Phát triển điện mặt trời mái nhà và lưu trữ năng lượng cho KCN - Ghi nhận thực tế tại Đồng Nai, Bắc Ninh
08:28 | 16/01/2026
Báo cáo “Phân tích chuyên sâu một số sự kiện tiêu biểu, đánh giá tác động đa chiều và dự báo xu hướng chiến lược” dưới đây được chuyên gia Tạp chí Năng lượng Việt Nam xây dựng dựa trên phương pháp phân tích định tính kết hợp với dữ liệu định lượng từ các nguồn tin cậy, sẽ giải phẫu chi tiết 10 sự kiện tiêu biểu nhất của ngành năng lượng Việt Nam trong năm 2025. Những sự kiện này được lựa chọn không chỉ dựa trên quy mô vốn đầu tư, hay tính chất truyền thông, mà dựa trên mức độ tác động cấu trúc (structural impact) mà chúng tạo ra đối với an ninh năng lượng, kinh tế vĩ mô và địa chính trị của Việt Nam trong thập kỷ tới. |
1. Thực trạng triển khai điện mặt trời mái nhà:
Sự phân hóa giữa các khu vực, kết quả khảo sát cho thấy mức độ sẵn sàng và tỷ lệ lắp đặt điện mặt trời mái nhà có sự khác biệt rõ rệt giữa hai miền Nam - Bắc.
Tại khu vực phía Nam (Đồng Nai): KCN Amata Biên Hòa hiện là đơn vị tiên phong khi đạt được 87% các chỉ số theo Khung quốc tế về KCN sinh thái. KCN này đã tối ưu hóa 108.000 m² mái nhà của 14 nhà máy để lắp đặt 18.000 kWp điện mặt trời mái nhà, góp phần giảm 13.000 tấn CO2 mỗi năm. Trong khi đó, KCN Long Đức hiện có khoảng 10 MW điện mặt trời mái nhà đã đi vào hoạt động, nhưng đơn vị quản lý đang khống chế tỷ lệ thâm nhập ở mức 20% tổng công suất để đảm bảo an toàn lưới điện nội bộ.
![]() |
| Hệ thống điện mặt trời mái nhà trong Khu công nghiệp Long Bình, tỉnh Đồng Nai. Ảnh: Hoàng Lộc. |
Trong khi đó, tại khu vực phía Bắc (Bắc Ninh): Tốc độ phát triển có phần chậm hơn. Tại KCN VSIP và Kinh Bắc, tỷ lệ nhà xưởng lắp đặt điện mặt trời mái nhà hiện chỉ dao động dưới mức 10%. Nguyên nhân chủ yếu do điều kiện thời tiết miền Bắc có mùa đông nắng kém, hiệu suất bức xạ thấp hơn miền Nam đáng kể. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp tại KCN Quế Võ vẫn đang gặp khó khăn trong việc xin phê duyệt thủ tục từ cơ quan chức năng địa phương do các hướng dẫn chưa thực sự rõ ràng.
![]() |
| Hệ thống điện mặt trời mái nhà trong Khu công nghiệp VSIP. |
2. Hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS):
Hệ thống BESS được các chủ đầu tư KCN đánh giá là giải pháp then chốt để giải quyết vấn đề dao động điện áp và “cắt đỉnh” (peak-shaving). Tuy nhiên, rào cản lớn nhất hiện nay vẫn là chi phí đầu tư thiết bị quá lớn và bài toán kinh tế chưa thực sự hấp dẫn, nếu không có các khoản tín dụng ưu đãi.
Hiện tại, hầu hết các KCN khảo sát đều chưa lắp đặt BESS trên quy mô lớn, mà chỉ dừng lại ở mức nghiên cứu, hoặc lập kế hoạch cho giai đoạn sau năm 2025. Trong khi đó, KCN Long Đức bày tỏ sự quan tâm đặc biệt đến BESS nhằm tích trữ điện giờ thấp điểm để phát ra vào giờ cao điểm, giúp ổn định chất lượng điện năng cho các khách hàng Nhật Bản sử dụng thiết bị độ chính xác cao.
