Đấu thầu chọn nhà đầu tư và yêu cầu tất yếu của khảo sát thực địa tiềm năng điện gió ngoài khơi Việt Nam
05:51 | 20/01/2026
Báo cáo “Phân tích chuyên sâu một số sự kiện tiêu biểu, đánh giá tác động đa chiều và dự báo xu hướng chiến lược” dưới đây được chuyên gia Tạp chí Năng lượng Việt Nam xây dựng dựa trên phương pháp phân tích định tính kết hợp với dữ liệu định lượng từ các nguồn tin cậy, sẽ giải phẫu chi tiết 10 sự kiện tiêu biểu nhất của ngành năng lượng Việt Nam trong năm 2025. Những sự kiện này được lựa chọn không chỉ dựa trên quy mô vốn đầu tư, hay tính chất truyền thông, mà dựa trên mức độ tác động cấu trúc (structural impact) mà chúng tạo ra đối với an ninh năng lượng, kinh tế vĩ mô và địa chính trị của Việt Nam trong thập kỷ tới. |
Tóm tắt:
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu phát triển điện gió ngoài khơi (ĐGNK) thành một ngành công nghiệp năng lượng mũi nhọn theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, giai đoạn chuẩn bị đầu tư, đặc biệt là việc lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (PreFS) có vai trò quyết định đến sự thành bại của dự án.
Nội dung dưới đây phân tích tổng thể, đa chiều về sự cần thiết mang tính bắt buộc của công tác sơ bộ khảo sát thực địa trong giai đoạn này. Bằng phương pháp phân tích tổng hợp các cơ sở pháp lý và thông lệ quốc tế để chứng minh rằng: Việc lập PreFS chỉ dựa trên dữ liệu thứ cấp, dữ liệu vệ tinh, hoặc dữ liệu có sẵn (desktop study) là không đủ cơ sở, tiềm ẩn rủi ro cao và làm suy giảm tính cạnh tranh của dự án. Mặt khác, làm rõ mối quan hệ nhân - quả giữa các yêu cầu của thiết kế sơ bộ và dữ liệu khảo sát thực địa; phân tích các rủi ro chiến lược khi trì hoãn khảo sát.
Kết quả phân tích khẳng định: Khảo sát thực địa ở giai đoạn PreFS không phải là một chi phí, mà là một khoản đầu tư chiến lược để quản trị rủi ro, cung cấp luận chứng kinh tế - kỹ thuật đáng tin cậy, và là nền tảng tiên quyết để cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư, lựa chọn được nhà đầu tư một cách hiệu quả.
Đặt vấn đề:
Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đã mở ra một kỷ nguyên mới cho ngành năng lượng Việt Nam, trong đó ĐGNK được định vị là nguồn năng lượng sạch quy mô lớn, đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo an ninh năng lượng và thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu. Các dự án ĐGNK có đặc thù suất đầu tư lớn (với suất đầu tư giao động từ 4-5 tỷ USD/GW), công nghệ phức tạp và rủi ro cao. Do đó, quy trình thẩm định và phê duyệt đầu tư cần được thực hiện một cách cẩn trọng, khoa học, bắt đầu từ giai đoạn lập PreFS để đề xuất phê duyệt chủ trương đầu tư, làm cơ sở xác định giá điện và lựa chọn nhà đầu tư.
Điện gió ngoài khơi là một lĩnh vực rất mới tại Việt Nam. Tính đến thời điểm hiện nay, chưa có bất cứ dự án ĐGNK nào được chấp thuận chủ trương đầu tư tại Việt Nam (trừ dự án điện gió ngoài khơi xuất khẩu điện qua Singapore/Malaysia của PTSC đã được cấp phép để thực hiện khảo sát thực địa). Các dữ liệu phục vụ việc phát triển dự án ĐGNK tại Việt Nam hiện nay chủ yếu là các dữ liệu vệ tinh [1], dữ liệu thứ cấp, dữ liệu mang tính điều tra tiền cơ bản và chưa có các dữ liệu khảo sát thực địa mang tính chất phục vụ việc thiết kế, phát triển dự án đầu tư xây dựng (ngoại trừ các dữ liệu thực tế được khảo sát thực địa trong lĩnh vực dầu khí).
Hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật đã có những quy định khung, mang tính nguyên tắc để phát triển lĩnh vực ĐGNK (như quy định về thị trường điện, truyền tải, phân phối, giao khu vực biển…), nhưng chưa bao quát được tính chất đặc thù của các công trình năng lượng ngoài khơi.
Cụ thể, các yêu cầu trọng yếu về an ninh quốc phòng, cơ chế kiểm soát hoạt động thăm dò khảo sát, quản lý không gian biển rộng lớn, hay kiểm soát rủi ro hoạt động ngoài khơi… hiện chưa được quy định đầy đủ và chặt chẽ như trong hệ thống pháp luật dầu khí.
Tính đến thời điểm hiện tại (sau hơn 1 năm kể từ thời điểm Luật Điện lực số 61/2024/QH15 được ban hành), việc phát triển các dự án ĐGNK đang đối mặt với những rào cản pháp lý ngay từ giai đoạn khởi tạo. Đó là khuôn khổ pháp lý chưa đồng bộ về quy trình khảo sát thực địa, lập hồ sơ đề xuất chủ trương đầu tư và cơ chế lựa chọn nhà đầu tư… đã tạo ra những khó khăn nhất định trong công tác quản lý, kêu gọi hợp tác đầu tư vào lĩnh vực năng lượng mới này. Các điểm nghẽn và bất cập chính hiện nay bao gồm:
1. Thực hiện theo các quy trình, phương thức quản lý khác nhau:
Thiếu các quy định về trình tự thực hiện, các nội dung cần thực hiện để phát triển dự án bao gồm khảo sát, lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, phương thức lựa chọn nhà đầu tư.
2. Tình trạng đăng ký thiếu kiểm soát:
Thiếu quy hoạch về các khu vực phát triển dự án và chưa có cơ chế sàng lọc kỹ lưỡng ngay từ đầu, tình trạng đăng ký đầu tư đang diễn ra tự phát, có hiện tượng đầu cơ và thiếu kiểm soát ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc phát triển lĩnh vực ĐGNK và các lĩnh vực kinh tế khác trên biển.
3. Chồng lấn với hoạt động dầu khí:
Chưa có các quy định để xử lý các giao diện liên quan đến lĩnh vực dầu khí (bao gồm việc phát triển tại các lô đã có hợp đồng dầu khí và tại các lô mở) dẫn đến các rủi ro ảnh hưởng tới các hoạt động dầu khí hiện hữu,,, cũng như các hoạt động trong tương lai.
4. Thiếu cơ chế và công cụ kiểm soát an ninh quốc phòng:
Hệ thống pháp luật hiện hành đang tồn tại những khoảng trống trong việc kiểm soát các vấn đề an ninh phi truyền thống đối với các dự án năng lượng ngoài khơi, điện gió ngoài khơi. Cụ thể:
- Chủ quyền dữ liệu: Thiếu quy định xác lập quyền sở hữu, quản lý, công cụ thực hiện của nhà nước đối với dữ liệu gốc (raw data) và dữ liệu minh giải.
- Quản lý tư cách nhà đầu tư: Chưa kiểm soát được các giao dịch chuyển nhượng vốn ở cấp độ tập đoàn, công ty mẹ. Điều này tạo kẽ hở cho việc chuyển giao quyền kiểm soát dự án sang các thực thể chưa qua thẩm định an ninh mà không cần thay đổi pháp nhân tại Việt Nam.
- Quản lý tuân thủ: Thiếu hành lang pháp lý và bộ máy chuyên trách, thường xuyên để giám sát hoạt động của nhà đầu tư, nhà thầu trong suốt vòng đời dự án (từ khảo sát, xây dựng đến vận hành), đặc biệt là các hoạt động có yếu tố nước ngoài trên vùng biển chủ quyền.
Từ những thách thức thực tiễn nêu trên, cần thiết phải thay đổi tư duy tiếp cận đối với điện gió ngoài khơi -không chỉ đơn thuần là một dự án nguồn điện, mà phải được định vị là công trình năng lượng đặc thù trên biển (tương tự công trình dầu khí).
Trong bối cảnh hiện nay, câu hỏi đặt ra là: Việc thực hiện các nội dung khảo sát thực địa ngay từ giai đoạn đầu để phục vụ công tác đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư có thực sự cần thiết, hay có thể dựa vào các dữ liệu thứ cấp, dữ liệu sẵn có? Dưới đây là các luận cứ khoa học và thực tiễn trên thế giới, cũng như tại Việt Nam để trả lời cho câu hỏi này.
I. Tổng quan cơ sở lý luận và pháp lý:
1. Khung pháp lý Việt Nam về Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi:
Luật Xây dựng (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 62/2020/QH14) và các văn bản hướng dẫn như Nghị định 175/2024/NĐ-CP đã quy định rõ nội dung của Báo cáo PreFS, trong đó bao gồm thiết kế sơ bộ và bản vẽ. Thiết kế sơ bộ yêu cầu các nội dung về quy mô, vị trí, phương án công nghệ, giải pháp kết cấu chính và sơ bộ tổng mức đầu tư. Về bản chất, pháp luật yêu cầu một luận chứng ban đầu về tính khả thi của dự án.
Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 quy định việc chấp thuận chủ trương đầu tư là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận về mục tiêu, địa điểm, quy mô, tiến độ, thời hạn thực hiện dự án; nhà đầu tư, hoặc hình thức lựa chọn nhà đầu tư. Đối với dự án ĐGNK, việc chấp thuận chủ trương đầu tư trên cơ sở đánh giá quan trọng của nội dung trong PreFS, đặc biệt là các nội dung liên quan đến kinh tế - kỹ thuật và tác động môi trường.
Luật Điện lực 61/2024/QH15 quy định PreFS là tài liệu, cơ sở phục vụ đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư.
2. Nguyên tắc quản trị rủi ro theo giai đoạn trong đầu tư dự án:
Theo thông lệ quốc tế và các quy định của Việt Nam, phát triển một dự án đầu tư xây dựng hạ tầng lớn là một quá trình “quản trị rủi ro theo giai đoạn”. Mức độ đầu tư sẽ tăng dần tương ứng với mức độ rủi ro được giảm thiểu.
- Giai đoạn PreFS: Mục tiêu là dùng một khoản đầu tư tương đối nhỏ (so với tổng mức đầu tư) để xác định và loại bỏ các “rủi ro lớn, chính”, chứng minh dự án có một mô hình kinh doanh khả thi về nguyên tắc kinh tế, kỹ thuật.
- Giai đoạn FS: Sau khi các rủi ro lớn đã được loại bỏ, nhà đầu tư sẽ rót một khoản vốn lớn hơn để tối ưu hóa thiết kế và chuẩn bị cho việc thi công, tài trợ.
Trong mô hình này, khảo sát thực địa ở giai đoạn PreFS chính là công cụ mạnh mẽ nhất để nhận diện và loại bỏ sớm các rủi ro về tài nguyên (gió không đủ tốt), rủi ro về kỹ thuật (điều kiện địa chất quá bất lợi) và rủi ro về môi trường.
Phương pháp nghiên cứu:
Nội dung dưới đây được thực hiện dựa trên phương pháp phân tích tổng hợp, vận dụng đồng thời 2 phương pháp nghiên cứu chính:
- Phân tích khung pháp lý: Rà soát, diễn giải các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về đầu tư xây dựng và quy định về phương pháp lựa chọn nhà đầu tư để làm rõ các yêu cầu đối với một báo cáo PreFS cho dự án ĐGNK.
- Đối chiếu thông lệ quốc tế: So sánh quy trình, tiêu chuẩn phát triển dự án ĐGNK tại Việt Nam với các thị trường đã phát triển để rút ra các bài học và tiêu chuẩn thực hành tốt nhất.
II. Nghiên cứu và phân tích:
Phân tích trên cơ sở khung pháp lý của Việt Nam:
Sự cần thiết có các dữ liệu đầu vào đầy đủ về mặt nội dung và chất lượng để xây dựng PreFS là một hàm ý không thể tách rời từ các yêu cầu kỹ thuật của hệ thống Luật Xây dựng và yêu cầu về mục đích sử dụng của hệ thống Luật Đầu tư, Luật Điện lực. Cụ thể:
1. Yêu cầu về nội dung báo cáo PreFS:
Hệ thống Luật Xây dựng quy định cụ thể các hạng mục nội dung trong PreFS, trong đó các nội dung liên quan đến thiết kế sơ bộ và sơ bộ tổng mức đầu tư được quy định chi tiết. Cụ thể như sau:
Yêu cầu về thiết kế sơ bộ:
Pháp luật yêu cầu thiết kế sơ bộ phải được thể hiện trên thuyết minh và bản vẽ trình bày được sơ đồ vị trí, sơ bộ tổng mặt bằng, sơ đồ hướng tuyến, phương án công nghệ, giải pháp thiết kế. Các nội dung được yêu cầu thuộc báo cáo PreFS không thể được coi là có cơ sở, nếu không dựa trên bất kỳ dữ liệu nào về điều kiện địa hình, địa chất đáy biển. Việc lựa chọn vị trí móng, kết cấu móng dựa trên dữ liệu thứ cấp, dữ liệu sẵn có, dữ liệu được thu thập không có tính cập nhật thì chỉ là một phỏng đoán, không đáp ứng được yêu cầu về “thiết kế”, hay “giải pháp”.
Sơ bộ tổng mặt bằng là một bài toán thiết kế tối ưu được không gian đa biến số trên cơ sở nguồn dữ liệu gió, dữ liệu khí tượng hải văn và đặc biệt là nguồn dữ liệu về địa hình, địa chất đáy biển. Bản vẽ phải thể hiện được sơ bộ vị trí các hạng mục, các dãy tua bin… Sơ đồ hướng tuyến đối với cáp truyền tải cũng cần được xác định ranh giới sơ bộ (bao gồm khu vực, khoảng cách an toàn). Phương án công nghệ liên quan đến quy mô, số lượng tua bin, phương án truyền tải, phương án trạm biến áp ngoài khơi/trong bờ… cũng cần được đánh giá để lựa chọn phương án tối ưu.
Các yêu cầu kỹ thuật nền tảng của pháp luật đối với thiết kế sơ bộ đã mặc định một đòi hỏi tất yếu về tính chính xác và khoa học của dữ liệu đầu vào. Đây là một tiêu chuẩn mà trên thực tế, chỉ có thể được thu thập một cách đáng tin cậy thông qua kết quả của các cuộc khảo sát thực địa chuyên ngành.
- Yêu cầu về sơ bộ tổng mức đầu tư:
Sơ bộ tổng mức đầu tư xây dựng là ước tính chi phí đầu tư xây dựng của dự án trong báo cáo PreFS. Đây là một trong những nội dung quan trọng nhất để cơ quan nhà nước xem xét. Trong bối cảnh ĐGNK là lĩnh vực mới tại Việt Nam, với đặc thù riêng của loại hình nguồn điện này, sơ bộ tổng mức đầu tư cho mỗi dự án có sự chênh lệch nhau rất lớn.
Đơn cử, chi phí móng, chân đế và lắp đặt chiếm tỷ trọng rất lớn (30-40%) trong tổng mức đầu tư ĐGNK. Một ước tính sơ bộ tổng mức đầu tư không dựa trên phương án móng, chân đế và mặt bằng sơ bộ (vốn phụ thuộc vào dữ liệu khảo sát thực địa) sẽ có độ sai lệch cực kỳ lớn, không đủ độ tin cậy để làm cơ sở cho việc phê duyệt một dự án với quy mô đầu tư lớn, khả năng sai lệch cao. Sơ bộ tổng mức đầu tư sẽ mất đi hoàn toàn độ tin cậy, nếu các cấu phần chi phí quan trọng nhất liên quan đến kết cấu được xây dựng trên các giả định chung, không phản ánh điều kiện đặc thù của khu vực dự án.
2. Yêu cầu về mục đích sử dụng:
PreFS là cơ sở cho đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư:
Đặt trong bối cảnh quy định của hệ thống Luật Đầu tư, Luật Điện lực, Luật Đấu thầu về việc đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư cho các dự án ĐGNK. Một quy trình đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, về bản chất, là một cơ chế thị trường được thiết kế để đạt được hai mục tiêu: Phân bổ nguồn lực hiệu quả (chọn được nhà đầu tư có năng lực tốt nhất) và thu được giá tối ưu (tìm ra mức giá điện cạnh tranh nhất). Hiệu quả của cơ chế này phụ thuộc hoàn toàn vào chất lượng và tính đối xứng của thông tin được cung cấp cho các bên tham gia. Việc sử dụng một báo cáo PreFS chỉ dựa trên dữ liệu thứ cấp, dữ liệu có sẵn sẽ phá vỡ nguyên tắc nền tảng này, tạo ra một môi trường thông tin bất đối xứng và dẫn đến các hành vi bỏ thầu mang tính chiến lược, nhưng phi hiệu quả, gây ra những hệ quả tiêu cực khó lường, kéo lùi sự phát triển của cả lĩnh vực.
Khi đối mặt với một bộ dữ liệu đầu vào có độ bất định cao, các nhà đầu tư buộc phải áp dụng một trong hai chiến lược bỏ thầu chính, và cả hai đều dẫn đến kết quả bất lợi cho nhà nước, cho toàn bộ lĩnh vực:
- Chiến lược bảo toàn vốn: Bỏ thầu với “phần bù rủi ro” cao: Các nhà đầu tư giàu kinh nghiệm và có năng lực tài chính vững mạnh nhận thức rõ những rủi ro khổng lồ chưa được lượng hóa (về địa chất, tài nguyên gió, điều kiện thi công). Theo nguyên tắc quản trị rủi ro, họ sẽ phải tính toán và cộng thêm “một phần bù rủi ro” đáng kể vào tổng mức đầu tư dự kiến và giá điện chào thầu. Phần bù này không phản ánh chi phí thực của dự án, mà phản ánh chi phí cho sự “không chắc chắn”.
- Hệ quả:
Nguy cơ đấu thầu thất bại: Các mức giá chào thầu có thể bị đẩy lên cao, vượt qua mức trần cho phép, hoặc kỳ vọng của bên mời thầu, dẫn đến việc không thể lựa chọn được nhà đầu tư.
Giá điện bị bóp méo: Nếu một nhà đầu tư với mức giá cao được chấp thuận, quốc gia sẽ phải chịu một mức giá điện cao, bất hợp lý trong thời gian dài chỉ vì lợi ích của nhà đầu tư, đi ngược lại mục tiêu và chính sách của nhà nước.
Chiến lược đầu cơ: Bỏ thầu giá thấp. Trong một môi trường thông tin không rõ ràng và thiếu chính xác, các quy định về bảo đảm đầu tư còn thiếu, quy trình đấu thầu sẽ vô tình tạo ra hiện tượng “lựa chọn đối nghịch” - tức là cơ chế sẽ có xu hướng lựa chọn phải nhà đầu tư lạc quan nhất, hoặc thậm chí là liều lĩnh nhất, chứ không phải nhà đầu tư có năng lực nhất. Các nhà đầu tư này có thể bỏ qua các rủi ro và đưa ra một mức giá thầu thấp, hấp dẫn để tối đa hóa khả năng thắng thầu.
Dự án thất bại sau khi trao thầu: Nhà đầu tư thắng thầu sau đó tiến hành khảo sát thực địa và nhận diện ra chi phí thực tế cao hơn rất nhiều so với hồ sơ dự thầu. Dự án trở nên không còn khả thi về mặt kinh tế, không thể thu xếp được vốn vay (unbankable) và cuối cùng, nhà đầu tư buộc phải từ bỏ dự án.
Lãng phí nguồn lực quốc gia: Kịch bản này dẫn đến hệ quả với quy trình lựa chọn nhà đầu tư thất bại, lãng phí nhiều năm cho các thủ tục pháp lý, bỏ lỡ cơ hội phát triển, và làm suy giảm niềm tin của các nhà đầu tư nghiêm túc khác vào thị trường.
Rủi ro về pháp lý: Nhà đầu tư ký hợp đồng phát triển dự án, tuy nhiên không thể triển khai do các điều kiện thực địa không như mô tả tại hồ sơ mời thầu dẫn đến các khiếu nại về hợp đồng đầu tư do thông tin sai lệch ban đầu, tính chính xác của hồ sơ mời thầu, dẫn đến các yêu cầu về bồi hoàn chi phí…
Trường hợp Mitsubishi rút khỏi ba dự án điện gió ngoài khơi tại Nhật Bản [2] tổng cộng khoảng 1,7-1,76 GW (trúng thầu 2021, dự kiến vận hành 2028-2030, thông báo rút khỏi dự án vào tháng 8/2025) - là minh chứng rõ ràng cho hệ quả tiêu cực của một quy trình đấu thầu dựa trên thông tin, dữ liệu khảo sát chưa được kiểm chứng. Khi tiến hành khảo sát thực địa và cập nhật ước tính chi phí, nhà đầu tư phát hiện chi phí tua bin và chi phí xây dựng đã tăng đáng kể so với các giả định trong hồ sơ dự thầu. Kết quả là mức giá trúng ban đầu không phản ánh chi phí thực tế và dự án trở nên không khả thi về tài chính. Hậu quả không chỉ là nhà đầu tư phải rút lui, mà còn là tổn thất về thời gian và nguồn lực cho cơ quan quản lý (tái đấu thầu, xử lý pháp lý, trì hoãn mục tiêu phát triển năng lượng); đồng thời làm giảm niềm tin của những nhà đầu tư nghiêm túc khác vào tính minh bạch và hiệu quả của cơ chế lựa chọn nhà đầu tư.
Một quy trình đấu thầu dựa trên PreFS thiếu dữ liệu thực địa không phải là một cuộc cạnh tranh về năng lực, mà là một cuộc cạnh tranh về khả năng chấp nhận rủi ro và mức độ lạc quan. Thay vì chọn ra nhà đầu tư hiệu quả nhất, nó lại tạo ra một cơ chế sàng lọc sai lầm. Do đó, việc cung cấp một nền tảng dữ liệu khảo sát thực địa đáng tin cậy không phải là một lựa chọn, mà là điều kiện tiên quyết để đảm bảo tính chính xác của yếu tố kinh tế - kỹ thuật tại giai đoạn ban đầu và tính minh bạch, công bằng, hiệu quả của quy trình đấu thầu, qua đó mới có thể lựa chọn đúng nhà đầu tư có khả năng hiện thực hóa dự án với chi phí tối ưu cho nền kinh tế.
3. Thực tiễn triển khai:
Các dự án đã, đang được triển khai tại Việt Nam đều thực hiện công tác khảo sát thực địa địa hình, địa chất công trình trong quá trình xây dựng PreFs (trừ một số dự án cá biệt do có các số liệu của nhà máy, công trình liền kề bên cạnh, trong cùng một khu vực, một khu công nghiệp) để làm luận cứ quan trọng trong việc lập các báo cáo kinh tế - kỹ thuật làm cơ sở để đánh giá dự án và phục vụ phê duyệt của các cấp có thẩm quyền.
Dự án ĐGNK phải đối mặt với nhiều thách thức và bất định - từ môi trường biển, nền móng phân tán trên một địa bàn lớn, cho đến nguồn tài nguyên mang tính biến đổi. Từ đó cho thấy, nếu khảo sát đã là điều kiện cần cho một dự án ít rủi ro hơn, thì việc đòi hỏi một quy trình khảo sát nghiêm ngặt cho một dự án phức tạp hơn nhiều không phải là một gánh nặng mới, mà là sự áp dụng tất yếu và nhất quán của nguyên tắc phát triển dự án.
4. Phân tích trên cơ sở đối chiếu thông lệ quốc tế:
Trên thế giới, việc phát triển, lựa chọn nhà đầu tư dự án ĐGNK được triển khai theo nhiều cách tiếp cận. Theo thông lệ quốc tế, hiện nay, có hai mô hình phổ biến: (i) mô hình một giai đoạn; và (ii) mô hình hai giai đoạn. Cụ thể như sau [3]:
- Mô hình một giai đoạn:
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền trực tiếp xác định khu vực phát triển dự án (bao gồm nhu cầu sử dụng khu vực biển và đất), tổ chức thực hiện sơ bộ các hoạt động khảo sát thực địa, đánh giá tác động môi trường, hoàn thiện các thủ tục cấp phép và đấu nối. Nhiệm vụ khảo sát [4] phục vụ công tác xác định, ước tính ban đầu, lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi phục vụ đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư. Sau khi hoàn tất các bước chuẩn bị, cơ quan nhà nước tổ chức đấu thầu cạnh tranh để lựa chọn nhà đầu tư và giao quyền sử dụng khu vực biển. Nhà đầu tư được lựa chọn sẽ thực hiện công tác khảo sát chuyên sâu, thiết kế theo đặc thù công nghệ lựa chọn và thi công dự án, lập báo cáo nghiên cứu khả thi và các bước thiết kế kỹ thuật phát triển dự án. Dữ liệu nhà nước công bố có giá trị chuẩn hóa đầu vào và giảm rủi ro cho đấu thầu, nhưng không thay thế nghĩa vụ khảo sát, thẩm tra và thiết kế chi tiết của nhà đầu tư.
Trong mô hình này, cơ quan nhà nước chủ động tổ chức và bố trí nguồn lực tài chính ngay từ giai đoạn đầu, đặc biệt là cho công tác khảo sát thực địa và lập hồ sơ lựa chọn nhà đầu tư. Chi phí sẽ được nhà nước thu hồi theo cơ chế hoàn chi phí.
- Mô hình hai giai đoạn:
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định trước các khu vực biển ưu tiên, tiềm năng để phát triển ĐGNK, thiết lập ranh giới, hành lang cáp dự kiến và các điều kiện khung liên quan. Trên cơ sở đó, tổ chức đấu thầu giai đoạn 1 nhằm lựa chọn nhà đầu tư được cấp quyền độc quyền, có thời hạn để khảo sát thực địa, hoàn thiện hồ sơ kỹ thuật - môi trường - pháp lý ban đầu và phát triển dự án trong phạm vi khu vực biển được giao. Quyền này đi kèm các nghĩa vụ ràng buộc (kế hoạch khảo sát chi tiết, mốc tiến độ, bảo đảm thực hiện, chế độ báo cáo và chia sẻ dữ liệu) làm căn cứ đánh giá mức độ sẵn sàng của dự án. Trên nền kết quả khảo sát thực địa và phát triển ban đầu đáp ứng các mốc điều kiện của giai đoạn 1, nhà nước tổ chức đấu thầu giai đoạn 2 theo hình thức đấu thầu công suất/hợp đồng mua bán điện [5], trong đó giá điện là tiêu chí trọng yếu (có thể bổ sung tiêu chí phi giá ở mức hợp lý). Chỉ các nhà đầu tư đã được cấp quyền khảo sát - phát triển ở giai đoạn 1 và đạt đủ điều kiện kỹ thuật, pháp lý, môi trường theo quy định mới đủ tư cách tham dự giai đoạn 2, qua đó lựa chọn nhà đầu tư chính thức cho chính khu vực biển mà họ đang nắm quyền phát triển độc quyền. Nhà đầu tư chính thức được lựa chọn sẽ tiếp tục thực hiện khảo sát chuyên sâu, phát triển dự án.
Mô hình này giảm đáng kể áp lực đầu tư của nhà nước ở giai đoạn khởi động bằng cách giới hạn vai trò nhà nước ở mức sàng lọc - phân tích dữ liệu hiện có (desktop study, quy hoạch không gian biển, ràng buộc môi trường - hàng hải) để khoanh định các khu vực tiềm năng với chi phí hợp lý, thay vì phải tự thực hiện toàn bộ khảo sát hiện trường tốn kém. Các chi phí nhà nước đã thực hiện sẽ được thu hồi thông qua cơ chế và quy định gắn với vòng đấu thầu giai đoạn 2.
Như vậy, dù thực hiện với mô hình nào thì:
Thứ nhất: Tại các thị trường phát triển: Không một nhà phát triển, tổ chức tài chính, hay cơ quan chính phủ nào của các nước đã có nền công nghiệp ĐGNK phát triển chấp nhận một báo cáo PreFS cho dự án ĐGNK mà không có dữ liệu thực địa đáng tin cậy. Quy trình này được chuẩn hóa thành một chuỗi “stage-gate” (cổng giai đoạn) - nơi việc hoàn thành khảo sát thực địa là điều kiện tiên quyết để dự án được thông qua cổng “chứng minh tính khả thi” để làm cơ sở lựa chọn nhà đầu tư (bao gồm tiêu chí về giá điện) và bước vào giai đoạn phát triển toàn diện. Các nước phát triển trong lĩnh vực ĐGNK đều có các quy trình để đảm bảo việc khảo sát thực địa, thậm chí là khảo sát thực địa chi tiết (do nhà nước thực hiện, hoặc do nhà đầu tư thực hiện - tùy thuộc vào mô hình đầu thầu một giai đoạn, hay mô hình hai giai đoạn) trước khi thực hiện đấu thầu lựa chọn, xác định nhà đầu tư phát triển dự án.
Thứ hai: Mô hình “Quản trị rủi ro theo giai đoạn”: Thông lệ quốc tế coi khảo sát sớm là công cụ quản trị rủi ro hiệu quả nhất. Bỏ ra một mức chi phí nhỏ so với tổng mức đầu tư cho khảo sát ở giai đoạn PreFS để xác nhận các yếu tố nền tảng được xem là một khoản đầu tư đúng đắn, giúp tránh lãng phí chi phí, thời gian phát triển ở giai đoạn sau, nếu dự án được phát hiện là không khả thi.
Kết luận từ đối chiếu: Việc trì hoãn khảo sát thực địa là đi ngược lại hoàn toàn với các thông lệ tốt nhất đã được chứng minh trên toàn cầu. Để ngành ĐGNK Việt Nam có thể thu hút được các nhà đầu tư và tổ chức tài chính quốc tế uy tín, việc tuân thủ quy trình này là gần như bắt buộc.
V. Kết luận, kiến nghị:
1. Kết luận:
Sự cần thiết thực hiện khảo sát thực địa xác định các khu vực phát triển điện gió ngoài khơi, lập PreFS dự án ĐGNK phục vụ công tác đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư không chỉ là một thông lệ quốc tế tốt nhất, mà còn là một yêu cầu tất yếu xuất phát từ các đòi hỏi về kỹ thuật, quy trình quản trị rủi ro và bối cảnh đặc thù của Việt Nam. Một PreFS dựa trên dữ liệu khảo sát thực địa sẽ cung cấp một luận chứng kinh tế - kỹ thuật vững chắc, thể hiện cam kết và năng lực thực sự của nhà đầu tư; đồng thời cung cấp đầy đủ cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đưa ra quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư một cách sáng suốt. Việc trì hoãn khảo sát không phải là một biện pháp tiết kiệm chi phí, mà thực chất là một hành động gia tăng rủi ro theo cấp số nhân, có thể ảnh hưởng đến sự thành bại của cả dự án.
2. Kiến nghị:
Kiến nghị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, xây dựng, ban hành các quy định, hoặc bộ tiêu chí kỹ thuật tối thiểu về nội dung và mức độ chi tiết của công tác khảo sát thực địa sơ bộ. Các kết quả khảo sát này cần được xem là một thành phần bắt buộc, không thể thiếu trong hồ sơ PreFS để phục vụ công tác đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư. Việc tiêu chuẩn hóa yêu cầu đầu vào này sẽ tạo lập một mặt bằng thông tin kỹ thuật minh bạch, là cơ sở để nâng cao chất lượng công tác thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư; đồng thời đảm bảo tính công bằng, hiệu quả và thành công của quy trình đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư cho các dự án điện gió ngoài khơi.
[1] Dữ liệu gió vệ tinh thường là phép đo gián tiếp ở độ cao tham chiếu 10m và được đo với diện rộng, độ phân giải thấp, độ chính xác thấp, trong khi tuabin gió ngoài khơi hoạt động ở độ cao 100-150m và cần dữ liệu chính xác tại vị trí cụ thể. Dữ liệu vệ tinh cũng bị hạn chế độ chính xác bởi các yếu tố như nhiễu tín hiệu do thời tiết, độ ổn định của khí quyển, khoảng cách lớn từ vệ tinh… Việc ngoại suy dữ liệu lên cao tạo ra độ bất định và sai số đáng kể. Do đó, nguồn dữ liệu này chỉ có giá trị tham khảo cho việc sàng lọc khu vực tiềm năng và phân tích tương quan dài hạn, không được xem là đủ tin cậy (non-bankable) để làm cơ sở để xây dựng báo cáo PreFS phục vụ mục đích đách giá dự án, lựa chọn nhà đầu tư.
[2] https://www.japantimes.co.jp/business/2025/08/28/economy/mitsubishi-wind-power/
[3] Tham khảo tại các báo cáo Nghiên cứu lựa chọn nhà đầu tư cạnh tranh trong lĩnh vực điện gió ngoài khơi năm 2024, 2025 của GWEC.
[4] Phụ thuộc vào quy định pháp luật và định hướng ở mỗi quốc gia để thực hiện với mức độ khác nhau với mục đích tiền khảo sát, đặc tả địa điểm để đồng bộ quy hoạch, xây dựng báo cáo kinh tế - kỹ thuật, giảm rủi ro và đảm bảo đấu thầu công bằng, lựa chọn được nhà đầu tư có năng lực và thực hiện với chi phí tối ưu.
[5] Hình thức đấu thầu giai đoạn 2 được tổ chức theo cơ chế cạnh tranh công suất giữa nhiều dự án trong cùng một vùng/khu vực, không phải đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư cho một dự án đơn lẻ như cơ chế pháp luật Việt Nam hiện hành./.
NGUỒN: TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP - NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA VIỆT NAM
TỔNG HỢP: BBT TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
