đổi đột biến.
Phân tích mới của công ty công nghệ quốc tế chuyên về tình báo rủi ro hàng hải của Anh - Pole Star Global liên quan 3.878 sự kiện vùng biển cho thấy: Việc đóng cửa eo biển Hormuz đã gây sụp đổ nghiêm trọng trong hoạt động hàng hải khu vực. Lưu lượng tàu chở dầu tăng đột biến trong thời gian ngắn trong các cuộc tấn công ngày 28/2 trước khi giảm mạnh do các hoạt động quân sự tăng lên. Các chuyến đi của tàu mang cờ Iran giảm hơn 95%, trong khi các tuyến vận tải lớn bắt đầu chuyển hướng khẩn cấp để tránh vùng Vịnh. “Không có cuộc tấn công nào nhằm vào các thủy thủ vô tội, hoặc tàu dân sự là chính đáng. Các thủy thủ đoàn này chỉ đơn giản là đang làm công việc của họ và cần được bảo vệ khỏi những ảnh hưởng của căng thẳng địa chính trị rộng lớn hơn” - Tổng thư ký Tổ chức Hàng hải Quốc tế Arsenio Dominguez cho hay.
Các hãng vận tải toàn cầu đã nhanh chóng điều chỉnh. Maersk và Hapag-Lloyd đã tạm ngừng tất cả các chuyến đi qua eo biển Hormuz, trong khi MSC đã di chuyển tàu đến các khu vực được che chắn và chuyển hướng dịch vụ vòng qua Mũi Hảo Vọng, ước tính làm tăng thêm 1 triệu USD chi phí nhiên liệu cho mỗi chuyến đi.
Với việc không phận vùng Vịnh bị đóng cửa một phần, năng lực vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không toàn cầu đã giảm 18% trong một tuần, làm gián đoạn nguồn cung cấp phụ tùng thay thế khẩn cấp, thiết bị lọc dầu và các lô hàng công nghệ năng lượng.
Emirates SkyCargo, Qatar Airways và Etihad đã tạm thời ngừng các dịch vụ vận chuyển hàng hóa bằng máy bay, trong khi FedEx và Cathay Group đã tạm ngừng hoàn toàn các hoạt động tại Trung Đông. Đối với các nhà cung cấp dịch vụ và bảo trì mỏ dầu phụ thuộc vào việc vận chuyển hàng không đúng thời điểm, việc đóng cửa này làm trầm trọng thêm các điểm nghẽn hậu cần vốn đã xuất hiện trên biển.
Hệ lụy gián đoạn năng lượng đẩy giá tăng vọt:
Những gián đoạn nguồn cung làm nổi bật rủi ro đối với châu Á, khu vực tiêu thụ dầu lớn nhất thế giới - nơi nhập khẩu 60% lượng dầu từ các nhà sản xuất Trung Đông.
Tổng thống Donald Trump cho rằng: Các cuộc tấn công của Hoa Kỳ và Israel vào Iran có thể kéo dài nhiều tuần, điều này có thể dẫn đến sự gián đoạn kéo dài đối với giao thông vận tải biển qua eo biển Hormuz - một vùng biển hẹp dẫn vào Vịnh Ba Tư - nơi khoảng 20% sản lượng dầu mỏ của thế giới và một phần tư khí đốt tự nhiên hóa lỏng được vận chuyển qua.
Các nhà kinh tế cảnh báo chiến tranh Trung Đông sẽ đẩy giá dầu tăng vọt. Một hộ gia đình trung bình có thể phải trả thêm 14 USD cho hóa đơn xăng dầu hàng tuần. Bất kỳ sự khan hiếm nguồn cung nào cũng sẽ đẩy giá dầu lên, gây thêm áp lực lên các chính phủ.
Giá dầu toàn cầu đã tăng khoảng 9% vào ngày 2/3, sau khi tăng vọt tới 13% sau các vụ tấn công diễn ra ngày 28/2/2026. Các công ty bảo hiểm tàu biển đã hủy bỏ bảo hiểm rủi ro chiến tranh - điều này khiến dự đoán giá cước vận chuyển tàu chở dầu sẽ tăng vọt khi các chủ hàng giữ tàu tránh xa.
Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước tiêu thụ năng lượng hàng đầu châu Á - nhập khẩu khoảng một nửa lượng dầu thô từ Trung Đông. Các nước tiêu thụ lớn khác là Nhật Bản, Hàn Quốc và Indonesia. Sự gián đoạn kéo dài ở eo biển sẽ đẩy giá dầu lên cao, có thể gây ra tình trạng thiếu hụt nguồn cung cho Trung Quốc, Ấn Độ, buộc các nước này phải sử dụng đến kho dự trữ và giảm hoạt động của các nhà máy lọc dầu.
Xung đột Iran leo thang là tin xấu đối với Ấn Độ - nền kinh tế lớn thứ ba và là một trong các quốc gia tăng trưởng nhanh nhất châu Á. Ấn Độ dễ bị tổn thương trước những cú sốc về nguồn cung dầu thô, nếu xung đột dẫn đến sự gián đoạn kéo dài trong các chuyến hàng từ khu vực, chủ yếu là do trữ lượng dầu mỏ của nước này rất ít.
Theo Bộ trưởng Dầu mỏ Ấn Độ Hardeep Singh Puri: Tính đến tháng 1/2026, Trung Đông chiếm khoảng 55% lượng dầu thô nhập khẩu của Ấn Độ (khoảng 2,74 triệu thùng mỗi ngày). Đó là mức cao nhất kể từ cuối năm 2022, khi các nhà máy lọc dầu của nước này giảm lượng dầu nhập từ Nga dưới áp lực của Washington. Ấn Độ có thể dự trữ đủ dầu thô và nhiên liệu để sử dụng trong khoảng 74 ngày.
Giải pháp ứng phó của châu Á:
Các nguồn tin từ ngành lọc dầu Ấn Độ tiết lộ: Dự trữ hiện tại của quốc gia này chỉ đủ dùng trong khoảng 20 đến 25 ngày, thấp hơn nhiều so với mức cần thiết mà Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) yêu cầu các nền kinh tế phát triển và các thành viên phải dự trữ ít nhất 90 ngày nhập khẩu dầu ròng. Một số nhà máy lọc dầu Ấn Độ còn thông báo với các nhà cung cấp Trung Đông rằng họ không thể tìm được tàu để vận chuyển dầu thô. Tình trạng thiếu hụt khiến Ấn Độ phải tìm nguồn dầu ở nơi khác có giá cả phải chăng để thay thế phần thiếu hụt hiện nay.
Theo ICIS (tổ chức cung cấp thông tin thị trường, dữ liệu giá cả và phân tích hàng đầu thế giới về hóa chất, năng lượng, phân bón của Anh): So với Ấn Độ, Trung Quốc ở vị thế tốt hơn, vì nước này có lượng dầu thô dự trữ đủ dùng trong 6 tháng. Dầu từ Trung Đông xuất khẩu tới Nhật Bản, Hàn Quốc lần lượt chiếm khoảng 95% và 70% tổng lượng dầu nhập khẩu. Nhưng cả hai đều có lượng dự trữ lớn hơn nhiều so với Ấn Độ và Trung Quốc. Lượng dự trữ dầu của Nhật Bản tương đương với 254 ngày tiêu thụ, trong khi đó Hàn Quốc có dự trữ có thể đáp ứng khoảng 208 ngày.
Theo Bộ trưởng Năng lượng và Tài nguyên Khoáng sản Indonesia Bahlil Lahadalia: Tập đoàn năng lượng nhà nước Pertamina đã chuẩn bị các biện pháp giảm thiểu rủi ro và đang tối ưu hóa hoạt động lọc dầu để đảm bảo nguồn cung nhiên liệu, cũng như khí dầu mỏ hóa lỏng. Indonesia có lượng dự trữ nhiên liệu trong nước vẫn đủ dùng trong ít nhất 20 ngày.
Việc mất nguồn cung khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) từ Qatar, Oman và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất sẽ ảnh hưởng nặng nề nhất đến người mua ở châu Á, đặc biệt là Pakistan, Ấn Độ và Bangladesh - các nhà phân tích cho biết.
“Trung Quốc đang tận dụng các lô hàng LNG từ các nhà sản xuất khác và giảm nhu cầu khí đốt bằng cách chuyển đổi nhiên liệu, hoặc cắt giảm nhu cầu hoàn toàn” - Rystad Energy cho biết trong một báo cáo mới đây.
Trung Quốc và Nhật Bản là hai nước nhập khẩu LNG lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, theo Chánh văn phòng Nội các Nhật Bản Minoru Kihara: Các công ty điện lực của Nhật Bản chủ yếu nhập khẩu LNG từ Úc và có lượng dự trữ LNG đủ dùng trong khoảng 3 tuần cho tiêu thụ nội địa.
Các công ty điện lực Nhật Bản đã ký kết các hợp đồng LNG dài hạn để giảm thiểu sự biến động nên việc leo thang chiến sự có thể củng cố cách thức đó. Đồng thời, chi phí nhập khẩu tăng cao sẽ củng cố luận điểm thương mại cho việc mở rộng điện gió ngoài khơi và các dự án thí điểm hydro được thiết kế để giảm thiểu sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng hàng hải.
Thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng sạch châu Á:
Sự gián đoạn và bất ổn do chiến tranh Iran gây ra dường như là cú sốc làm thay đổi cấu trúc phụ thuộc của châu Á vào nhiên liệu hóa thạch ở Trung Đông. Tuy nhiên, xung đột lại có thể củng cố cơ sở hạ tầng nhiên liệu hóa thạch hiện nay; đồng thời củng cố lợi thế cấu trúc của châu Á trong lĩnh vực năng lượng tái tạo trong tương lai. Sự bất ổn năng lượng ở Trung Đông đang đóng vai trò là chất xúc tác mới cho an ninh năng lượng và quyền tự chủ chiến lược.
Đối với châu Á - khu vực nhập khẩu năng lượng ròng lớn nhất thế giới, sự bất ổn kéo dài ở kênh vận chuyển này có thể sẽ trực tiếp dẫn đến căng thẳng kinh tế vĩ mô. Hãy xem xét rủi ro điểm này tương tác như thế nào với các mô hình kinh tế khác nhau trên khắp châu Á?
Tại Nhật Bản - nơi sản lượng hydrocarbon trong nước không đáng kể và an ninh năng lượng đã định hình chính sách kể từ sau thảm họa Fukushima, một cú sốc mới từ Trung Đông có thể sẽ làm gia tăng thâm hụt thương mại và khơi lại cuộc tranh luận về sự cân bằng giữa việc phụ thuộc vào khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) và khởi động lại các nhà máy điện hạt nhân.
Tại Ấn Độ, hậu quả sẽ khác, nhưng không kém phần quan trọng. Ấn Độ nhập khẩu hơn 80% dầu thô, nên chiến sự có thể sẽ gây áp lực lên đồng rupee, làm phức tạp tính toán tài chính và thu hẹp phạm vi trợ cấp nhiên liệu cho người tiêu dùng. Những năm gần đây, New Delhi đã đa dạng hóa nguồn cung dầu thô và mở rộng dự trữ chiến lược. Tuy nhiên, sự điều chỉnh bền vững hơn có thể xuất hiện trong việc triển khai năng lượng mặt trời.
Các mục tiêu công suất điện mặt trời đầy tham vọng của Ấn Độ thường được đặt ra dưới góc độ khí hậu. Trong bối cảnh biến động kéo dài, chúng trở thành một chiến lược cân bằng cán cân thanh toán. Mỗi gigawatt điện mặt trời trong nước tăng thêm sẽ làm giảm tính dễ tổn thương về cấu trúc đối với dầu nhập khẩu.
Hàn Quốc là một trường hợp khác. Cơ sở sản xuất định hướng xuất khẩu, tiêu thụ nhiều năng lượng của nước này (từ chất bán dẫn, đến hóa dầu) phụ thuộc vào chi phí đầu vào ổn định. Giá khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG), dầu mỏ tăng cao sẽ làm giảm biên lợi nhuận và có khả năng làm suy yếu khả năng cạnh tranh nếu kéo dài. Do đó, Seoul dự kiến sẽ tăng cường đa dạng hóa nguồn cung và dự trữ. Các tập đoàn Hàn Quốc cũng là những người chơi toàn cầu trong lĩnh vực sản xuất pin và công nghệ hydrogen. Tuy nhiên, sự biến động của hydrocarbon có thể củng cố sự hỗ trợ của nhà nước cho các lĩnh vực này - không phải như một chính sách công nghiệp trừu tượng, mà như một biện pháp bảo hiểm chống lại các cú sốc năng lượng tái diễn.
Trên khắp Đông Nam Á, mức độ rủi ro phân tán theo nguồn thu nhập và nguồn lực. Các nền kinh tế như Thái Lan và Philippines, phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu và có nguồn dự trữ tài chính hạn hẹp hơn, có thể sẽ phải đối mặt với tác động của lạm phát mạnh hơn, nếu vận chuyển qua eo biển Hormuz bị gián đoạn nghiêm trọng.
Ngược lại, các nước xuất khẩu như Malaysia có thể thu được lợi nhuận bù đắp từ giá năng lượng cao hơn, làm phức tạp thêm bức tranh khu vực. Tác động tổng thể trên toàn ASEAN có thể không đồng đều, với một số bảng cân đối kế toán của các quốc gia thắt chặt trong khi những quốc gia khác tạm thời được hưởng lợi.
Sự thống trị của Trung Quốc trong sản xuất năng lượng mặt trời và chuỗi cung ứng pin giúp nước này thu được giá trị từ bất kỳ sự tăng tốc nào trong việc triển khai năng lượng tái tạo trên toàn khu vực. Giá nhiên liệu hóa thạch cao hơn có thể cải thiện hiệu quả kinh tế tương đối của điện khí hóa dựa trên nguồn năng lượng tái tạo mới; đồng thời củng cố nhu cầu lắp đặt trong nước và xuất khẩu.
Công suất năng lượng tái tạo sẽ tăng lên vì yếu tố kinh tế và logic chiến lược ngày càng ủng hộ điều đó. Theo thời gian, khả năng phục hồi sẽ chuyển từ kế hoạch dự phòng sang thiết kế tích hợp. Với kịch bản có điều kiện này, xung đột Iran không chỉ là một cú sốc nguồn cung, mà đóng vai trò như một bài kiểm tra sức chịu đựng đối với mô hình năng lượng của châu Á. Tuy nhiên, sự bất ổn kéo dài có thể đẩy nhanh quá trình chuyển đổi cuối cùng làm giảm tính dễ bị tổn thương.
Không có gì đáng ngạc nhiên khi các nhà đầu tư toàn cầu sẽ nhắm đến các cơ hội ngắn hạn và dài hạn được tạo ra bởi sự chuyển đổi sang năng lượng sạch.
Giải pháp tình thế của Việt Nam:
Trước diễn biến phức tạp của xung đột tại Trung Đông (chiến tranh Vùng Vịnh) năm 2026, Việt Nam đã thành lập Tổ công tác đặc biệt, do Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn làm Tổ trưởng, để bảo đảm an ninh năng lượng và ứng phó với rủi ro giá dầu thô có thể vượt 100 USD/thùng. Các biện pháp tập trung vào dự báo, điều hành giá và ổn định nguồn cung xăng dầu, điện, than.
Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ thành lập Tổ công tác bảo đảm an ninh năng lượng (theo Quyết định 385/QĐ-TTg ngày 4/3/2026) gồm lãnh đạo các bộ: Công Thương, Tài chính, Quốc phòng, Ngoại giao, cùng các tập đoàn lớn (PVN, EVN, TKV, Petrolimex). Tổ công tác thường xuyên cập nhật các kịch bản lạm phát, kiểm soát giá hàng hóa thiết yếu và xăng dầu để giảm thiểu tác động đến sản xuất và tiêu dùng. Theo dõi sát giá dầu thô, vốn đã tăng hơn 10% (vượt 80 USD/thùng) vào đầu tháng 3/2026.
Chính phủ Chỉ đạo các nhà máy lọc dầu (như Dung Quất) tối ưu hóa sản xuất, xây dựng phương án nhập khẩu dầu thô, xăng dầu thay thế trong trường hợp gián đoạn nguồn cung. Riêng ngành vận tải/logistics được cảnh báo ảnh hưởng lớn do chi phí vận tải biển có thể tăng 20-40% khi eo biển Hormuz bị phong tỏa.
Chính phủ đang khẩn trương triển khai các kịch bản linh hoạt để ổn định kinh tế vĩ mô trước những cú sốc từ thị trường năng lượng quốc tế. Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN) đã chỉ đạo Công ty CP Lọc hóa dầu Nghi Sơn làm việc với các bên nước ngoài tham gia dự án cung cấp khẩn dầu dự phòng.
PVN cũng làm việc với các nhà thầu dầu khí (chủ dầu) để tối đa bán dầu khai thác trong nước trong trường hợp cấp bách; chỉ đạo Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOil) chủ động xây dựng phương án nhập khẩu bổ sung, đa dạng hóa nguồn cung và tuyến vận chuyển, tối ưu công suất. PVN cũng kiến nghị Chính phủ xem xét giao quyền nhập khẩu dầu thô và nguyên liệu để cung ứng cho các nhà máy lọc dầu nội địa.
Kích hoạt ưu tiên dự trữ dầu thô trong nước:
Ông Nguyễn Việt Thắng - Tổng Giám đốc Công ty CP Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) cho biết: Nhà máy Lọc dầu Dung Quất hiện đang sử dụng khoảng 30-35% dầu thô nguyên liệu nhập khẩu, chủ yếu từ Tây Phi, khu vực Địa Trung Hải, Mỹ và một phần từ Trung Đông. Vì vậy, nếu xung đột tại Trung Đông kéo dài, giá dầu, phụ phí, cước vận chuyển và phí bảo hiểm có thể tiếp tục tăng mạnh, làm gia tăng đáng kể chi phí đầu vào và rủi ro tài chính.
Ngay từ đầu năm 2026, nhằm chuẩn bị cho mục tiêu tăng trưởng hai con số và chủ động ứng phó với các tình huống bất thường của thế giới, cũng như tác động của biến đổi khí hậu, BSR đã chủ động nâng mức tồn kho, điều hành sản xuất linh hoạt theo nhu cầu thị trường và đa dạng hóa nguồn nguyên liệu.
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Công Thương và PVN, BSR đã ký thỏa thuận cung cấp dầu thô với hai tập đoàn năng lượng lớn của Mỹ là ExxonMobil, Chevron nhằm bảo đảm nguồn cung ổn định và góp phần giảm chênh lệch cán cân thương mại Việt Nam - Mỹ.
Trong giai đoạn tháng 3-5/2026, BSR đã ký hợp đồng mua khoảng 3 triệu thùng dầu thô nhập khẩu thông qua các đầu mối (Qua Iboe, Bu Attifel, Medanito và Palanca Blend). Mặc dù các nguồn này không thuộc khu vực xung đột trực tiếp, căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông vẫn có thể tác động gián tiếp đến tiến độ giao hàng, chi phí vận tải, bảo hiểm và an toàn hàng hải.
Đáng chú ý, với nhu cầu mua bổ sung theo hợp đồng chuyến trong tháng 5/2026 ước khoảng 900 nghìn đến 1 triệu thùng và tháng 6/2026 khoảng 1-1,3 triệu thùng, việc vận hành Nhà máy ở mức 118-120% công suất sẽ chịu áp lực lớn về giá cả và khả năng tiếp cận nguồn hàng.
Theo ông Nguyễn Việt Thắng: Trong tháng 2 vừa qua, BSR đã triển khai mua cấu tử xăng có trị số octane cao để phối trộn, nhưng do nguồn cung khan hiếm và thị trường biến động mạnh, BSR chưa thể mua đủ khối lượng theo kế hoạch, ảnh hưởng đến phương án gia tăng chế biến trong tháng 3/2026.
Để đạt công suất quy đổi tối thiểu 120% (bao gồm dầu thô và nguyên liệu trung gian), BSR đang nỗ lực tìm kiếm và mua bổ sung nguồn nguyên liệu trong tháng 3-4/2026, làm gia tăng áp lực mua hàng trong bối cảnh thị trường bất lợi.
Bên cạnh yếu tố giá, một rủi ro khác là khả năng gián đoạn chuỗi cung ứng do một số quốc gia có thể hạn chế xuất khẩu để ưu tiên nhu cầu nội địa, trong bối cảnh thị trường vận tải biển và bảo hiểm biến động khó lường, thời gian giao hàng kéo dài. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch vận hành Nhà máy, đặc biệt trong giai đoạn cuối quý 2 và đầu quý 3/2026.
Thực tế cho thấy, khi xảy ra bất ổn địa chính trị và xung đột tại Trung Đông, nhu cầu đối với dầu thô nội địa sẽ gia tăng, dẫn đến cạnh tranh gay gắt trong các đợt đấu thầu quốc tế mua dầu thô Việt Nam.
Để giảm thiểu nguy cơ thiếu hụt dầu thô nguyên liệu khiến nhà máy lọc dầu Dung Quất phải điều chỉnh giảm công suất, hoặc không hoàn thành kế hoạch được giao, BSR đã kiến nghị các cấp có thẩm quyền và PVN xem xét cơ chế ưu tiên cho BSR được mua tối đa dầu thô và khí ngưng tụ condensate khai thác trong nước. Đồng thời, cơ quan quản lý cần áp dụng cơ chế tạm thời ưu tiên dầu thô nội địa cho Nhà máy Lọc dầu Dung Quất để chế biến xăng dầu thành phẩm, cũng như hạn chế xuất khẩu dầu thô nội địa trong giai đoạn cao điểm rủi ro (đến hết quý 3/2026, hoặc đến khi thị trường quốc tế ổn định), nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Đặc biệt, để bảo đảm đủ dầu phục vụ vận hành trong tháng 5-6/2026, BSR đề nghị được phép mua trực tiếp dầu thô từ các lô Ruby, Bunga Orkid (BO) và Chim Sáo giao trong giai đoạn này theo mức giá chào thầu cao nhất của kỳ gần nhất, như một giải pháp tình thế nhằm bảo đảm nguồn cung kịp thời trong bối cảnh thị trường biến động mạnh./.
BBT TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Link tham khảo:
https://energydigital.com/news/how-war-in-iran-will-disrupt-global-supplies-of-oil-and-gas
https://www.abc.net.au/asia/what-war-in-the-middle-east-means-for-asia-s-energy-needs/106409790
https://asiatimes.com/2026/03/iran-war-to-speed-asias-clean-energy-shift/
