» Phản biện

"Nhận chìm" chất nạo vét cảng biển Vĩnh Tân là phương án hợp lý

14:02 |31/07/2017

 - 

Theo kinh nghiệm quốc tế​, bao gồm các nước Tây Âu, Bắc Âu, Mỹ và nhiều nước khác trên thế giới chủ yếu là nhận chìm ngay sát bờ để giữ lại cát cho bờ bãi quốc gia. Do đó, trong việc nhận chìm các chất nạo vét để xây dựng cảng than, phục vụ các nhà máy nhiệt điện (thuộc Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân) cần phải tính toán thật kỹ lưỡng để cân bằng cả về an ninh môi trường, lẫn bài toán kinh tế.

Nhiệt điện Vĩnh Tân: "Nhấn chìm" chất nạo vét là giải pháp tối ưu
Nhiệt điện Vĩnh Tân: "Cái khó ló cái khôn"
Tham khảo quốc tế cho dự án nạo vét cảng biển ở Vĩnh Tân
Đủ cơ sở pháp lý và thực tiễn để nhận chìm chất nạo vét ở Vĩnh Tân

PGS, TS. VŨ THANH CA (*)

"Nhận chìm": Phương án hợp lý nhất

Thứ nhất: Đổ chất nạo vét trên bờ thực tế rất khó khăn, tốn kém, thậm chí là bất khả thi do cần diện tích mặt bằng rộng lớn, có khả năng yêu cầu nhiều hộ dân phải di dời, kèm theo đó là chi phí đền bù, giải tỏa với nhiều hậu quả kinh tế - xã hội khác.

Thứ hai: Chất nạo vét là bùn cát mặn nên sẽ làm nhiễm mặn đất, nhiễm mặn các tầng nước ngầm; do vậy phải mất rất nhiều năm để nước mưa mới có thể rửa trôi và làm sạch được. Nhiễm mặn sẽ phá vỡ toàn bộ hệ sinh thái của khu vực chứa chất nạo vét và các khu vực xung quanh.

Thứ ba: Đổ chất nạo vét trên cạn về mặt kỹ thuật yêu cầu chi phí rất lớn vì phải xúc chất nạo vét lên các xe vận tải để chở đi đổ tại khu vực chứa chất nạo vét. Tất cả các chi phí sẽ làm giá thành của điện rất cao, mất tính cạnh tranh.

Khi nhận chìm dưới biển, thiệt hại sẽ được giảm đi rất nhiều, bởi vị trí nhận chìm bao giờ cũng phải là khu vực không giàu về tài nguyên, về sinh thái và có thể kiểm soát được tác động của chất nhận chìm tới các khu vực xung quanh.

Có nên sử dụng vật chất nạo vét làm vật liệu bồi lấp, lấn biển?

Có ý kiến cho rằng, có thể sử dụng vật chất nạo vét làm vật liệu bồi lấp và lấn biển, nhưng theo chúng tôi, cách làm này sẽ có nhiều tác động không tốt. Bởi các khu vực bờ biển hiện nay đang ở vị trí cân bằng và các yếu tố động lực (như sóng và dòng chảy biển) và vận chuyển bùn cát đang ở trạng thái duy trì cân bằng đó. Đối với các khu vực bờ biển đang bị xói lở, để bảo vệ bờ biển, chống xói lở ta phải xác định cán cân bùn cát để có giải pháp can thiệp, bù thêm bùn cát nếu như bị thiếu hụt. Làm kè đổ cát lấn biển tại một khu vực như đề xuất của Bình Thuận sẽ làm thay đổi trường sóng, dòng chảy, ngăn chặn dòng vận chuyển cát và do vậy phá vỡ cân bằng hiện có và sẽ gây xói lở ở các khu vực bờ biển cạnh đó.

Ngoài ra, kè lấn biển còn phá vỡ khả năng tự bảo vệ tự nhiên của bờ biển. Các nghiên cứu cho thấy: bãi cát như ở Bình Thuận có khả năng tiêu tán đến 90% năng lượng sóng, trong khi kè lấn biển chỉ tiêu tán được 10% đến 30% năng lượng sóng. Do vậy, công trình ven bờ biển thông thường (như kè) chỉ có thể bền vững nếu có bãi cát phía trước. Vì khu vực lấn biển là kè xây dựng trên độ sâu khá lớn nên không có bãi cát, sóng sẽ đánh trực tiếp vào kè và làm sập kè, để lại một vùng bờ biển hoang tàn và mang khoản đầu tư hàng trăm, thậm chí hàng ngàn tỉ đồng xuống biển. Kinh nghiệm tại Cửa Đại, Hội An cho thấy rằng kè do các resort xây dựng không thể ngăn nổi sóng và một số resort bị xói lở, phá hoại tới mức thậm chí bị bỏ hoang.

Không chỉ có vai trò tiêu tán năng lượng sóng, bảo vệ bờ biển, bãi cát biển còn được coi là nguồn tài nguyên vô giá, đặc biệt đối với các tỉnh có nền kinh tế dựa rất nhiều vào du lịch như Bình Thuận. Vì vậy, bảo vệ bãi cát là một trong những hoạt động mang lại những giá trị kinh tế rất cao đổi với Bình Thuận.

Hơn nữa, lấn biển là phá hoại vĩnh viễn một vùng biển. Khác với nhận chìm, nếu là đáy cát, tại khu vực nhận chìm hệ sinh thái sẽ phục hồi khá nhanh sau khi việc nhận chìm hoàn thành.

Để bảo vệ bờ biển, lấn biển, cần phải thuận theo tự nhiên. Nhật Bản, Singapore có lấn biển, nhưng họ thuận theo tự nhiên, dùng công trình để thay đổi trường sóng và đổ cát để nuôi bãi, tạo bãi để lấn biển. Lấn biển theo cách này vừa có bãi, vừa bảo vệ bờ.

Cát là một loại tài nguyên ngày càng quý hiếm do hiện nay các đập thủy điện, thủy lợi đã hầu như chặn hết cát ở thượng nguồn. Lượng cát còn lại chảy về xuôi bị khai thác đến mức không còn cát chảy ra bồi đắp bờ biển. Do vậy, cần tìm mọi cách để giữ cát. Nếu được nhận chìm ở độ sâu thích hợp, cát sẽ dần dần được sóng đưa trở lại vào bờ để bồi đắp bờ bãi.

Thời điểm nhận chìm phù hợp

Vì các kết quả lấy mẫu và phân tích đất, cát nạo vét cho thấy trong đất cát nạo vét hoàn toàn không có các độc tố hoặc nếu có độc tố thì hàm lượng của nó cũng thấp hơn mức cho phép rất nhiều, khả năng tác động môi trường lớn nhất hoạt động nhận chìm là bùn trong chất nạo vét sẽ hòa tan vào nước biển và gây tác động xấu tới khu bảo tồn biển Hòn Cau, bãi cạn Breda và khu vực lấy nước nuôi tôm giống ở ven bờ biển huyện Tuy Phong.

Để giảm hoặc loại trừ hoàn toàn tác động tiềm năng này, chúng ta cần phải xem xét, lựa chọn thời điểm nhận chìm cho phù hợp. Về mùa hè, trong gió mùa Tây Nam, do tác động của gió mùa và hệ thống nước trồi, dòng chảy ven bờ biển Bình Thuận qua khu vực nhận chìm có hướng từ Tây Nam lên Đông Bắc và ngoặt ra biển xa khi vượt qua ranh giới hai tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận. Vào mùa đông, do tác dụng của gió mùa Đông Bắc, dòng chảy ven bờ biển tỉnh Bình Thuận có hướng ngược lại, từ Đông Bắc xuống Tây Nam.

Với hệ thống dòng chảy như vậy, nếu chọn thời điểm nhận chìm đúng vào thời kỳ gió mùa Tây Nam (mùa hè) thì khi nhận chìm cát sẽ lắng đọng ngay xuống đáy; bùn một phần lắng đọng xuống đáy, một phần hòa tan vào nước và nước đục sẽ được dòng chảy biển vận chuyển ra phía ngoài. Do bùn có tính chất kết bông mạnh mẽ trong nước biển, khi ra độ sâu lớn, bùn sẽ nhanh chóng lắng đọng xuống đáy biển.

Do đó, theo tôi, nếu thực hiện nhận chìm thì dứt khoát chỉ nên thực hiện trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 10 hằng năm, trong điều kiện có gió mùa Tây Nam. Khi có gió mùa Đông Bắc, nếu dòng chảy ven bờ chuyển theo hướng từ Bắc xuống Nam thì phải dừng ngay việc nhận chìm, chờ đến khi gió đổi chiều mới nên tiếp tục thực hiện.

Ngoài ra, trong quá trình nhận chìm phải giám sát chặt chẽ để đảm bảo dừng ngay việc nhận chìm khi nồng độ bùn trong nước tại ranh giới khu bảo tồn biển, bãi cạn Breda và khu vực lấy nước nuôi tôm giống ven bờ vượt quá mức cho phép.

Nếu nhận chìm được thực hiện một cách nghiêm ngặt như vậy, cùng với việc sử dụng màn chắn bùn và công nghệ xả đáy, chắc chắn hoạt động nhận chìm sẽ không ảnh hưởng đáng kể tới khu bảo tồn biển Hòn Cau, bãi cạn Breda và khu vực lấy nước nuôi tôm giống ven bờ biển.

Khu vực nhận chìm là khu vực có đáy cát có lẫn bùn

Nhận chìm ở từng khu vực khác nhau thì phải thực hiện khảo sát cụ thể đáy biển của khu vực đó. Kinh nghiệm của tôi sau nhiều năm nghiên cứu biển cho thấy ở khu vực nhận chìm là bãi cát có lẫn bùn với hệ sinh thái nghèo nàn. Các kết quả lặn biển quan sát độc lập bằng máy quay của nhiếp ảnh gia Nguyễn Sơn và một nhà báo nữa được đăng trên mạng cũng như kết quả khảo sát của Viện Hải dương học cho thấy điều đó. Với hệ sinh thái này, thiệt hại do nhận chìm bùn cát nạo vét rất ít vì phần lớn sinh vật sẽ thoát khỏi khu vực hoặc xuyên qua lớp bùn cát nhận chìm để lên mặt. Sau khi dự án nhận chìm hoàn thành, các sinh vật này sẽ quay về và hệ sinh thái sẽ phục hồi rất nhanh.

Không nên chở chất nạo vét đi xa để nhận chìm

Thứ nhất: Nếu nhận chìm ở xa sẽ bị mất bùn cát, tức là bùn cát xuống biển sâu rồi, không còn gì để bồi đắp bờ bãi nữa.

Thứ hai: Việc chở chất nạo vét ra xa rất tốn kém vì phải thuê xà lan to, hoặc tàu chuyên dụng như xà lan của Trung Quốc chẳng hạn, còn Việt Nam thì chưa đáp ứng được. Hơn nữa, càng đi xa, điều kiện sóng gió sẽ càng nguy hiểm.

Với nhận thức này, Hướng dẫn về quản lý chất nạo vét do các nước thuộc Công ước OSPAR (Tây Âu và Bắc Âu) thông qua đã quy định là tốt nhất bùn cát nạo vét được nhận chìm tại khu vực cùng hệ thống bùn cát với khu vực nạo vét. Mục đích của việc này là đảm bảo bùn cát được nạo vét không làm mất đi lượng bùn cát của cả hệ thống và không gây ra mất cân bằng bùn cát.

Theo kinh nghiệm quốc tế, bao gồm các nước Tây Âu, Bắc Âu, Mỹ và nhiều nước khác chủ yếu là nhận chìm ngay sát bờ để giữ lại cát cho bờ bãi quốc gia của họ. Do đó, trong việc nhận chìm, luôn luôn phải tính toán thật kỹ lưỡng để cân bằng cả về an ninh môi trường lẫn bài toán kinh tế.

Thực tế, Việt Nam vẫn đang thực hiện nhận chìm bùn cát nạo vét duy tu cảng và luồng tàu cũng như bùn cát nạo vét khi xây dựng cảng. Trong tương lai, chúng ta vẫn sẽ phải tiếp tục nhận chìm. Do đó, việc quản lý, kiểm soát chặt chẽ các hoạt động nhận chìm ở biển là một trong những nội dung quan trọng nhất của phát triển bền vững nền kinh tế biển xanh.

(*) PGS, TS Vũ Thanh Ca - Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế và Khoa học Công nghệ (Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam) - Thành viên Nhóm chuyên gia về Môi trường Biển của Liên Hợp quốc

NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM



TÒA SOẠN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Phòng 406-407-408, Tòa nhà Văn phòng, số 87 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.22113344 - Fax: 024.35147193
Email: toasoan@nangluongvietnam.vn
Hotline: 0969998811 - 0969998822 - 0942632014 Trang TTĐT của Tạp chí Năng lượng Việt Nam hoạt động theo Giấy phép số: 66/GP-TTĐT, cấp ngày 30/3/2018
của Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử - Bộ Thông tin & Truyền thông.

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3