RSS Feed for Ngành điện thế giới và Việt Nam năm đầu Covid-19 [Kỳ 2]: Cơ cấu sản lượng điện | Tạp chí Năng lượng Việt Nam Thứ tư 27/10/2021 21:23
TRANG TTĐT CỦA TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Ngành điện thế giới và Việt Nam năm đầu Covid-19 [Kỳ 2]: Cơ cấu sản lượng điện

 - Qua những phân tích của chuyên gia Tạp chí Năng lượng Việt Nam cho thấy: Cơ cấu sản lượng điện của các khu vực, nhóm nước, cũng như của các nước rất đa dạng, khác xa với cơ cấu bình quân của toàn thế giới và thường xuyên biến động, không có nước nào giống nước nào.

Ngành điện thế giới và Việt Nam năm đầu Covid-19 [Kỳ 1]: Sản lượng điện sản xuất


Cơ cấu sản lượng điện theo loại nhiên liệu phát điện năm 2020 của thế giới, khu vực, nhóm nước và các nước đại diện được nêu ở Hình dưới đây:

Nguồn: [1] và tính toán, tổng hợp của tác giả.


Qua bảng Hình trên cho thấy:

Cơ cấu sản lượng điện năm 2020 toàn cầu (%): Điện dầu 2,8% (năm 2019: 3,0%); điện khí 23,4% (năm 2019: 23,4%); điện than 35,1% (năm 2019: 36,4%); điện hạt nhân 10,1% (năm 2019: 10,4%); thủy điện 16,0% (năm 2019: 15,7%); điện NLTT 11,7% (năm 2019: 10,3%); điện khác 0,8% (năm 2019: 0,8%).

Như vậy, cơ cấu năm 2020 có sự chuyển dịch nhất định so với 2019: Giảm tỷ trọng điện dầu (hơn -0,2%), điện than (-1,3%), điện hạt nhân (-0,3%) và tăng tỷ trọng thủy điện (0,3%), điện năng lượng tái tạo - NLTT (1,4%) và điện khác (0,1%). Còn điện khí giữ nguyên tỷ trọng. Tuy nhiên, điện than vẫn giữ vài trò chính, chiếm tỷ trọng cao nhất 35,2%, vượt xa điện khí đứng thứ 2 là 23,4% và thủy điện đứng thứ 3 là 16%.

Cơ cấu của các khu vực: 3 vị trí đứng đầu của Bắc Mỹ là điện khí 38,0%, điện hạt nhân 17,9%, điện than 17,1%; của Nam và Trung Mỹ là: Thủy điện 51,5%, điện khí 18,2% và điện NLTT 15,0%; của châu Âu: Điện NLTT 23,8%, điện hạt nhân 21,6% và điện khí 19,6% (thủy điện và điện than bám sát sau đó, tuần tự là 17,0% và 14,8%); của CIS: Điện khí 47,1%, thủy điện 19,0%, điện than 16,4% (điện hạt nhân bám sát sau đó 15,6%); của Trung Đông chỉ có 2 vị trí: Điện khí 66,1% và điện dầu 28,2%; của châu Phi: Điện khí 39,4%, điện than 28,0% và thủy điện 16,8%; của châu Á - TBD: Điện than 57,2%, vượt xa 3 vị trí tiếp theo là thủy điện 14,3%, điện khí 11,3% và điện NLTT 10,2%.

Cơ cấu của nhóm nước: 3 vị trí top đầu của OECD là điện khí 30,9%, vượt xa điện than 19,0% và điện hạt nhân 17,3%; bám sát sau đó là điện NLTT 16,4% và thủy điện 13,6%; của ngoài OECD: Điện than 46,1%, vượt xa 2 vị trí tiếp theo là: Điện khí 18,3% và thủy điện 17,7%; của EU: Điện NLTT 31,3%, điện hạt nhân 30,3% và điện khí 24,4%, thứ tư điện than 16,4% và thủy điện 15,1%.

Cơ cấu của từng nước:

So với khu vực và nhóm nước, cơ cấu sản lượng điện của từng nước có sự tản mạn, phân tán hơn do tiềm năng trữ lượng và khả năng xuất, nhập khẩu năng lượng của từng nước khác nhau lớn hơn.

Điện khí đứng đầu ở các nước:

- Mexico 58,5% (vượt xa điện NLTT 12,5% và điện dầu 10,8%).

- Mỹ 40,6% (vượt xa điện than đứng thứ hai 19,7% và điện hạt nhân 19,4%).

- Ác-hen-ti-na 56,0% (vượt xa thủy điện đứng thứ hai 21,4%).

- Ý 48,2% (vượt xa so với điện NLTT đứng thứ hai 24,9% và thủy điện thứ ba 16,5%).

- Hà Lan 58,9% (vượt xa so với điện NLTT đứng thứ hai 26,2% và điện than thứ ba 7,2%).

- Nga 44,7% (vượt xa 2 vị trí tiếp theo là điện hạt nhân 19,9%, thủy điện 19,6%).

- I ran 66,4% (vượt xa điện dầu đứng thứ hai 24,8%).

- Ả rập Xê-ud 60,7% (vượt xa điện dầu đứng thứ hai 39,0%).

- UAE 94,8% (chiếm gần độc tôn).

- Ai Cập 75,5% (gần như độc tôn, vượt xa điện dầu đứng thứ hai 13,0%).

- Nhật Bản 35,2% (cao hơn điện than đứng thứ hai 29,7% và vượt xa điện NLTT thứ ba 12,5%).

- Thái Lan 64,6% (vượt xa điện than đứng thứ hai 20,9% và điện NLTT thứ ba 11,6%).

Trong số các nước trên, một số nước có trữ lượng khí lớn (chiếm ≥ 1% trữ lượng khí thế giới) như: Mỹ 6,7%, Nga 19,9%, I ran 17,1%, Ả rập Xê-ud 3,2%, UAE 3,2%; hoặc vừa và nhỏ (chiếm ≥ 0,1% trữ lượng khí thế giới) như: Mexico 0,1%, Ác-hen-ti-na 0,2%, Hà Lan 0,1%, Thái Lan 0,1%. Một số nước có trữ lượng không đáng kể hoặc không có như Ý, Nhật Bản.

Ngược lại, nhiều nước có trữ lượng khí lớn, nhưng điện khí chiếm tỷ trọng không cao như: Quata (13,1% trữ lượng khí thế giới), Turkmennistan (chiếm 7,2%), Nigeria (2,9%), Iraq (1,9%), Canada, Azerbaijan, Úc (chiếm 1,3%), Kazakhstan (chiếm 1,2%), Ai Cập (1,1%), v.v...

Điện than đứng đầu ở các nước:

- Ba Lan 70,3% (vượt xa so với điện NLTT đứng thứ hai 16,2%).

- Thổ Nhĩ Kỳ 34,8% (cao hơn đáng kể so với thủy điện đứng thứ hai 25,6% và điện khí thứ ba 22,9%).

- Kazakhstan 66,8% (vượt xa điện khí đứng thứ hai 19,5%).

- Nam Phi 84,5% (chiếm gần như độc tôn).

- Úc 53,9% (vượt xa điện khí đứng thứ hai 20,0% và điện NLTT thứ ba 18,8% ).

- Trung Quốc 63,2% (vượt xa thủy điện đứng thứ hai 17,0% và điện NLTT thứ ba 11,1%).

- Ấn Độ 72,1% (vượt xa thủy điện đứng thứ hai 10,5% và điện NLTT thứ ba 9,7%).

- Indonesia 65,7% (vượt xa điện khí đứng thứ hai 18,6%).

- Malaysia 56,1% (cao hơn nhiều so với điện khí đứng thứ hai 28,6%).

- Hàn Quốc 36,3% (cao hơn điện hạt nhân đứng thứ hai 27,9% và điện khí thứ ba 26,7%).

- Đài Loan 45,0% (cao hơn điện khí đứng thứ hai 35,7% và điện hạt nhân thứ ba 11,2%).

- Việt Nam 50,6% (vượt xa thủy điện đứng thứ hai 29,3% và điện khí thứ ba 15,0%).

Trong số các nước trên, những nước có trữ lượng than lớn, hoặc tương đối lớn (chiếm tỉ trọng ≥ 1% trữ lượng than thế giới): Ba Lan 2,6%, Thổ Nhĩ Kỳ 1,1%, Kazakhstan 2,4%, Nam Phi 0,9%, Úc 14,0%, Trung Quốc 13,3%, Ấn Độ 10,3%, Indonesia 3,2%. Một số nước có trữ lượng nhỏ như Việt Nam (chiếm 0,3% trữ lượng than thế giới) hoặc có không đáng kể (phải nhập khẩu than) như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, v.v... Một số nước có trữ lượng than lớn nhưng tỷ trọng nhiệt điện than thấp do có trữ lượng khí dồi dào nên ưu tiên sử dụng khí, hoặc nguồn năng lượng khác có lợi thế hơn như Mỹ (chiếm 23,2% trữ lượng than thế giới), Ukraina (chiếm 3,2%), Nga (chiếm 15,1%). Đức có trữ lượng than chiếm 3,3% trữ lượng than thế giới nên nhiệt điện than tuy không đứng đầu song vẫn chiếm tỷ trọng cao thứ hai (từ năm 2018 về trước luôn có tỷ trọng cao nhất).

Điện hạt nhân đứng đầu ở Ukraina 51,1% (vượt xa điện than đứng thứ hai 27,7% và điện khí thứ ba 9,3%). Tuy nhiên, theo tài liệu [2] Pháp là quốc gia có số lượng lò phản ứng điện hạt nhân nhiều thứ 2 thế giới (sau Mỹ) đã, đang sử dụng điện hạt nhân là nguồn cung cấp điện chủ yếu, chiếm tới 70,6% tổng sản lượng điện quốc gia và theo [1] năng lượng nguyên tử chiếm tới 36,1% tổng NLSC năm 2020.

Thủy điện đứng đầu ở các nước: Canada 59,7% (vượt xa điện hạt nhân đứng thứ hai 15,2%), Brazil 64,0% (vượt xa điện NLTT đứng thứ hai 19,3%).

Điện NLTT đứng đầu ở VQ Anh 40,9%, Đức 40,6% và Tây Ban Nha 31,5%.

Điện dầu chỉ chiếm tỷ trọng cao ở một vài nước Trung Đông có tiềm năng trữ lượng dầu mỏ như Ả rập Xê-ud 39,0% (đứng sau điện khí 60,7%) và Iran 24,8% (đứng sau điện khí 66,4%).

Như vậy, trong số các nước đại diện, 12 nước có điện khí chiếm tỷ trọng cao nhất, trong đó có một số nước điện khí chiếm vị trí độc tôn (UAE 94,8%) hoặc gần như độc tôn (Ai Cập 75,5%, Iran 66,4%, Thái Lan 64,6% và Ả rập Xê-ud 60,7%). 12 nước có điện than chiếm tỷ trọng cao nhất, trong đó có một số nước điện than chiếm tỷ trọng gần như độc tôn (Ba Lan 70,3%, Kazakstan 66,8%, Nam Phi 84,5%, Ấn Độ 72,1%, Trung Quốc 63,2%, Indonesia 65,7%). 2 nước có điện hạt nhân chiếm tỷ trọng cao nhất (Pháp 70,6% và Ukraina 51,1%). 2 nước có thủy điện chiếm tỷ trọng cao nhất (Canada 59,7% và Brzil 64,0%) và đặc biệt có 3 nước có điện NLTT đứng đầu, gồm VQ Anh 40,9%, Đức 40,6% và Tây Ban Nha 31,5%.

Qua những phân tích nêu trên cho thấy, cơ cấu sản lượng điện của các khu vực, nhóm nước và của các nước rất đa dạng, khác xa với cơ cấu bình quân của toàn thế giới và thường xuyên biến động, không có nước nào giống nước nào. Nói chung, cơ cấu sản lượng điện phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố:

1/ Tiềm năng và lợi thế các nguồn tài nguyên năng lượng sẵn có trong nước. Ví dụ như nước có nhiều nguồn tài nguyên năng lượng dồi dào thì cơ cấu sản lượng điện tương đối dàn trải theo hướng đa dạng hóa và ưu tiên hơn cho nguồn năng lượng có lợi thế cao, nhất là khí tự nhiên, thủy điện, còn nước chỉ có một nguồn tài nguyên năng lượng dồi dào thì cơ cấu điện tương đối tập trung mang tính độc tôn tương ứng với nguồn tài nguyên năng lượng sẵn có.

2/ Khả năng tiếp cận các nguồn tài nguyên năng lượng nước ngoài cho sản xuất điện, nhất là than và khí tự nhiên (có tính thương mại cao và giá phù hợp), trong trường hợp đó thông thường điện than, điện khí chiếm giữ tỷ lệ quan trọng đóng vai trò nền tảng.

3/ Trình độ phát triển kinh tế - xã hội, ví dụ nước giàu có GDP bình quân đầu người cao, theo đó có khả năng chấp nhận giá điện cao thì tăng cường phát triển nguồn điện sạch hơn như điện NLTT, điện khí (sạch so với điện than) theo đúng tinh thần “của nào tiền nấy”.

Tuy nhiên, năm 2020 là năm đại dịch Covid-19 tác động mạnh đến nền kinh tế toàn cầu nói chung, trong đó có ngành năng lượng và điện năng nói riêng, hậu quả là có sự suy giảm mạnh về kinh tế và kéo theo suy giảm về sử dụng năng lượng và điện năng. Trong bối cảnh đó, các dạng năng lượng sạch, nhất là NLTT vẫn tăng trưởng, nhất là cho sản xuất điện, điều đó thể hiện xu thế phát triển tất yếu theo hướng sạch hơn.

Kỳ tới: Ngành điện thế giới và một số điều suy ngẫm cho Việt Nam

PGS, TS. NGUYỄN CẢNH NAM - TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM


Tài liệu tham khảo:

1. BP Statistical Review of World Energy 2021.

2. Điện hạt nhân trên thế giới và đề xuất tại Việt Nam. Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam,18/02/2021.

Có thể bạn quan tâm

Các bài mới đăng

Các bài đã đăng

[Xem thêm]
Phiên bản di động