RSS Feed for Chính sách đầu tư ẩn cho lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) - Nhìn từ sự kiện TerraPower của Hoa Kỳ | Tạp chí Năng lượng Việt Nam Thứ bảy 11/04/2026 08:32
TRANG TTĐT CỦA TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Chính sách đầu tư ẩn cho lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) - Nhìn từ sự kiện TerraPower của Hoa Kỳ

 - Mặc dù các chương trình đầu tư trực tiếp để phát triển lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ (SMR) trong vòng mấy thập kỷ đã thúc đẩy các lò phản ứng tiên tiến, nhưng nền tảng cho những công nghệ này đã được Hoa Kỳ chuẩn bị từ lâu hơn thế.
Công nghệ lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) - Nhìn từ sự kiện TerraPower của Hoa Kỳ Công nghệ lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) - Nhìn từ sự kiện TerraPower của Hoa Kỳ

TerraPower đã đi vào lịch sử công nghệ hạt nhân Hoa Kỳ khi được Cơ quan Pháp quy Quốc gia Hoa Kỳ (NRC) chính thức cấp phép vào ngày 5/3/2026. Mặc dù không phải là lò SMR đầu tiên trên thế giới được cấp phép thương mại, nhưng với những gì đã diễn ra, TerraPower đã gợi mở rất nhiều vấn đề thảo luận, trao đổi và những bài học kinh nghiệm mà những quốc gia phát triển điện hạt nhân, trong đó có Việt Nam, có thể soi chiếu, học hỏi.

Đầu tư, hỗ trợ phát triển lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) - Nhìn từ sự kiện TerraPower của Hoa Kỳ Đầu tư, hỗ trợ phát triển lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) - Nhìn từ sự kiện TerraPower của Hoa Kỳ

Đằng sau mỗi bước tiến công nghệ hạt nhân luôn là một nền tảng chính sách vững chắc được chính phủ xây dựng và hậu thuẫn trên nhiều phương diện. Hoa Kỳ - quốc gia dẫn đầu thế giới về số lượng công nghệ lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) được thiết kế và phát triển, cũng không phải ngoại lệ. Câu hỏi đặt ra là: Nhờ đâu Hoa Kỳ luôn giữ được vị thế trong một thế giới công nghệ luôn chuyển động? Liệu quốc gia này chỉ thuần túy dựa vào những kinh nghiệm công nghệ tích lũy trong 7 thập niên phát triển công nghệ hạt nhân? Có phải quá trình phát triển đầy cạnh tranh với những quốc gia có nền tảng hạt nhân vững vàng như Nga, hay những quốc gia đầy tham vọng vươn lên như Trung Quốc cũng là yếu tố quan trọng thúc đẩy công nghệ hạt nhân Hoa Kỳ tiến tới mốc xa hơn?

Các chương trình như Hỗ trợ kỹ thuật cấp phép SMR (SMR Licensing Technical Support - LTS), Các cơ hội của ngành công nghiệp Hoa Kỳ trong phát triển công nghệ hạt nhân tiên tiến (U.S. Industry Opportunities for Advanced Nuclear Technology Development, DE-FOA-0001817), Chương trình nghiên cứu và phát triển SMR tiên tiến (Advanced SMR R&D Program), Chương trình trình diễn lò phản ứng tiên tiến (Advanced Reactor Demonstration Program ARDP)… mới chỉ phản ánh phần dễ nhận biết trong chính sách tài trợ của chính phủ Hoa Kỳ. Bởi sự phát triển của một công nghệ mang tính liên ngành cao (như công nghệ hạt nhân tiên tiến) cần đặt trên một nền tảng nghiên cứu, phát triển (R&D) hạt nhân được tích lũy và bồi đắp theo năm tháng.

Chúng ta biết rằng, công nghệ hạt nhân tiên tiến, bao gồm cả SMR, là một lĩnh vực liên ngành tiêu biểu, nơi gặp gỡ, giao thoa của nhiều ngành khoa học và công nghệ, không chỉ vật lý hạt nhân, vật lý lò phản ứng mà kết hợp với cơ khí, điện tử tự động hóa, hóa học hạt nhân, khoa học vật liệu, hóa nước... Vì vậy, sự phát triển gần như bùng nổ của các dự án SMR nói riêng và công nghệ hạt nhân tiên tiến nói chung ở một quốc gia như Hoa Kỳ trong một thập kỷ qua không chỉ cho thấy sự phát triển đồng đều của lĩnh vực công nghệ hạt nhân mà còn các lĩnh vực công nghệ liên quan. Đó là một quá trình tích lũy know-how từ lớp lớp các dự án nghiên cứu khác nhau, và đều xuất phát từ các khoản tài trợ của chính phủ.

Tài trợ cho nghiên cứu cơ bản:

Trong cuốn sách mới được xuất bản vào tháng 1/2026, “New Directions in Nuclear Enegy: Innovation and Opportunities in Fission and Fusion for Global Decarbonization” (Những chiều hướng mới của năng lượng hạt nhân: Đổi mới sáng tạo và những cơ hội trong phân hạch hạt nhân và nhiệt hạch hạt nhân để giảm phát thải carbon toàn cầu), đã điểm qua các dự án phát triển công nghệ hạt nhân tiên tiến khắp thế giới và đặc biệt tập trung vào những dự án lò phản ứng tiên tiến ở Bắc Mỹ. Họ cho rằng: Nhiều thiết kế lò phản ứng tiên tiến trong số đó đều bắt nguồn từ những nghiên cứu và phát triển tại các phòng thí nghiệm quốc gia của Hoa Kỳ ở nhiều thập kỷ trước trong khi có rất ít thông tin về những dự án tương tự (kể cả các dự án đã thành hình ở Nga và Trung Quốc), mặc dù người ta tin rằng, đằng sau những dự án đó, chủ yếu vẫn là sự hỗ trợ ở nhiều khía cạnh khác nhau của chính phủ.

Bộ Năng lượng Hoa Kỳ (DOE) trực tiếp quản lý 17 phòng thí nghiệm quốc gia - những nơi được đặt mục tiêu giải quyết các thách thức khoa học của thời đại với cách tiếp cận liên ngành và nhấn mạnh vào việc chuyển đổi kết quả nghiên cứu cơ bản, thành đổi mới công nghệ. Ba trong số 17 phòng thí nghiệm này nổi bật lên như những bệ đỡ chính cho SMR:

1. Phòng thí nghiệm Quốc gia Idaho (INL) - trung tâm hàng đầu Hoa Kỳ trong nghiên cứu các lò phản ứng tiên tiến. Cụ thể là nghiên cứu và phát triển chu trình nhiên liệu giúp giải quyết những vấn đề liên quan đến vòng đời của nhiên liệu hạt nhân như sự bền vững, an toàn hạt nhân, tính kinh tế…; phát triển các phương pháp mô phỏng đa trường vật lý (Multiphysics Methods) để mô phỏng những tương tác vật lý, hóa học phức hợp trong lò phản ứng hạt nhân, qua đó phát triển những công cụ mô phỏng cho phép sử dụng nhiên liệu hạt nhân hiệu quả hơn, ít tạo ra chất thải hạt nhân hơn.

John Grossenbacher - cựu Giám đốc INL đã từng tự hào nói rằng: “Lịch sử của năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình chủ yếu được viết tại Idaho”.

2. Phòng thí nghiệm Quốc gia Oak Ridge (ORNL) tập trung vào nghiên cứu khoa học neutron, khoa học hạt nhân, khoa học vật liệu hạt nhân với các đồng vị phóng xạ, vật liệu chịu nhiệt trong lò phản ứng… Trong đó, chương trình nghiên cứu khoa học hạt nhân chú trọng vào mở rộng vòng đời của các lò phản ứng thương mại hiện có; phát triển các thiết kế SMR ở dạng khái niệm ban đầu; đánh giá các lựa chọn địa điểm; kiểm tra nhiên liệu tiên tiến cho lò phản ứng nước nhẹ và lò tiên tiến; phát triển các hệ thống thiết bị và kiểm soát tiên tiến (I&C); phân tích các tác động an toàn của những thiết kế lò phản ứng tiên tiến.

3. Phòng thí nghiệm Quốc gia Argonne (ANL) là nơi có bề dày lịch sử thiết kế các lò phản ứng hạt nhân. Theo tài liệu của ANL, thì “Sự phát triển của hầu hết các dạng lò phản ứng hạt nhân đã được thương mại hóa đều dựa trên cả các thiết kế dạng khái niệm của lò phản ứng ở Argonne và thông tin rút ra từ các thực nghiệm hạt nhân ở đây”.

Kể từ năm 2005, hệ thống nghiên cứu Argonne-West ở Idaho đã được DOE sáp nhập vào Phòng thí nghiệm Kỹ thuật và Môi trường Quốc gia Idaho, thành Phòng thí nghiệm Quốc gia Idaho). Hệ thống nghiên cứu Argonne-East ở Illinois tập trung vào nghiên cứu lý thuyết, mô phỏng, phân tích an toàn hạt nhân và chu trình nhiên liệu cho các lò phản ứng thế hệ mới.

DOE đã thiết kế nhiều chương trình nghiên cứu cho các phòng thí nghiệm này như Sáng kiến thúc đẩy đổi mới sáng tạo hạt nhân (Gateway for Acceleration in Innovation in Nuclear GAIN), Chương trình hợp tác nghiên cứu năng lượng hạt nhân với trường đại học (Nuclear Energy University Program NEUP), Sáng kiến mạng lưới các cơ sở nghiên cứu khoa học quốc gia dùng chung (National Scientific User Facility NSUF)…

Với những nỗ lực đầu tư dài hạn này, Hoa Kỳ có thể sở hữu một năng lực dày dặn về công nghệ hạt nhân và đặc biệt là SMR không?

Hoa Kỳ dẫn đầu trong nghiên cứu cơ bản về SMR:

Mặc dù không dễ để truy ngược thời gian kiểm đếm vô số nỗ lực từ dưới lên của giới nghiên cứu Hoa Kỳ và các quốc gia khác trong nghiên cứu, phát triển công nghệ SMR, nhưng có thể tìm thấy nhiều dấu vết khoa học trên các tạp chí quốc tế chuyên ngành. Theo cách tiếp cận này, có thể tìm thấy những xuất bản liên quan đến SMR kể từ những năm 1990 đến năm 2025 trên hệ thống cơ sở dữ liệu uy tín là Scopus và Web of Science là 2.080 bài, trong đó có 1.148 bài báo và 932 báo cáo hội nghị. Nhờ vậy, chúng ta có thể so sánh năng lực của Hoa Kỳ với những quốc gia khác trong nghiên cứu SMR.

Nếu trong giai đoạn đầu tiên (vào những năm 1990), mới chỉ có một số ít nghiên cứu liên quan đến SMR được xuất bản, thì số lượng bắt đầu tăng đáng kể từ năm 2011 (thời điểm có tới 50 xuất bản), qua đó thể hiện mối quan tâm về SMR và các kỹ thuật liên quan đã bắt đầu lớn dần trong giới nghiên cứu.

Kể từ mốc thời gian này, số lượng nghiên cứu đã gia tăng một cách đều đặn, và tăng trưởng rất mạnh sau năm 2020. Xu hướng này phản ánh mối quan tâm về công nghệ ngày một lớn và sự tham gia ngày càng tăng của giới học thuật với các thiết kế SMR.

Nhìn cận cảnh các mối quan tâm học thuật về SMR, chúng ta kiểm tra các tạp chí xuất bản bài báo về SMR nhiều nhất, bao gồm 811 bài báo, chiếm 70,6 % tổng xuất bản.

Có thể thấy nghiên cứu liên quan đến SMR tập trung chủ yếu trên các tạp chí kỹ thuật hạt nhân, trong đó 6 tạp chí chiếm 578 bài báo, tương đương 50,3 %. Nuclear Engineering and Design có số lượng bài báo liên quan đến SMR nhiều nhất với 167 bài báo; Annals of Nuclear Energy và Progress in Nuclear Energy số hai và ba. Một số tạp chí về năng lượng uy tín như Applied Energy, Energy, và Energy Conversion and Management cũng có nhiều bài báo liên quan SMR.

Các bài báo này chủ yếu tập trung vào những phạm vi nghiên cứu quan trọng với công nghệ SMR như các chủ đề an toàn với hệ thống an toàn thụ động (passive safety system), tuần hoàn tự nhiên (natural circulation), sự cố nghiêm trọng (severe accident), đánh giá rủi ro xác suất (probabilistic risk assessment). Điều này phản ánh mối quan tâm nghiên cứu SMR trong các đặc điểm thiết kế và các sự cố nghiêm trọng liên quan đến năng lực tăng cường tính an toàn trong trình diễn công nghệ SMR.

Một số thiết kế kỹ thuật và mô hình hóa hệ thống cũng là những chủ đề trung tâm của các nghiên cứu như mô phỏng động lực học chất lưu CFD (CFD simulation), thủy nhiệt (thermal hydraulics) liên quan đến an toàn thụ động, mô phỏng truyền nhiệt, tối ưu hóa thiết kế dạng module. Qua đó cho thấy động lực học chất lỏng và truyền nhiệt vẫn là lĩnh vực nghiên cứu quan trọng với SMR như với lò công suất lớn truyền thống.

Nếu xét ở kiểu lò, các mô hình LWR- SMR như NuScale, SMART và lò phản ứng nước áp lực tích hợp (integral pressurized water reactor) có nhiều bài báo nhất. Các thiết kế non-LWR SMR như lò phản ứng làm mát bằng khí nhiệt độ cao (high-temperature gas-cooled reactor), lò muối nóng chảy (molten salt reactor) cũng hiện diện, chỉ dấu mối quan tâm mở rộng trong những khái niệm thiết kế SMR. Tuy nhiên, số lượng bài báo về non-LWR SMR vẫn còn ít hơn so với LWR-SMR cho thấy rất nhiều thách thức kỹ thuật chưa thể vượt qua.

Chính sách ‘đầu tư ẩn’ cho lò phản ứng mô-đun nhỏ - Nhìn từ sự kiện TerraPower của Hoa Kỳ
Ảnh minh họa mạng lưới các từ khóa trong nghiên cứu SMR. Kích thước các điểm đại diện cho tần suất xuất hiện của các từ khóa và các đường nối biểu thị cho sự đồng xuất hiện. Màu sắc của các điểm thể hiện sự phân cụm của các chủ đề nghiên cứu.

Việc thiết lập các từ khóa thể hiện các chủ đề nghiên cứu thành một mạng lưới tri thức về SMR đã cho thấy hệ thống an toàn thụ động là từ khóa trung tâm và xuất hiện đậm đặc nhất. Khái niệm này cũng là lõi của cụm chính (màu hồng), đi kèm với những thuật ngữ liên quan như tuần hoàn tự nhiên, sự cố nghiêm trọng và đánh giá rủi ro xác suất. Sự nổi bật của các kết nối này cho thấy sự tích hợp của các đặc trưng an toàn thụ động là một ưu tiên hàng đầu trong phát triển SMR. Cụm này cũng liên quan mật thiết với các thiết kế lò áp lực tích hợp như NuScale (Hoa Kỳ) và SMART (Hàn Quốc), chỉ dấu những nguyên tắc an toàn đang được tích hợp vào các dự án LWR- SMR.

Sự liên hệ chặt chẽ giữa hệ thống an toàn thụ động và các cụm sự cố nghiêm trọng (màu cam) cũng cho thấy các hệ thống thụ động đang được nghiên cứu không chỉ bởi sự tin cậy của nó, mà còn để tăng cường khả năng phục hồi của hệ thống trong những điều kiện sự cố nghiêm trọng.

Các bài báo liên quan đến SMR cũng là chỉ dấu về năng lực nghiên cứu và xuất bản của các quốc gia, thông qua địa chỉ các viện nghiên cứu, các phòng thí nghiệm của các tác giả chính. Trong số 2.080 bài báo được thống kê, các tác giả chính đều thuộc các quốc gia dẫn đầu về năng lực hạt nhân nói chung và SMR nói riêng (bao gồm Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hàn quốc, Canada và Iran).

Hoa Kỳ dẫn đầu không chỉ về số lượng bài báo, mà còn cả một phạm vi rộng các chủ đề liên quan SMR - từ lò phản ứng tiên tiến, thủy nhiệt, lò phản ứng nước áp lực tích hợp, hệ thống an toàn thụ động, đến mô phỏng CFD, tuần hoàn tự nhiên, tối ưu...

Trung Quốc đứng thứ hai với các chủ đề thủy nhiệt, các lò phản ứng làm mát bằng khí nhiệt độ cao (phản ánh thực tế là HTR-PM, lò phản ứng đầu tiên của Trung Quốc, được xây dựng, vận hành theo công nghệ này từ năm 2021), lò muối nóng chảy, học sâu, tuần hoàn tự nhiên, sự cố nghiêm trọng, mô phỏng CFD.

Hàn Quốc đứng thứ ba với trọng tâm nghiên cứu về an toàn như hệ thống an toàn thụ động, lò phản ứng SMART, phi boron hòa tan, tuần hoàn tự nhiên, chất hấp thụ có thể cháy, theo dõi tải (khả năng tự điều chỉnh công suất phát của nhà máy khớp với nhu cầu tiêu thụ trên lưới theo thời gian thực), mô phỏng Monte Carlo, lò phản ứng nước áp lực.

Canada đứng ở vị trí tiếp theo với chủ đề mô phỏng CFD, hệ thống năng lượng lai, lò muối nóng chảy, sự xạ phân (radiolysis) - quá trình phân hủy hóa học bằng bức xạ ion hóa nhằm tạo độ ổn định của lò phản ứng, lựa chọn địa điểm xây dựng (siting).

Iran là quốc gia cũng được đánh giá cao về xuất bản học thuật SMR, bao phủ các chủ đề mã mô phỏng vận chuyển hạt Monte Carlo (Monte Carlo N-Particle Transport Code), thuật toán gốc, tuần hoàn tự nhiên, neutronics, NuScale, hệ số đỉnh công suất, SMART, dự án SMR do Argentina thiết kế và xây dựng CAREM-25, học sâu, lò nước áp lực tích hợp, thủy nhiệt.

Nếu xét về góc độ cơ sở nghiên cứu SMR, sẽ thấy có xu hướng khác nhau ở các quốc gia. Tại Hoa Kỳ, các nghiên cứu về SMR trải rộng trên hệ thống các phòng thí nghiệm quốc gia và những gương mặt nổi trội là hai phòng thí nghiệm Idaho và Argonne. Tại Canada, Hàn Quốc và Trung Quốc, những cơ sở nghiên cứu mạnh đều chiếm ưu thế. Ví dụ Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến (KAIST), Viện nghiên cứu Năng lượng Hạt nhân Hàn Quốc (KAERI) ở Hàn Quốc; Trường Đại học Regina, Phòng thí nghiệm Hạt nhân Chalk River ở Canada; Trường Đại học Thanh Hoa, Trường Đại học Giao thông Tây An, Trường đại học Kỹ thuật Cáp Nhĩ Tân ở Trung Quốc.

Những thông tin này cho thấy, ở Hoa Kỳ, hay các quốc gia khác, nền tảng tri thức công nghệ hạt nhân vẫn từ các trường đại học, phòng thí nghiệm quốc gia. Đặc biệt tại Hoa Kỳ, hầu hết các dự án SMR đang được phát triển đều có điểm xuất phát là nghiên cứu từ hệ thống phòng thí nghiệm quốc gia:

- NuScale xuất phát từ nghiên cứu của một nhóm các nhà khoa học hạt nhân ở Trường Đại học bang Oregon và Phòng thí nghiệm Quốc gia Idaho.

- ARC-100 được phát triển dựa trên thiết kế EBR-II (20 MWe), vận hành từ năm 1965 đến 2005 tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Argonne.

- KP-FHR của Công ty Kairos Power dựa trên hai dạng lò tiên tiến được nghiên cứu ở Phòng thí nghiệm Quốc gia Oak Ridge - lò muối nóng chảy và lò làm mát bằng khí nhiệt độ cao.

- Dự án lò nhanh làm mát bằng muối Chloride nóng chảy (MCFR) của TerraPower liên quan đến nghiên cứu ở hai phòng thí nghiệm quốc gia Idaho và Oak Ridge.

- Dự án Aurora kế thừa từ nghiên cứu ở Idaho và Argonne...

Chúng ta cũng phải tính đến một yếu tố quan trọng là ở Hoa Kỳ (ngoại trừ phần nghiên cứu cơ bản được thực hiện chủ yếu ở các phòng thí nghiệm quốc gia và các trường đại học), phát triển các công nghệ SMR phần nhiều do các công ty kết hợp với giới học thuật thực hiện. Các dự án phát triển đều nhận tài trợ của cả hai bên (chính phủ và tư nhân), nên rất nhiều kết quả nghiên cứu là bí mật công nghệ, không công khai xuất bản.

Tuy nhiên, nếu tính đến số lượng các dự án SMR hứa hẹn hiện nay trên thế giới, thì Hoa Kỳ vẫn đang dẫn đầu về cả nghiên cứu cơ bản và phát triển công nghệ.

Thấy gì từ đầu tư cơ bản cho SMR của Hoa Kỳ?

Không thể phủ nhận những chính sách thúc đấy và khuyến khích trực tiếp cho công nghệ SMR của Hoa Kỳ. Dẫu vậy, những chính sách này có thể không đi đến mục tiêu đã đề ra là phát triển và thương mại hóa các công nghệ SMR và công nghệ hạt nhân tiên tiến trên thị trường nội địa và thế giới, bất chấp số lượng lớn ngân sách chính phủ Hoa Kỳ rót vào. Bởi, những nỗ lực này sẽ vô ích, nếu không được đặt trên nền tảng nghiên cứu đa ngành về công nghệ hạt nhân đã được xây dựng hàng thập kỷ trước, với nhiều chủ đề khác nhau như an toàn thụ động (passive safety system), tuần hoàn tự nhiên (natural circulation), sự cố nghiêm trọng (severe accident), đánh giá rủi ro sác xuất (probabilistic risk assessment), mô phỏng động lực học chất lưu CFD (CFD simulation), thủy nhiệt (thermal hydraulics)…

Mặt khác, việc đầu tư cho nghiên cứu tại các phòng thí nghiệm quốc gia và các trường đại học kỹ thuật như Viện Công nghệ Massachusetts, Đại học Texas A&M, Đại học Bang Oregon, Đại học Bắc Carolina, Đại học Wisconsin-Madison, Đại học Michigan… còn đem lại cho Hoa Kỳ một lực lượng hùng hậu các nhà nghiên cứu, chuyên gia hạt nhân cả về mô phỏng, lý thuyết lẫn thực nghiệm. Việc mở rộng cánh cửa phòng thí nghiệm quốc gia với hệ thống cơ sở hạ tầng phong phú và những thiết bị nghiên cứu không nơi nào có không chỉ làm tăng tần suất sử dụng hệ thống này, mà còn tạo những cơ hội để thiết lập các nhóm nghiên cứu liên ngành để giải những bài toán thách thức cả về nguồn lực lẫn năng lực.

Đó là lý do vì sao vào năm 2007, DOE thành lập Chương trình cơ sở nghiên cứu khoa học quốc gia lò phản ứng thử nghiệm tiên tiến dùng chung (Advanced Test Reactor National Scientific User Facility ATR NSUF), cho phép các trường đại học khai thác lò phản ứng thử nghiệm tiên tiến ở Phòng thí nghiệm Quốc gia Idaho, thúc đẩy nghiên cứu về vật liệu hạt nhân tiên tiến. Hai năm sau (vào năm 2009), DOE mở rộng và chuyển đổi thành Chương trình các trường đại học nghiên cứu năng lượng hạt nhân (Nuclear Energy University Program NEUP), khuyến khích các trường đại học xây dựng hợp tác về vật lý lò phản ứng, vật liệu hạt nhân, công nghệ hạt nhân tiên tiến với các khoản tài trợ hằng năm ở các bậc đại học, cao học và tiến sĩ.

Đến năm 2016, DOE tiếp tục mở rộng thành Chương trình các cơ sở nghiên cứu khoa học hạt nhân dùng chung (Nuclear Science User Facilities NSUF), xây dựng mạng lưới nghiên cứu công nghệ hạt nhân tiên tiến rộng lớn hơn gồm nhiều phòng thí nghiệm và trường đại học mà DOE giải thích là “hành xử của các loại nhiên liệu, vật liệu hạt trong một môi trường lò phản ứng hạt nhân thường vô cùng phức tạp và đem lại một môi trường nghiên cứu khoa học phong phú. Cơ sở nghiên cứu đạt đẳng cấp thế giới ở 71 bên tham gia trong mạng lưới nghiên cứu NSUF tạo điều kiện cho các nhà khoa học tìm hiểu về hành xử phức tạp này. Trong đó có lò phản ứng thử nghiệm tiên tiến và cơ hội kiểm tra vật liệu hạt nhân sau khi tiếp xúc với môi trường lò phản ứng (post-irradiation examination) tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Idaho và 633, cùng cơ hội sử dụng các thiết bị nghiên cứu tối tân khác ở 21 viện nghiên cứu và công ty trong mạng lưới.

Cơ chế cấp quyền sử dụng các cơ sở nghiên cứu hiện đại và cấp kinh phí cho các nhà nghiên cứu mà DOE thực hiện thông qua các chương trình này đã mở ra nhiều lợi ích cho nền công nghệ hạt nhân quốc gia:

Thứ nhất: Mở ra cơ hội sử dụng tối đa cơ sở vật chất có sẵn ở khắp Hoa Kỳ, không để xảy ra tình trạng cát cứ thiết bị và không vấp phải bài toán kinh phí vận hành, sửa chữa.

Thứ hai: Việc cho phép mở rộng hợp tác tiếp tục làm giàu thêm hiểu biết về công nghệ hạt nhân tiên tiến, giúp Hoa Kỳ giữ vững vị trí dẫn đầu về công nghệ hạt nhân thế giới.

Thứ ba: Nguồn nhân lực hạt nhân liên tục được bổ sung và tuyển chọn được nhân tài trong và ngoài Hoa Kỳ thông qua các khoản tài trợ trực tiếp cho trường đại học và gián tiếp qua các dự án R&D.

Thứ tư: Tạo dựng văn hóa hợp tác liên ngành, liên cơ sở nghiên cứu, qua đó có thể đi đến việc hình thành các nhóm chuyên gia trong từng lĩnh vực chuyên ngành. Văn hóa hợp tác không chỉ là xương sống của các dự án nghiên cứu, mà còn là một trong những yếu tố quan trọng trong phát triển công nghệ, trình diễn công nghệ, cấp phép và hỗ trợ kỹ thuật trong suốt vòng đời của các lò phản ứng.

Tạm kết Phần 3:

Sự tiến hóa công nghệ mà chúng ta thấy ngày nay đều xuất phát từ những chiến lược đầu tư bài bản đường dài của các cường quốc hạt nhân. Công nghệ SMR cũng vậy, nó đã bắt rễ rất sâu từ những dự án nghiên cứu tại các phòng thí nghiệm quốc gia và các trường đại học. Trong trường hợp của Hoa Kỳ, những cơ sở nghiên cứu như Phòng thí nghiệm Idaho, Argonne chính là những đầu tàu tri thức và đổi mới công nghệ hạt nhân.

Đầu tư cho công nghệ hạt nhân tiên tiến nói chung và SMR nói riêng chính là đầu tư vào những nơi, những điểm nút chính trên bản đồ phát triển, tạo điều kiện kết nối, cho phép các điểm vệ tinh có thể tiếp cận học hỏi và cộng hưởng thành công.

Tuy nhiên, để có sự phát triển bùng nổ của SMR trong một thập niên trở lại đây, không thể không nhắc đến vai trò của các công ty tư nhân, bao gồm các gã khổng lồ công nghệ và các startup nhiều tham vọng. Họ đã làm thế nào để theo đuổi công nghệ tiên tiến này? Họ có đơn thương độc mã trên con đường này không?

Đón đọc kỳ tới…

THANH NHÀN


Tài liệu tham khảo:

1. “New Directions in Nuclear Energy: Innovation and Opportunities in Fission and Fusion for Global Decarbonization”. Woodhead Publishing.2026

Chương 10: “Advanced nuclear demonstrations around the world”

2. “Decades of development: A bibliometric analysis of small modular reactor research”. Nuclear Engineering and Technology. 2025

3. The Nuclear Science User Facilities (NSUF). Idaho National Laboratory

https://nsuf.inl.gov/Page/annualreports

Có thể bạn quan tâm

Các bài đã đăng

[Xem thêm]
Phiên bản di động