Báo cáo đề xuất Chính phủ hiện thực hóa Nghị quyết 70 của Bộ Chính trị về an ninh năng lượng quốc gia
05:12 | 13/03/2026
Theo Quy hoạch điện VIII (điều chỉnh), đến năm 2030 Việt Nam dự kiến đưa vào vận hành khoảng 22.500 MW điện sử dụng khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) với khoảng 15 dự án quy mô lớn. Tuy nhiên, đến đầu năm 2026, mới chỉ có duy nhất Nhà máy điện LNG Nhơn Trạch 3 và 4 chính thức vận hành thương mại, phần lớn các dự án còn lại đều chậm tiến độ, nhiều dự án chưa thể khởi công. Thực tế đã cho thấy một khoảng cách rất lớn giữa mục tiêu quy hoạch và tiến độ hiện hữu. Bài viết sau đây của chuyên gia Tạp chí Năng lượng Việt Nam phân tích các tranh luận chính sách và kinh nghiệm quốc tế, qua đó làm rõ điều kiện cốt lõi để điện khí LNG có thể vận hành hiệu quả trong thị trường điện cạnh tranh. |
![]() |
Diễn đàn tập trung tham luận, thảo luận 3 chuyên đề: (1) Cơ chế huy động vốn và vấn đề lựa chọn nhà đầu tư cho các dự án năng lượng quy mô lớn theo Điều chỉnh quy hoạch điện VIII; (2) Lựa chọn nhà đầu tư cho các dự án năng lượng tái tạo; (3) Vấn đề khảo sát, đo gió, tiềm năng phát triển các dự án điện gió ngoài khơi và quy hoạch không gian biển quốc gia.
![]() |
| Diễn đàn “Hiện thực hóa các mục tiêu tại Nghị quyết số 70 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia” do Cục Điện lực (Bộ Công Thương), Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (chủ trì); Tạp chí Năng lượng Việt Nam (tổ chức) ngày 21/1/2026 tại Hà Nội. |
Dưới đây là một số nội dung chính của Báo cáo Ban tổ chức Diễn đàn gửi Thủ tướng Chính phủ:
I. BỐI CẢNH VÀ CƠ SỞ KIẾN NGHỊ:
Diễn đàn diễn ra trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn tăng trưởng kinh tế cao, đặt ra thách thức kép: Vừa phải đảm bảo đủ điện cho phát triển, vừa thực hiện cam kết phát thải ròng bằng 0 (Net Zero). Mặc dù Nghị quyết số 253/2025/QH15 của Quốc hội, với nhiều cơ chế, đột phá (như cho phép tư nhân đầu tư điện hạt nhân mo-dun nhỏ (SMR), phân cấp điều chỉnh quy hoạch), nhưng thực tiễn triển khai vẫn gặp nhiều rào cản lớn.
Tổng hợp các tham luận và thảo luận về các khuôn khổ chính sách quốc tế (AZEC, JETP…), doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, một số doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam và các chuyên gia, Ban tổ chức Diễn đàn nhận định: “Thách thức lớn nhất của quá trình hiện thực hóa Nghị quyết số 70 hiện nay nằm ở những điểm nghẽn về mặt thể chế và dòng vốn đầu tư dẫn đến cản trở tiến độ các dự án năng lượng theo quy hoạch”.
II. NHỮNG ĐIỂM NGHẼN THỂ CHẾ TRỌNG YẾU ĐÃ ĐƯỢC NHẬN DIỆN:
1. Sự thiếu ổn định của quy định và chưa rõ ràng về phân cấp thẩm quyền làm gia tăng rủi ro pháp lý, trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn dài hạn cho các dự án năng lượng quy mô lớn.
2. Thiếu cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý và công bằng. Nhà đầu tư chịu rủi ro bao tiêu nhiên liệu (khí nội địa và LNG nhập khẩu) tương đối đắt đỏ hơn so với các dự án điện than, thủy điện quy mô lớn đang chiếm tỷ trọng lớn trong các thành phần tham gia thị trường điện, nhưng chưa có cơ chế chuyển ngang các cam kết bao tiêu khí này vào hợp đồng mua bán điện (PPA) trong trường hợp phát sinh do không đủ huy động điện, mà không do lỗi từ các nhà máy điện. Cũng chưa có cơ chế để thu hồi các chi phí cố định để đảm bảo nhà máy điện nền này có thể duy trì dịch vụ phát điện. Do vậy, cần cải thiện cấu trúc doanh thu trong PPA để phản ánh dòng tiền tối thiểu và cơ chế bù đắp cho nghĩa vụ bao tiêu nhiên liệu.
Chúng tôi nhận thấy: Ý kiến đề xuất về “khoản thanh toán bảo đảm dự phòng” được trình bày bởi các nhà đầu tư Nhật Bản có thể được xem xét để giải quyết các vấn đề này.
3. Hiện chưa có khung pháp lý quy định cụ thể cho hoạt động khảo sát, giao khu vực biển, quyền ưu tiên phát triển dự án và cơ chế hoàn trả chi phí khảo sát, khiến rủi ro tiền đầu tư rất lớn (hàng chục triệu USD).
4. Chưa có quy định công nhận lưu trữ năng lượng là dịch vụ thiết yếu. Thiết kế thị trường điện hiện nay chưa trả tiền cho chi phí tạo ra nguồn linh hoạt và hỗ trợ hệ thống (như điều tần, quán tính ảo), khiến lưu trữ điện chưa thể phát triển tương xứng với vai trò thiết yếu trong hệ thống điện tương lai.
5. Các ngân hàng trong nước đã cạn “room” tín dụng cho các dự án điện. Nguồn vốn quốc tế dồi dào, nhưng đòi hỏi tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) khắt khe, phân bổ rủi ro dự án hợp lý và các cam kết bảo lãnh rủi ro mà khung pháp lý hiện tại chưa đáp ứng được.
III. KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CHÍNH PHỦ:
Trên cơ sở tổng hợp ý kiến tại Diễn đàn, Ban tổ chức Diễn đàn trân trọng kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét 6 kiến nghị trọng tâm:
Thứ nhất: Trên cơ sở cơ chế phân bổ rủi ro hợp lý và công bằng, xây dựng cơ chế thu hồi chi phí nhiên liệu và cố định phù hợp đối với các nguồn điện nền và nguồn linh hoạt, đặc biệt là nguồn điện sử dụng khí trong nước và LNG nhập khẩu, cũng như các hệ thống lưu trữ quy mô lớn, bảo đảm khả năng phân bổ hợp lý các rủi ro cung cấp nhiên liệu tại thượng nguồn (mà nằm ngoài tầm kiểm soát hợp lý của nhà đầu tư) và bảo đảm khả năng huy động vốn dài hạn, nhưng không gây rủi ro bất hợp lý cho ngân sách nhà nước.
Thứ hai: Cải cách cơ chế giá điện theo hướng phản ánh đúng chi phí và rủi ro đầu tư, gắn với tăng cường truyền thông chính sách để tạo sự đồng thuận xã hội trong việc chia sẻ các chi phí tất yếu của quá trình bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Thứ ba: Sớm ban hành quy định về quyền lợi của nhà đầu tư tham gia khảo sát (căn cứ, cơ chế hoàn trả chi phí, hoặc điểm cộng khi đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư); đồng thời nới lỏng định mức diện tích giao biển khảo sát để đảm bảo hiệu quả kỹ thuật, cũng như làm rõ trình tự, thẩm quyền phê duyệt khảo sát và cấp chủ trương đầu tư, giảm chồng chéo giữa các cơ quan quản lý.
Thứ tư: Hoàn thiện thiết kế thị trường điện, thị trường dịch vụ phụ trợ theo hướng trả tiền cho chi phí ổn định hệ thống và giá trị linh hoạt, tạo không gian phát triển thực chất cho lưu trữ điện, cũng như các công nghệ hỗ trợ vận hành hệ thống điện hiện đại.
Thứ năm: Nghiên cứu cơ chế bảo lãnh (có điều kiện) và khung tài chính hỗn hợp cho các dự án năng lượng chiến lược, cấp bách của quốc gia (như điện hạt nhân, điện nền quy mô lớn) nhằm khơi thông dòng vốn vay quốc tế ưu đãi qua các sáng kiến quốc tế như JETP và AZEC, qua đó chia sẻ rủi ro, đẩy nhanh thu xếp tài chính và giảm chi phí vốn.
Thứ sáu: Xem xét sửa đổi Luật Các tổ chức Tín dụng theo hướng điều chỉnh lại tăng tỷ lệ giới hạn tín dụng cho một khách hàng và người có liên quan cho doanh nghiệp, cũng như các đơn vị thành viên vay vốn để thực hiện các dự án nguồn điện.
IV. KẾT LUẬN:
Việc tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế nêu trên không chỉ là giải pháp kỹ thuật, mà là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa Nghị quyết 70-NQ/TƯ của Bộ Chính trị và Nghị quyết 253/2025/QH15 của Quốc hội. Ban tổ chức Diễn đàn trân trọng kiến nghị Thủ tướng Chính phủ và các bộ quan tâm chỉ đạo xem xét các đề xuất nêu trên, nhằm tạo bước đột phá về thể chế, huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội, bảo đảm vừa đủ điện cho tăng trưởng, vừa thực hiện thành công chuyển dịch năng lượng bền vững và giữ vững an ninh năng lượng quốc gia trong dài hạn./.
BBT TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM


