RSS Feed for Chuyển dịch năng lượng của Việt Nam - Phân tích và định hướng chính sách cho tương lai | Tạp chí Năng lượng Việt Nam Thứ sáu 21/01/2022 06:57
TRANG TTĐT CỦA TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Chuyển dịch năng lượng của Việt Nam - Phân tích và định hướng chính sách cho tương lai

 - Bài báo này được rút gọn từ Báo cáo nghiên cứu “Một số nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu năng lượng gắn với phát triển hạ tầng năng lượng hiệu quả và bền vững phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, giai đoạn 2030 và tầm nhìn 2045” do TS. David Jacobs (IET - International Energy Transition GmbH), Toby D. Couture (E3 Analytics), Thorsten Schlößer, Leonard Hülsmann, (Energynautics GmbH), TS. Nguyễn Anh Tuấn (Viện Năng lượng) thực hiện, với sự đóng góp ý kiến của Ban Kinh tế Trung Ương, GIZ Việt Nam - Dự án EVEF, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, được thực hiện trong khuôn khổ Dự án “Hỗ trợ kỹ thuật ngành Năng lượng Việt Nam - EU” do Liên minh châu Âu và Cộng hòa Liên bang Đức đồng tài trợ.
Con đường tiến tới trung hòa carbon - Thách thức với ngành Năng lượng Việt Nam Con đường tiến tới trung hòa carbon - Thách thức với ngành Năng lượng Việt Nam

Nhân dịp chào đón năm mới 2022, với cam kết mạnh mẽ của Thủ tướng Việt Nam tại Hội nghị quốc tế về Biến đổi khí hậu tháng 11/2021 (COP26), khi phấn đấu đưa nước ta tiến tới “phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050”, chuyên gia Tạp chí Năng lượng Việt Nam có vài nét bình luận về những thách thức, cơ hội và những điều cần làm sắp tới của ngành Năng lượng Việt Nam. Xin chia sẻ cùng quý bạn đọc.


Quá trình chuyển dịch năng lượng toàn cầu đang có xu hướng tăng tốc nhanh trong giai đoạn vừa qua. Viễn cảnh các nước trên thế giới có thể được cấp điện toàn bộ từ các nguồn năng lượng tái tạo tạo hay các phương tiện giao thông, thay vì chạy xăng dầu sẽ chạy bằng điện hay các dạng năng lượng lưu trữ từ nguồn năng lượng tái tạo đang dần trở thành hiện thực trong những thập niên sắp tới. Quá trình chuyển dịch năng lượng toàn cầu sẽ giúp giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu, tạo ra một thế giới phát triển bền vững hơn, công bằng hơn cho tất cả mọi người, và sẽ có nhiều cơ hội hơn cho các thế hệ tương lai với không khí trong lành hơn, nước sạch hơn, sức khỏe của con người và điều kiện môi trường được nâng cao.

Quá trình chuyển dịch năng lượng thành công đòi hỏi cần bao gồm 4 yếu tố cốt lõi:

Một là công nghệ: Công nghệ đóng vai trò trung tâm trong chuyển dịch năng lượng, dù là từ dầu cá voi sang dầu hỏa, hay từ ngựa sang ô tô, từ động cơ chạy bằng dầu sang động cơ chạy bằng điện, từ nhiệt điện than sang điện gió và điện mặt trời. Nói một cách đơn giản, tất cả các quá trình chuyển dịch năng lượng về cơ bản phụ thuộc vào tính có sẵn và tính phổ biến của các công nghệ mới.

Hai là nền kinh tế cạnh tranh: Nếu không có nền kinh tế cạnh tranh, rất khó để thực hiện chuyển dịch năng lượng trên quy mô vùng lãnh thổ hay quốc gia.

Ba là mở cửa thị trường: Nếu không mở cửa thị trường, rất khó để các công nghệ mới bén rễ và phát triển. Các bên tham gia hiện nay trong ngành năng lượng (dù là khu vực nhà nước hay tư nhân) có xu hướng muốn làm chậm quá trình chuyển dịch, và giữ nguyên hiện trạng càng lâu càng tốt vì lợi ích của riêng mình. Việc mở cửa thị trường giúp bảo đảm rằng các sản phẩm sẽ tốt hơn và các dạng năng lượng mới sẽ phát triển mạnh mẽ hơn.

Bốn là chính sách hỗ trợ: Nếu thiếu chính sách hỗ trợ, quá trình chuyển dịch năng lượng sẽ diễn ra rất chậm. Chính phủ cần giữ vai trò bảo đảm các chính sách hỗ trợ thúc đẩy đầu tư trên phạm vi rộng.

Xu hướng giảm đầu tư nhiên liệu hóa thạch trên toàn cầu cũng đang diễn ra ngày càng mạnh hơn, khi nhận thức được rằng đầu tư cho công nghệ các-bon cao sẽ làm ảnh hưởng đến tính bền vững trong dài hạn và có nguy cơ làm giảm các lợi ích tài chính trong dài hạn (Cojoianu et al. 2018).

1. Tổng quan về những thách thức và ưu tiên chính ở Việt Nam:

Khung pháp lý của ngành điện được điều chỉnh theo Luật Điện lực, được thông qua năm 2004 [1], và sửa đổi, bổ sung năm 2012 [2]. Luật Điện lực đưa ra các nguyên tắc điều chỉnh về quy hoạch phát triển và đầu tư trong lĩnh vực điện lực; hợp tác quốc tế; các biện pháp tiết kiệm điện; phát điện, truyền tải và phân phối điện, và các ngành sử dụng cuối cùng; vận hành thị trường điện; mua bán điện và các dịch vụ theo hợp đồng; biểu giá điện; giấy phép hoạt động điện lực; cũng như là các quyền và nghĩa vụ của các công ty kinh doanh điện và khách hàng sử dụng cuối cùng.

Ngoài ra, Luật Điện lực cũng đề ra khung pháp lý về cải cách ngành điện, và nhấn mạnh các khía cạnh về phát triển bền vững ngành điện, nhằm cung cấp và đáp ứng nhu cầu điện một cách tin cậy, an toàn, hiệu lực và hiệu quả về chi phí.

Hiện nay, Luật Điện lực không cho phép khu vực tư nhân đầu tư vào hệ thống truyền tải điện, điều này đã được nhiều cơ quan khác nhau nghiên cứu kỹ lưỡng. Việt Nam đang xem xét đến đề xuất về việc đánh giá lại quy định này, cụ thể là xem xét cho phép khu vực tư nhân tham gia và giúp cho hệ thống truyền tải điện của Việt Nam đáp ứng với sự phát triển nhanh chóng của các nguồn điện mới.

Một mảnh ghép quan trọng còn thiếu của khung quy định cho ngành năng lượng là Luật Năng lượng Tái tạo. Luật này được các viện chiến lược, giới nghiên cứu hàn lâm và các nhà hoạch định chính sách thường xuyên thảo luận từ đầu năm 2010. Với sự phát triển dài hạn của ngành năng lượng và tầm quan trọng chiến lược của sự chuyển dịch năng lượng bền vững ở Việt Nam, cần có các cơ chế ưu đãi rõ ràng và một nền tảng chính sách, quy định vững chắc về đầu tư và phát triển NLTT. Điều này khiến cho hoạt động xây dựng và thông qua Luật Năng lượng Tái tạo có tính ràng buộc trở thành ưu tiên hàng đầu đối với Việt Nam trong những năm tới.

Về tổng thể, xây dựng chính sách năng lượng ở Việt Nam được thực thi và củng cố thông qua các Chiến lược Phát triển Năng lượng Quốc gia (NEDS), được ban hành theo Nghị quyết của Đảng và Chính phủ, theo đó tạo ra khung tổng quát cho ngành này. Đồng thời, các văn bản chiến lược này bảo đảm sự nhất quán, phù hợp với các mục tiêu của đất nước về phát triển kinh tế - xã hội trong dài hạn. Tháng 2/2020, Bộ Chính trị ban hành một Nghị quyết mới bao gồm định hướng chiến lược ngành năng lượng đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị Quyết số 55-NQ/TW).

Mặc dù ngành năng lượng của Việt Nam đã có những phát triển đáng kể trong 15 năm qua và đạt được các tầm nhìn mới, nhưng Nghị quyết số 55-NQ/TW đã thừa nhận rằng sự phát triển của ngành năng lượng gặp phải nhiều khó khăn, thách thức lớn. Các thách thức này bao gồm:

(i) An ninh cung ứng điện: Thiếu nguồn cung nội địa; hàng loạt các nhà máy điện vào chậm tiến độ, nên gặp nhiều khó khăn khi đáp ứng nhu cầu điện tăng cao; Phụ thuộc vào than nhập khẩu trong tương lai, với “một số chỉ tiêu đảm bảo an ninh năng lượng đang biến động theo chiều hướng bất lợi” trong những năm tới.

(ii) Tính hợp lý về giá cả và khả năng cạnh tranh: Thị trường năng lượng cạnh tranh phát triển chưa đồng bộ, chính sách giá năng lượng còn bất cập và chưa hoàn toàn phù hợp với các cơ chế thị trường.

(iii) Các thách thức về môi trường: Suy thoái môi trường và các điều kiện sống, bao gồm ô nhiễm không khí tại các thành phố lớn ở Việt Nam; thiếu sự quan tâm, chú ý đến các vấn đề môi trường; phát triển kinh tế nhanh được ưu tiên hơn so với phát triển bền vững.

(iv) Tính bền vững: Phát triển kinh tế ở Việt Nam vẫn chủ yếu dựa trên các ngành tiêu thụ nhiều năng lượng và hiệu quả sử dụng năng lượng của Việt Nam vẫn chưa được cải thiện rõ rệt. Trình độ công nghệ trong một số lĩnh vực thuộc ngành năng lượng chậm được nâng cao, việc nội địa hóa và hỗ trợ thị trường từ các dự án trong ngành năng lượng cho sản xuất nội địa còn hạn chế. Chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động trong một số lĩnh vực vẫn còn thấp.

Nhằm giải quyết các thiếu sót nêu trên của ngành năng lượng quốc gia, quy hoạch phát triển điện lực mới nhất đề ra một số yếu tố định hướng chiến lược, hài hòa các đánh đổi giữa an ninh cung cấp điện, giá cả hợp lý, và phát triển bền vững, đó là bộ ba bất khả thi kinh điển của ngành năng lượng.

Trong Nghị quyết số 55-NQ/TW, các định hướng bao gồm việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia làm nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy giá cả năng lượng hợp lý thông qua các thị trường năng lượng cạnh tranh và minh bạch, với đa dạng chủ sở hữu (giảm vai trò của độc quyền), cũng như là loại bỏ trợ giá. Nghị quyết cũng chú ý đến môi trường thông qua việc xây dựng các ưu đãi, khuyến khích về NLTT và hiệu quả năng lượng. Bên cạnh việc ưu tiên NLTT và công nghệ sạch, Nghị quyết số 55-NQ-TW cũng kêu gọi tiếp tục đa dạng hóa cơ cấu năng lượng bằng cách tăng tỉ lệ nhiệt điện khí và giảm tỉ lệ nhiệt điện than, đồng thời khai thác các nguồn tài nguyên nhiên liệu hóa thạch nội địa.

2. Biến đổi khí hậu và phát triển bền vững:

Nền kinh tế tăng trưởng nhanh, sử dụng nhiều năng lượng của Việt Nam và tốc độ tăng trưởng nhu cầu năng lượng cao đi kèm có các thách thức cụ thể là phát thải khí nhà kính. Từ năm 1994 - 2010, phát thải khí nhà kính tăng từ 103,8 triệu tấn CO2 tương đương (MtCO2e) lên hơn 246,8 MtCO2e. Trong vòng 10 năm đến năm 2019, phát thải từ ngành năng lượng tăng thêm 25,6 lên 141,2 MtCO2e trong giai đoạn 1994 - 2010.

Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDCs) của Việt Nam trong Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC) nhằm giảm phát thải khí nhà kính xuống 9% so với mức dự báo của kịch bản phát triển thông thường vào năm 2030. Có khả năng mức đóng góp này tăng lên 27% so với mức của kịch bản phát triển thông thường năm 2030 với sự hỗ trợ của quốc tế. Các đóng góp do quốc gia tự quyết định mang tính tham vọng hơn thể hiện các cam kết mạnh mẽ hơn về giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu. Các đóng góp do quốc gia tự quyết định của Việt Nam bản cập nhật xác định các biện pháp giảm nhẹ cho toàn nền kinh tế trong giai đoạn 2021 - 2030, bao gồm các ngành năng lượng, nông nghiệp, chất thải, sử dụng đất, thay đổi mục đích sử dụng đất, lâm nghiệp và công nghiệp. Các kế hoạch mới của Việt Nam về giảm phát thải từ các quá trình công nghiệp bao gồm việc thay thế các vật liệu xây dựng và cải tiến các quy trình sản xuất hóa chất và xi măng, cũng như là giảm tiêu thụ chất HFC.

Các cam kết khí hậu tăng cường của Việt Nam là một cơ hội để thúc đẩy hợp tác nhằm hỗ trợ phối hợp thực hiện các biện pháp bảo vệ khí hậu hiệu quả. Bên cạnh đó, Chính phủ Việt Nam đã cam kết đạt mức phát thải các bon trung tính vào năm 2050. Trên cơ sở đó, các mức phát thải trong các ngành, trong đó có ngành năng lượng cần được giảm nhiều hơn để đáp ứng với mục tiêu này.

3. Một số khuyến nghị chính sách quan trọng cho chuyển dịch năng lượng của Việt Nam trong giai đoạn tới:

Thông qua phân tích về xu hướng chuyển dịch năng lượng trên thế giới, kinh nghiệm của các quốc gia trên toàn cầu cũng như bối cảnh phát triển năng lượng tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu đề xuất 87 chính sách cụ thể phân ra theo 17 nhóm chính sách quan trọng nhằm đạt được mục tiêu chuyển dịch năng lượng bền vững cho Việt Nam trong tương lai. 17 nhóm chính sách này được gộp vào 3 đòn bẩy chính sách nền tảng cho việc thúc đẩy chuyển dịch năng lượng của Việt Nam.

Chuyển dịch năng lượng của Việt Nam - Phân tích và định hướng chính sách cho tương lai

Nguồn: TS. Nguyễn Anh Tuấn cùng nhóm nghiên cứu.

3.1. Đòn bẩy 1 - Kế hoạch và chiến lược thúc đẩy năng lượng sạch:

Trong ngắn hạn, một số chính sách có thể và cần được thực hiện ngay, do mức độ quan trọng của các chính sách này:

- Các yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa hoặc các ưu đãi về tỷ lệ nội địa phải là một phần trong chính sách đấu thầu trong tương lai (ví dụ tiến hành đánh giá các hồ sơ dự thầu dựa trên nhiều tiêu chí, không đánh giá “chỉ dựa trên giá”). Ngoài ra, việc duy trì cơ chế FIT cho dự án quy mô vừa và nhỏ (ví dụ dưới 10 MW) là cần thiết để có thể tạo ra phân khúc thị trường cho các đơn vị trong nước tham gia.

- Việt Nam phải xây dựng một gói chính sách toàn diện để khuyến khích chuyển dịch sang các phương thức vận tải sạch hơn, bao gồm ô tô điện và xe điện hai bánh, ba bánh

Trong trung và dài hạn, các chính sách sau đây được đánh giá quan trọng, có ảnh lớn đến sự chuyển dịch năng lượng của Việt nam:

- Nâng cao hơn các mục tiêu NLTT hiện có để bảo đảm rằng chuyển dịch năng lượng ở Việt Nam vẫn theo đúng các mục tiêu của Hiệp định Khí hậu Paris, và phù hợp với các nước khác trong khu vực.

- Mở rộng các mục tiêu NLTT để bao gồm cả các ngành giao thông vận tải và nhiệt lạnh.

- Ban hành các quy định về tỷ lệ nội địa hóa hoặc cơ chế khuyến khích - thường là tỷ lệ phần trăm trên tổng chi phí dự án (trên một đơn vị công suất lắp đặt) và tăng dần theo thời gian (ví dụ, tăng từ 30% lên 70%).

3.2. Đòn bẩy 2 - Giảm sâu phát thải CO2:

Chính sách giảm phát thải các-bon là một hợp phần ngày càng quan trọng trong hệ thống chính sách về khí hậu và chuyển dịch năng lượng trên thế giới. Giảm phát thải trong ngành năng lượng - một ngành đóng góp xấp xỉ 2/3 phát thải khí nhà kính toàn cầu - là điều kiện thiết yếu để hoàn thành các mục tiêu về giảm phát thải. Việt Nam đã có cam kết mạnh mẽ về mục tiêu giảm phát thải, chia sẻ trách nhiệm chung với cộng đồng thế giới để đạt được các mục tiêu đề ra trong Hiệp định Pari cũng như ngăn thảm họa biến đổi khí hậu xảy ra. Ngành điện sẽ cần trở thành ngành đóng góp chính bởi giảm phát thải các-bon trong những ngành khác (sưởi ấm & làm mát hay giao thông vận tải) thường khó khăn hơn.

Trong 7 nhóm được tập hợp vào đòn bẩy này, một số chính sách quan trọng nhất trong ngắn hạn, trung hạn, và dài hạn có thể được tóm tắt như sau:

Trong ngắn hạn:

- Tăng cường đầu tư công cho các biện pháp hiệu quả năng lượng tại các tòa nhà công cộng. Điều này có thể được thực hiện trực tiếp từ nguồn vốn ngân sách, hợp tác với các công ty dịch vụ năng lượng, hoặc theo hình thức PPP trong đó rủi ro và lợi nhuận được chia sẻ với khu vực tư nhân.

- Ngừng mua sắm các phương tiện sử dụng động cơ đốt trong đối với tất cả các xe công vụ với thời hạn cụ thể (chẳng hạn, đến năm 2022).

Trong trung hạn:

- Đưa ra một mức thuế các-bon khởi đầu thấp (ví dụ 10 USD/tCO2e), tập trung vào ngành điện và GTVT.

- Xây dựng và ban hành lộ trình chuyển đổi [3] dần các nhà máy điện than đến hạn để các đơn vị quản lý vận hành nhà máy điện có thời gian điều chỉnh tình hình tài chính và xây dựng lộ trình giảm sâu phát thải các-bon rõ ràng phù hợp với các mục tiêu đề ra trong Hiệp định Pari.

Trong dài hạn:

- Mở rộng Quy hoạch điện để trở thành Quy hoạch tài nguyên tổng hợp [4], là dạng quy hoạch hiện đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới.

- Xác định một lộ trình rõ ràng để tăng mức thuế các-bon theo thời gian để phù hợp với các mục tiêu của Hiệp định Paris.

3.3. Đòn bẩy 3 - Vai trò của cơ sở hạ tầng:

Hạ tầng năng lượng đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch năng lượng tại Việt Nam. Lập quy hoạch đúng cách có thể hỗ trợ quá trình chuyển dịch thành công sang một nền kinh tế trung lập các-bon với chi phí tối thiểu. Yếu tố rủi ro lớn nhất là các chiến lược ngắn hạn cho phép đạt được mục tiêu khí hậu tạm thời nhưng không tính đến dài hạn. Hậu quả có thể là tài sản bị mất giá trị gây thất thoát tài sản đầu tư nghiêm trọng.

Những khuyến nghị chính quan trọng nhất sau đây, được phân ra theo ngắn hạn, trung và dài hạn, có thể giúp giải quyết những thách thức trong đòn bẩy C của công cụ chính sách này, đồng thời thúc đẩy, hỗ trợ chiến lược và chính sách chuyển dịch năng lượng của Việt Nam trong thời gian tới.

Một số chính sách quan trọng nổi bật cho ngắn hạn:

- Tiếp tục tiêu chuẩn hóa quy trình đăng ký đấu nối đối với các hệ thống điện mặt trời quy mô nhỏ và các trạm sạc xe điện. Bảo đảm thu thập dữ liệu thích hợp thông qua hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về các nhà máy điện NLTT và trạm sạc xe điện.

- Xây dựng và hoàn thiện quy hoạch phát triển LNG phù hợp với chiến lược giảm phát thải các-bon dài hạn.

Một số chính sách nổi bật cho trung và dài hạn:

- Bổ sung phân tích rủi ro tài sản mắc kẹt và phương án chuyển đổi mục đích sử dụng của hạ tầng LNG (ví dụ, sang hydro hóa lỏng) trong các quy hoạch dài hạn.

- Ban hành quy định đảm bảo khả năng chuyển đổi mục đích sử dụng các hạ tầng liên quan đến LNG trong tương lai [5] nhằm giảm rủi ro mắc kẹt tài sản.

4. Kết luận:

4.1. Việt Nam cần định hướng thực hiện một chiến lược phát triển hạn chế phát thải các-bon trong dài hạn và trung hoà các-bon vào năm 2050 phù hợp với xu thế chung trên thế giới; bên cạnh những lợi ích về môi trường, chiến lược này có thể đem lại cho Việt Nam một số hiệu quả về kinh tế và tài chính vượt trội so với một lộ trình các-bon cao.

Việt Nam cần thiết lập một khung chính sách mạnh mẽ hướng tới mục tiêu trên đối với toàn bộ nền kinh tế, trong đó nên chú trọng trước tiên đến ngành năng lượng, nhất là ngành điện. Khung chính sách này cần phải linh hoạt, có thể điều chỉnh phù hợp theo bối cảnh tình hình. Bên cạnh đó, Việt Nam cần chủ động hoàn thiện và điều chỉnh, cập nhật và bổ sung các cơ chế, công cụ, phương pháp mới để đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực tiễn (thị trường, công nghệ, lối sống…) đang thay đổi nhanh chóng.

Là một nước đang tích cực tham gia vào xu thế chuyển dịch năng lượng, Việt Nam có thể tận dụng các bài học kinh nghiệm quốc tế để xây dựng chính sách bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia bền vững với mức chi phí năng lượng hợp lý, đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp. Các bài học kinh nghiệm cho các bên hữu quan, đặc biệt là các nhà hoạch định chính sách, là nên quan tâm đến các giá trị phát triển bền vững gắn với những lợi ích, hiệu quả kinh tế hơn từ sự chuyển dịch cơ cấu năng lượng theo hướng tăng cường tính tự chủ, chủ động khái thác, sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng trong nước, đặc biệt cần phát huy tiềm năng lợi thế của các nguồn năng lượng tái tạo, chú trọng phát triển nền kinh tế xanh, công nghiệp sạch, thúc đẩy tạo việc làm mới từ công nghiệp năng lượng tái tạo, sử dụng hiệu quả hơn kết cấu hạ tầng, các tài sản năng lượng trong thời gian tới, đặc biệt cần tránh tình trạng mắc kẹt tài sản (cho các dạng tài sản năng lượng truyền thống); hướng tới mục tiêu, cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu.

4.2. Chính sách bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia của Việt Nam cần gắn kết chặt chẽ với chiến lược hạn chế tối đa phát thải các-bon song song với xây dựng hạ tầng năng lượng sạch và tái tạo, từng bước thực hiện có hiệu quả mục tiêu trung hoà về các-bon vào năm 2050.

Việt Nam đã và đang là một quốc gia nhập khẩu lớn về dầu mỏ và than và sẽ trở thành quốc gia nhập khẩu lớn về khí thiên nhiên hoá lỏng (LNG). Nhìn chung, các xu hướng này sẽ tiếp tục làm tăng sự phụ thuộc về năng lượng của Việt Nam đối với thị trường năng lượng truyền thống quốc tế; theo đó, dẫn đến nguy cơ làm suy yếu an ninh năng lượng của Việt Nam trong dài hạn, đồng thời tác động không tốt đến vấn đề đảm bảo môi trường. Để tăng cường đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia gắn với thực hiện mục tiêu về trung hoà các-bon vào năm 2050, Việt Nam cần nâng cao nhận thức trong hệ thống chính trị, xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp để thúc đẩy nhanh việc đầu tư hạ tầng phù hợp với chuyển dịch cơ cấu năng lượng sang những mô hình sản xuất và sử dụng năng lượng tái tạo mà Việt Nam có lợi thế tiềm năng, đáp ứng yêu cầu về tăng trưởng xanh và hiệu quả hơn trong dài hạn; bên cạnh đó, Việt Nam cần chú trọng hơn đến công tác đánh giá, kiểm tra, giám sát và tăng cường các chế tài liên quan để hạn chế, cắt giảm đầu tư và có lộ trình thay thế, đóng cửa các cơ sở sản xuất ô nhiễm, hạ tầng phát thải nhiều các-bon.

4.3. Tháo gỡ các rào cản chính sách, tăng cường các nguồn lực, thúc đẩy phát triển khoa học-công nghệ để thực hiện chiến lược giảm sâu phát thải các-bon.

Trên thực tế, khả năng giảm sâu phát thải các-bon của Việt Nam phụ thuộc vào nhiều vào quyết tâm chính trị của các cấp lãnh đạo gắn với việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước bền vững hướng tới các mục tiêu tăng trưởng xanh, các chiến lược ngành quốc gia, nhất là chiến lược phát triển năng lượng quốc gia, cũng như các chính sách về phát triển khoa học-công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, đầu tư, tài chính, xã hội, môi trường… và các chính sách liên quan khác.

Kinh nghiệm quốc tế đã chỉ ra rằng chuyển dịch năng lượng toàn cầu theo hướng giảm thiểu phát thải các-bon sẽ thúc đẩy chất lượng tăng trưởng, tạo ra nhiều việc làm và có thêm cơ hội phát triển kinh tế quốc gia hơn so với lộ trình phát thải nhiều các-bon; đồng thời góp phần đáp ứng yêu cầu về an toàn môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo sức khỏe con người. Trong quá trình này, sự chuyển dịch năng lượng thành công của Việt Nam sẽ góp phần duy trì môi trường khí hậu toàn cầu bền vững hơn cho tất cả mọi người, hạn chế tác động xấu đến những vùng dễ bị tổn thương như Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam.

Theo khuyến nghị quốc tế, các nước theo đuổi chiến lược phát triển các-bon thấp sẽ có cơ hội cao hơn trong việc tiếp cận các nguồn lực để phát triển nền kinh tế thịnh vượng mới trong thế kỷ 21. Nếu chuyển dịch năng lượng gắn với phát triển hạ tầng năng lượng mới được thực hiện tốt ở Việt Nam thì sẽ thúc đẩy Việt Nam đạt được đồng bộ các mục tiêu về phát triển kinh tế, xã hội và môi trường, đáp ứng được tầm nhìn dài hạn, toàn diện của đất nước./.

TS. NGUYỄN ANH TUẤN (B) - HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM


Ghi chú:

[1]. Quốc hội, 2004. Luật số 28/2004/QH11. Hà Nội

[2]. Quốc hội. 2012. Luật số 24/2012/QH13. Hà Nội

[3]. Chuyển đổi các nhà máy điện than đến hạn bao gồm chuỗi các hoạt động được lựa chọn như: (1) chuyển đổi nhà máy điện than sang chạy khí và LNG, (2)không gia hạn thời gian hoạt động đối với các nhà máy điện than đã đến hạn và (3) đóng cửa sớm (có bồi thường thông qua đấu thầu) cho các nhà máy điện than đang trong thời gian hoạt động (4) đóng cửa (theo lệnh hành chính) các nhà máy điện than đang trong thời gian hoạt động.

[4]. Quy hoạch tài nguyên tổng hợp (IRP) hiện đang được áp dụng phổ biến trên thế giới như Mỹ, các nước châu Âu, Nam Phi, Trung Quốc, Brazil, Ấn Độ, Thái Lan... Vẫn dựa trên phuong pháp chi phí tối thiểu, IRP xem xét đồng thời cả nguồn lực từ phía nhu cầu (xu hướng chuyển dịch nhu cầu năng lượng, hiệu quả năng lượng, DSM v.v.) cũng như nguồn lực từ phía cung (nhà máy điện, đường dây truyền tải, v.v.) và các giải pháp cần thiết để thực hiện được kế hoạch ở cả phía cung và phía cầu. Chính vì vậy, dạng mô hình này xem xét phát triển đồng đều các yếu tố quan trọng trong mô hình hệ thống điện trong tương lai như năng lượng tái tạo, nguồn năng lượng phân tán (điện mặt trời mái nhà, tuabin gió mini), hệ thống lưu trữ năng lượng. tiết kiệm năng lượng và quản lý nhu cầu (DSM) cũng như các chi phí môi trường và xã hội với mục tiêu đáp ứng nhu cầu điện trong tương lại một cách hiệu quả nhất.

[5]. Các hạ tầng liên quan đến LNG được hiểu là các hạ tầng cần thiết được xây dựng đảm bảo hoạt động của các nhà máy điện LNG như cảng biển, kho bãi, đường ống. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng là việc các hạ tầng này sẽ được sử dụng cho mục đích khác như sử dụng cho hydro xanh hoặc khí methane để thay thế LNG trong tương lai.

Có thể bạn quan tâm

Các bài mới đăng

Các bài đã đăng

[Xem thêm]
Phiên bản di động