RSS Feed for Chiến lược phát triển năng lượng nguyên tử Việt Nam tầm nhìn đến năm 2050 | Tạp chí Năng lượng Việt Nam Thứ ba 17/03/2026 08:50
TRANG TTĐT CỦA TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Chiến lược phát triển năng lượng nguyên tử Việt Nam tầm nhìn đến năm 2050

 - Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng vừa ký Quyết định số 438/QĐ-TTg ngày 16/3/2026 phê duyệt Chiến lược phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050 (Chiến lược).
Việt Nam cần làm gì để xây dựng năng lực đánh giá an toàn pháp quy cho nhà máy điện hạt nhân? Việt Nam cần làm gì để xây dựng năng lực đánh giá an toàn pháp quy cho nhà máy điện hạt nhân?

Khai bút đầu Xuân Bính Ngọ (2026), trên cơ sở tài liệu Planning, management and conduct of regulatory safety review and assessment for nuclear power plants (IAEA-SRS-125, 2025) và các tài liệu liên quan của IAEA, chuyên gia Tạp chí Năng lượng Việt Nam tập trung làm rõ: (i) Nội hàm và phạm vi của đánh giá an toàn pháp quy đối với nhà máy điện hạt nhân; (ii) Những năng lực cốt lõi mà một quốc gia mới triển khai (như Việt Nam) cần chuẩn bị để thực hiện hiệu quả công tác này. (Ghi chú: Trong bài viết này “đánh giá an toàn pháp quy” được sử dụng bao hàm cả hoạt động “xem xét và đánh giá an toàn pháp quy” theo định nghĩa của IAEA “Regulatory safety review and assessment”). Rất mong nhận được sự chia sẻ của bạn đọc.

Kinh nghiệm quốc tế về tăng tốc triển khai lò phản ứng mô-đun nhỏ - Hàm ý chính sách cho Việt Nam Kinh nghiệm quốc tế về tăng tốc triển khai lò phản ứng mô-đun nhỏ - Hàm ý chính sách cho Việt Nam

Bài viết dưới đây, chuyên gia Tạp chí Năng lượng Việt Nam tổng hợp kinh nghiệm quốc tế và các khuyến nghị của IAEA liên quan đến việc tăng tốc triển khai lò phản ứng mô-đun nhỏ (Small Modular Reactor - SMR). Trên cơ sở đó, phân tích khả năng vận dụng các kinh nghiệm và khuyến nghị này vào điều kiện thực tế của Việt Nam. Trọng tâm của bài viết không đi sâu vào các chi tiết kỹ thuật chuyên ngành, mà tập trung vào các vấn đề chính sách, thể chế, pháp quy, lộ trình triển khai, nhằm phục vụ công tác hoạch định và tham khảo ở cấp chiến lược... (Nguồn tham khảo chính là tài liệu “Considerations to facilitate the accelerated deployment of small modular reactors” - IAEA-TECDOC-2104, Vienna, 2025).

Quản lý tri thức và phát triển nguồn nhân lực trong chương trình điện hạt nhân: Kinh nghiệm quốc tế, hàm ý cho Việt Nam Quản lý tri thức và phát triển nguồn nhân lực trong chương trình điện hạt nhân: Kinh nghiệm quốc tế, hàm ý cho Việt Nam

Trong bối cảnh Việt Nam đang xem xét các phương án phát triển điện hạt nhân trong dài hạn, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về Quản lý tri thức hạt nhân (NKM) và Phát triển nguồn nhân lực (HRD) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả về chiến lược, lẫn thể chế. Trên cơ sở tài liệu IAEA, chuyên gia Tạp chí Năng lượng Việt Nam phân tích các vấn đề trọng tâm, bao gồm: Giáo dục - đào tạo, phát triển nhân lực cho dự án xây dựng mới, năng lực pháp quy, nhân lực cho công nghệ lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) và cơ chế chuyển giao tri thức; từ đó đề xuất một số hàm ý chính sách đối với Việt Nam.

Theo Quyết định số 438:

1. Mục tiêu tổng quát của Chiến lược là phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử bảo đảm an toàn, an ninh, phục vụ hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường và an ninh năng lượng quốc gia, góp phần đạt mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050.

2. Đưa vào vận hành các nhà máy điện hạt nhân một cách an toàn, hiệu quả, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; hoàn thành một số nhiệm vụ cơ bản trong chương trình phát triển điện hạt nhân.

3. Mở rộng ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong các ngành kinh tế - kỹ thuật.

4. Hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản lý nhà nước, tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ hạt nhân, từng bước làm chủ các công nghệ chiến lược, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử, bảo đảm an toàn, an ninh.

Vận hành an toàn 2 nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận vào năm 2035:

1. Phấn đấu đến năm 2035, hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành an toàn 2 nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2.

2. Phấn đấu mức tham gia của các doanh nghiệp trong nước đạt tỷ lệ 30% tổng mức đầu tư các hạng mục xây dựng, lắp đặt của các hạng mục phụ trợ dự án điện hạt nhân.

3. Phấn đấu triển khai ít nhất 1 dự án nhà máy điện hạt nhân sử dụng công nghệ lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ.

4. Hoàn thành phát triển cơ sở hạ tầng điện hạt nhân.

5. Hoàn thành định hướng phát triển các dự án điện hạt nhân tiếp theo theo hướng an toàn, bền vững, hiệu quả, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng "0".

Làm chủ các kỹ thuật hạt nhân và công nghệ bức xạ tiên tiến trong quản lý chất lượng công trình, chất lượng sản phẩm:

Về phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ, mục tiêu đến năm 2035 như sau:

1. Nâng quy mô, hiệu quả kinh tế của các ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ trong các ngành và lĩnh vực, đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 10-15%/năm.

2. Y học bức xạ đạt trình độ tiên tiến trong các nước ASEAN, phấn đấu đạt 20 máy CT/triệu dân, 10 máy MRI/triệu dân, 1 máy xạ hình/triệu dân, từ 1-2 máy xạ trị gia tốc/triệu dân, đạt tỷ lệ 100% X-quang số.

3. Làm chủ các kỹ thuật hạt nhân và công nghệ bức xạ tiên tiến trong quản lý chất lượng công trình, chất lượng sản phẩm, tối ưu hóa quá trình công nghiệp, xử lý và biến tính vật liệu.

4. Chế tạo, sản xuất một số loại thiết bị bức xạ và thiết bị ghi đo bức xạ có nhu cầu lớn trong các ngành kinh tế - xã hội thay thế cho nhập khẩu...

Về phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ hạt nhân đến năm 2035:

Bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, phát triển nguồn nhân lực, đến năm 2035 phát triển hệ thống các cơ sở nghiên cứu tiên tiến. Trong đó, tập trung đầu tư hình thành 2 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về công nghệ điện hạt nhân, công nghệ đất hiếm, urani, titan; 3-5 phòng thí nghiệm tiên tiến; phấn đấu có 4-5 nhóm nghiên cứu có khả năng làm chủ một số công nghệ hạt nhân hỗ trợ các dự án điện hạt nhân và lò phản ứng nghiên cứu. Đầu tư 3-5 cơ sở đào tạo đại học về điện hạt nhân đạt trình độ tiên tiến, ngang tầm quốc tế...

Đến năm 2050, năng lượng nguyên tử trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật:

Tầm nhìn đến năm 2050, năng lượng nguyên tử trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật, đóng góp quan trọng cho an ninh năng lượng, kinh tế xanh và phát triển bền vững đất nước. Cụ thể:

1. Tỷ trọng điện hạt nhân đóng góp khoảng 6-8% trong tổng sản lượng điện quốc gia, bổ sung thêm khoảng 4 lò phản ứng hạt nhân công suất lớn và 10-15 lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ.

2. Xem xét nâng cao hơn tỷ trọng điện hạt nhân và cân đối số lượng lò phản ứng hạt nhân công suất lớn, lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ khi điều kiện kinh tế, kỹ thuật thuận lợi, phù hợp với tính toán tối ưu của hệ thống điện.

3. Cơ bản làm chủ công nghệ hạt nhân, phát triển một số tập đoàn, doanh nghiệp dẫn dắt, có năng lực xây lắp, thiết kế, chế tạo, sản xuất vật liệu, thiết bị cho điện hạt nhân.

4. Làm chủ công nghệ bức xạ và kỹ thuật hạt nhân tiên tiến trong y tế, công nghiệp, nông nghiệp, tài nguyên, môi trường, đóng góp hiệu quả cho phát triển kinh tế, xã hội.

5. Đưa vào vận hành trung tâm máy gia tốc lớn.

6. Tiềm lực, trình độ khoa học và công nghệ hạt nhân của Việt Nam được phát triển ngang bằng với mức trung bình của các nước phát triển, có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao, bảo đảm nền tảng cho phát triển ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ và điện hạt nhân; trở thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng hạt nhân khu vực Đông Nam Á.

Theo Chiến lược, định hướng phát triển điện hạt nhân là xây dựng, thực hiện chương trình phát triển điện hạt nhân theo các quy mô linh hoạt, lộ trình phù hợp, kết hợp hài hòa giữa các nhà máy điện hạt nhân công suất lớn và các nhà máy điện hạt nhân lắp ráp mô-đun nhỏ. Chương trình được cụ thể hóa thành các cơ chế, chính sách, kế hoạch, dự án, đề án... bảo đảm đồng bộ, thống nhất.

Phát triển, sản xuất và ứng dụng một số thuốc phóng xạ, đồng vị phục vụ chẩn đoán, điều trị bệnh:

1. Định hướng phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ là phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ theo hướng đồng bộ, hiệu quả, bền vững, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân và bảo vệ môi trường.

2. Trong lĩnh vực y tế, phát triển mạng lưới các cơ sở xạ trị, y học hạt nhân, điện quang theo hướng cân đối, đồng bộ, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân tại các vùng, địa phương trong cả nước. Tăng cường nghiên cứu, phát triển, sản xuất và ứng dụng một số thuốc phóng xạ, đồng vị phục vụ chẩn đoán, điều trị bệnh trên cơ sở đầu tư và khai thác hiệu quả hệ thống cyclotron và lò phản ứng hạt nhân hiện có. Đào tạo, bổ sung nhân lực y học bức xạ đạt tỷ lệ tương đương với các nước thu nhập trung bình cao trên thế giới.

3. Trong lĩnh vực công nghiệp, phát triển và làm chủ các công nghệ tiên tiến, công nghệ mới về ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ. Từng bước chế tạo, sản xuất thiết bị bức xạ và thiết bị ghi đo bức xạ, xử lý và biến tính vật liệu. Gắn nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với nhu cầu thực tiễn sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh, hiệu quả kinh tế của các ngành công nghiệp trong nước.

4. Trong lĩnh vực nông nghiệp, nghiên cứu, tiếp cận và làm chủ kỹ thuật tiên tiến trong ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ phục vụ chọn tạo giống cây trồng, ưu tiên nghiên cứu, phát triển một số giống cây trồng đột biến phóng xạ có giá trị nhằm tăng năng suất, chất lượng, nâng cao giá trị nông sản. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ bức xạ, kỹ thuật hạt nhân trong bảo vệ thực vật, nông hóa, thổ nhưỡng, chăn nuôi, thú y, nuôi trồng thủy sản, bảo quản chế biến; tăng cường đầu tư, phát triển cơ sở chiếu xạ...

5. Định hướng phát triển tiềm lực khoa học - công nghệ hạt nhân theo hướng hiện đại, đồng bộ và hiệu quả, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Thực hiện đồng bộ nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.

6. Phát triển cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia theo hướng chuyên nghiệp, bảo đảm chức năng pháp quy phù hợp với khuyến cáo của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế và có đủ năng lực, tiềm lực, tổ chức, biên chế, làm nòng cốt trong hệ thống quản lý nhà nước về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân, an ninh hạt nhân và thanh sát hạt nhân, đáp ứng yêu cầu phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử, đặc biệt là điện hạt nhân.

7. Phát triển mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia hiện đại, đồng bộ trên cơ sở tận dụng hiệu quả địa điểm các trạm quan trắc môi trường sẵn có. Bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao cho các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, phát triển, ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ và phát triển điện hạt nhân. Phát triển đội ngũ kỹ sư, nhà khoa học và chuyên gia trong lĩnh vực khoa học - công nghệ hạt nhân.../.

BBT TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Có thể bạn quan tâm

Các bài đã đăng

[Xem thêm]
Phiên bản di động