![]() |
| Đoàn công tác của Vụ Tài chính - Kinh tế ngành (Bộ Tài chính), UNOPS, Hiệp hội Năng lượng Việt Nam đi thực tế tại khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai ngày 25/12/2025. Ảnh: Hoàng Lộc. |
3. “Nút thắt” kỹ thuật và tiêu chuẩn xây dựng:
Một vấn đề phát sinh đầy thách thức được ghi nhận tại KCN Long Thành (Almata) là sự thay đổi của tiêu chuẩn kỹ thuật. Tiêu chuẩn tải trọng mới (TCVN 2737:2023) có những thay đổi lớn về cách tính toán hệ số tải trọng gió so với tiêu chuẩn cũ năm 1993. Các nhà xưởng cũ được thiết kế theo chuẩn 1993 hiện không đủ điều kiện chịu tải để lắp thêm hệ thống pin năng lượng mặt trời (trung bình 15-16 kg/m²), nếu không được gia cố khung thép. Việc gia cố nhà xưởng đang hoạt động là rất khó khăn, thường chỉ có thể thực hiện khi nhà xưởng trống, hoặc thay đổi khách thuê. Điều này làm chậm tiến độ xanh hóa các khu nhà xưởng hiện hữu.
4. Rào cản pháp lý và mô hình quản lý năng lượng:
Qua khảo sát cũng nghi nhận sự thiếu đồng bộ trong hành lang pháp lý đang là lực cản lớn nhất khiến cả chủ đầu tư KCN và khách thuê e dè. Mặc dù đã có Nghị định 57/2025 về Cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA), nhưng các KCN vẫn lúng túng trong việc triển khai do chưa có hướng dẫn chi tiết về việc bán điện nội bộ giữa các doanh nghiệp trong cùng một KCN.
Một vấn đề khác là tranh chấp quyền sở hữu mái nhà. Tại hầu hết các KCN, mái nhà thuộc sở hữu của khách thuê trong thời hạn 50 năm. Nếu khách thuê phá sản trong khi hệ thống pin mặt trời do một đơn vị thứ ba (ESCO) đầu tư trên mái đó, thì việc xử lý tài sản và hợp đồng mua bán điện sẽ vô cùng phức tạp.
Ngoài ra, quy định về phòng cháy chữa cháy (PCCC) và giấy phép môi trường yêu cầu việc lắp đặt điện mặt trời mái nhà làm thay đổi công năng mái phải thẩm duyệt lại PCCC, gây tốn kém thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.
5. Nguy cơ ô nhiễm môi trường từ việc vận hành:
Một khía cạnh ít được chú ý, nhưng đã được KCN Long Đức cảnh báo là vấn đề xử lý nước thải khi vệ sinh tấm pin. Việc tẩy rửa pin thường sử dụng hóa chất, hoặc xà phòng, trong khi hệ thống thoát nước trên mái nhà xưởng thường dẫn trực tiếp ra hệ thống thoát nước mưa, thay vì nước thải công nghiệp. Điều này có thể dẫn đến vi phạm nghiêm trọng luật môi trường, nếu hóa chất đọng lại gây ô nhiễm nguồn nước.
Ngoài ra, vấn đề xử lý tấm pin hết hạn sử dụng (rác thải điện tử) vẫn chưa có quy chuẩn quốc gia cụ thể, gây băn khoăn về trách nhiệm cuối cùng của chủ đầu tư hạ tầng.
Kết luận và kiến nghị:
Qua khảo sát 4 KCN, có thể thấy các doanh nghiệp đều có nhu cầu rất lớn về năng lượng xanh để đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Để thúc đẩy tiến trình này, cần có những giải pháp đồng bộ:
1. Về chính sách: Cần sớm hoàn thiện hướng dẫn thực hiện DPPA cho các đối tượng trong KCN và nới lỏng các thủ tục cấp phép điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ.
2. Về tài chính: Chính phủ cần kết nối các KCN với các nguồn tài chính xanh, trái phiếu xanh để hỗ trợ vốn đầu tư cho hệ thống BESS và gia cố nhà xưởng.
3. Về quản lý: Khuyến khích mô hình “một đầu mối” quản lý năng lượng trong KCN (Microgrid) để đảm bảo công bằng trong phân phối điện sạch và an toàn vận hành lưới điện.
Xanh hóa KCN không chỉ là câu chuyện lắp đặt vài tấm pin mặt trời, mà là một bài toán hệ thống đòi hỏi sự cân bằng giữa rủi ro kỹ thuật, bài toán kinh tế và sự minh bạch về pháp lý. Nếu các nút thắt này được tháo gỡ, năng lượng xanh sẽ trở thành thỏi nam châm mới thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao vào Việt Nam./.
TS. NGUYỄN ANH TUẤN (B) - HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM



