RSS Feed for Đổi mới thị trường điện Việt Nam - Động lực và giải pháp (Phần 1) | Tạp chí Năng lượng Việt Nam Thứ năm 16/04/2026 08:23
TRANG TTĐT CỦA TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Đổi mới thị trường điện Việt Nam - Động lực và giải pháp (Phần 1)

 - Ngành điện Việt Nam đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi mang tính bước ngoặt, đòi hỏi phải tiến hành cải cách nhanh chóng và toàn diện thị trường điện. Quá trình này diễn ra trong bối cảnh chúng ta phải đáp ứng đồng thời hai yêu cầu khắt khe: Bứt phá các mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và thực thi những cam kết bền vững môi trường (Net Zero) đầy thách thức cho kỷ nguyên vươn mình của đất nước. Để có thêm góc nhìn chuyên sâu, mang tính hệ thống và các giải pháp chiến lược đóng góp vào tiến trình này, Tạp chí Năng lượng Việt Nam xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả toàn văn bài nghiên cứu: “Đổi mới thị trường điện Việt Nam: Động lực và giải pháp” của TS. Thái Doãn Hoàng Cầu và TS. Trần Huỳnh Ngọc dưới đây. Rất mong nhận được sự quan tâm theo dõi, chia sẻ và phản hồi thảo luận từ các chuyên gia, nhà quản lý và đông đảo bạn đọc!
Kết luận số 14-KL/TW - Chính sách ổn định nhiên liệu và những vấn đề đặt ra cho ngành năng lượng Việt Nam Kết luận số 14-KL/TW - Chính sách ổn định nhiên liệu và những vấn đề đặt ra cho ngành năng lượng Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường năng lượng thế giới biến động mạnh do xung đột địa chính trị, Kết luận số 14 ngày 20/3/2026 của Bộ Chính trị đã phát đi một thông điệp chính sách rõ ràng: Ưu tiên bảo đảm nguồn cung và ổn định giá nhiên liệu nhằm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, đằng sau các giải pháp tình thế đó là những vấn đề mang tính cấu trúc của ngành năng lượng đang được đặt ra, đòi hỏi cách tiếp cận dài hạn và đồng bộ hơn. Tổng hợp và nhận xét của Hội đồng khoa học Tạp chí Năng lượng Việt Nam.

“Đổi mới thị trường điện Việt Nam: Động lực và giải pháp” được trích dẫn nguyên văn từ Chương 3 thuộc ấn phẩm “Phân tích và nhận định của Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng Điện 2 (PECC2) về triển vọng phát triển năng lượng Việt Nam - Ấn bản 2025” (Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông). Tạp chí Năng lượng Việt Nam sẽ lần lượt giới thiệu hai phần của công trình nghiên cứu này.

Phần 1 (gồm các mục 1 và 2, lần lượt tương ứng với 3.1 và 3.2 của chương 3) phân tích lịch sử, hiện trạng thị trường điện Việt Nam, các động lực, thách thức, cũng như thuận lợi cho công cuộc đổi mới các cơ chế thị trường cho phát triển kinh tế và chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên mới.

Phần 2 (gồm các mục 3 và 4, lần lượt tương ứng với 3.3 và 3.4 của chương 3) đúc kết kinh nghiệm quốc tế về thay đổi thiết kế thị trường điện để thúc đẩy chuyển đổi năng lượng bền vững, hàm ý chiến lược và đề xuất các giải pháp thiết kế thị trường, nâng cao năng lực thực hiện, các cơ chế hỗ trợ khác trong ngắn hạn (trước 2030) và định hướng dài hạn (sau 2030, hoặc sớm hơn) cho ngành điện Việt Nam.

Phần 1:

1. Hiện trạng phát triển thị trường điện Việt Nam:

1.1. Tiến trình cải cách và hình thành thị trường điện Việt Nam:

1.1.1. Tổng quan:

Việt Nam với quy mô dân số khoảng 101 triệu người vào năm 2024 đã có một sự tăng trưởng kinh tế ngoạn mục. Tổng sản phẩm nội địa (GDP) tăng từ 21 tỷ USD năm 1995 lên 476,3 tỷ USD năm 2024, đứng thứ 33 thế giới năm 2024 (Nghị quyết 09/NQ-CP năm 2025). Sản lượng điện thương phẩm tăng tương ứng từ khoảng 11 TWh (tỷ kWh) năm 1995 lên khoảng 308,8 tỷ kWh năm 2024. Để đáp ứng nhu cầu sử dụng điện và tăng trưởng kinh tế, hệ thống điện Việt Nam đã tăng trưởng nhanh chóng với tổng công suất đặt nguồn điện từ 4,5 GW năm 1995 lên đến 82,4 GW năm 2024, trong đó có khoảng 61 GW nguồn điện quay (không kể điện gió và mặt trời).

Ngành điện Việt Nam hiện nay có quy mô đứng đầu Đông Nam Á, nằm trong top 20 hệ thống điện lớn nhất trên thế giới về quy mô công suất, và có sự tương đồng với hệ thống điện Úc về nhiều mặt. Quy hoạch điện VIII điều chỉnh dự báo ngành điện sẽ phát triển mạnh mẽ với sản lượng điện thương phẩm đạt 505 tỷ kWh điện vào năm 2030 - tức gấp đôi năm 2022 để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế GDP bình quân 10%/năm trong giai đoạn 2026-2030. Tổng nhu cầu vốn đầu tư nguồn và lưới điện cần khoảng 136,3 tỷ USD cho giai đoạn 2026-2030, 130 tỷ USD cho giai đoạn 2031-2035 và 569,1 tỷ USD cho giai đoạn 2036-2050.

Song song với phát triển hệ thống điện cho phát triển kinh tế, Việt Nam đã và đang tiến hành tái cơ cấu ngành điện, xây dựng thị trường điện và hiện đang trong giai đoạn hoàn thiện thị trường bán buôn, tiến tới thực hiện thị trường bán lẻ điện.

1.1.2. Quy mô và cơ cấu nguồn, phụ tải của hệ thống điện Việt Nam:

- Sản lượng điện và phụ tải đỉnh năm 2024: Tổng sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt 308,8 TWh. Phụ tải đỉnh toàn quốc năm 2024 đạt 48,96 GW.

- Cơ cấu nguồn điện hiện tại: Cơ cấu sản lượng nguồn điện năm 2024 được thể hiện ở Hình 3.1, trong đó điện than chiếm 50%, năng lượng tái tạo (NLTT) biến đổi (điện mặt trời và điện gió) chiếm 13%, thủy điện chiếm 29%, điện khí chiếm 7%. Cơ cấu nguồn cho thấy Việt Nam vẫn còn phụ thuộc cao vào nhiệt điện và thủy điện.

Đổi mới thị trường điện Việt Nam - Động lực và giải pháp (Phần 1)
Hình 3.1. Cơ cấu nguồn điện năm 2024 (Nguồn: EVN).

- Đặc điểm phụ tải:

+ Về cấu trúc nhu cầu điện theo ngành hay lĩnh vực kinh tế năm 2024 như minh hoạ trong Hình 3.2. Trong giai đoạn 2019-2024, hai nhóm công nghiệp - xây dựng và sinh hoạt, tiêu dùng dân dụng chiếm đa số. Trong năm 2024, hai nhóm ngành này chiếm tỷ lệ tương ứng xấp xỉ 51% và 35% trên tổng sản lượng điện thương phẩm 276,4 TWh.

+ Nhìn chung, đồ thị phụ tải Việt Nam khá bằng phẳng với hệ số phụ tải cao 85-93% và hệ số Pmin/Pmax cao trên 70% tuỳ theo chu kỳ phụ tải. Điều này thể hiện ảnh hưởng của nền kinh tế có cơ cấu chuyển dịch theo hướng công nghiệp là chủ đạo. Bên cạnh đó, đặc điểm phụ tải cũng có sự thay đổi theo thời tiết, theo miền và thời gian trong ngày, tuần và mùa.

Đổi mới thị trường điện Việt Nam - Động lực và giải pháp (Phần 1)
Hình 3.2. Cấu trúc nhu cầu điện theo ngành năm 2024. (Nguồn: SHS).

+ Tăng trưởng phụ tải: Phụ tải điện tăng trưởng trung bình 10%/năm trong giai đoạn 2023-2024. Điện thương phẩm năm 2025 tăng 4,9% so với năm 2024.

1.1.3. Lịch sử hình thành và phát triển thị trường điện Việt Nam giai đoạn 1990-2025:

Việt Nam đã có tầm nhìn và đặt mục tiêu tiến hành cải cách và thị trường hóa ngành điện từ năm 2004 (Luật Điện lực 2004). Quá trình cải cách này được quy định theo 3 cấp độ rõ ràng: Thị trường phát điện cạnh tranh (thị trường một người mua) năm 2012, thị trường bán buôn điện cạnh tranh vào năm 2019 - thêm nhiều người mua, và thị trường bán lẻ điện cạnh tranh - người tiêu thụ điện được tự do lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ bán lẻ. Tiến trình cải cách và hình thành thị trường điện Việt Nam từ những năm 1990 đến năm 2025 có thể được tóm tắt như trong Bảng 3.1.

Trong tiến trình cải cách, ngành điện Việt Nam đã tham khảo kinh nghiệm quốc tế và tiến hành tái cơ cấu theo mô hình tổng quát của thế giới. Đó là, tách bán buôn và bán lẻ khỏi dịch vụ lưới điện để xây dựng thị trường cạnh tranh, bên cạnh đó nhà nước tiếp tục điều tiết lưới truyền tải và phân phối, vốn là độc quyền tự nhiên. Lộ trình xây dựng thị trường điện lần lượt qua ba cấp độ nêu trên từ thấp lên cao và được tiến hành thận trọng từng bước: Thí điểm trước, rồi mới vận hành chính thức.

Bảng 3.1. Tóm tắt tiến trình cải cách và hình thành thị trường điện Việt Nam (1990-2025). Nguồn: [1], [2], [3]:

Thành tựu chính

Hạn chế/Đặc điểm Mô hình

Cơ cấu Quản trị

Giai đoạn trước 1994 - Mô hình Độc quyền Tích hợp Dọc

Hệ thống điện nhỏ, phân mảnh, tách biệt giữa Bắc, Trung, Nam. Tỷ lệ tiếp cận điện thấp (khoảng 2,5% hộ gia đình năm 1976).

Ba công ty điện lực nhà nước độc quyền, hoạt động kém hiệu quả về tài chính và kỹ thuật.

Các Bộ, Ngành nhà nước quản lý theo khu vực.

Giai đoạn 1994-2003 - Củng cố Thể chế Nhà nước

- 1994: Khánh thành đường dây 500 kV Bắc-Nam, thống nhất hệ thống điện.

- 1995: Thành lập Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), hợp nhất ba công ty khu vực thành một đơn vị độc quyền tích hợp dọc toàn quốc.

- 1996: Tư nhân bắt đầu tham gia phát điện (dự án BOT).

- Tỷ lệ tiếp cận điện tăng nhanh (đạt 87% năm 2005).

- Tiến độ tư nhân hóa chậm.

- Thiếu cơ chế đấu thầu cạnh tranh dẫn đến đàm phán giá khó khăn.

EVN chịu trách nhiệm phát triển, sản xuất và tiêu thụ điện.

Giai đoạn 2004-2011 - Hình thành Khung pháp lý và Lộ trình Cạnh tranh

- 2004: Luật Điện lực được thông qua, thiết lập khung pháp lý cho cải cách, yêu cầu unbundling (phân tách) EVN, cải cách giá điện và thành lập cơ quan điều tiết.

- 2005: Thành lập Cục Điều tiết điện lực (ERAV) trực thuộc Bộ Công Thương (MOIT).

- 2006: Thủ tướng phê duyệt Lộ trình 3 giai đoạn xây dựng thị trường điện (Phát điện Cạnh tranh, Bán buôn Cạnh tranh, Bán lẻ Cạnh tranh).

- 2008: Thành lập Công ty Mua bán điện (EPTC) thuộc EVN, đóng vai trò Người mua duy nhất.

- Tái cơ cấu EVN chủ yếu là tách chức năng (functional unbundling) ban đầu.

- Biến động kinh tế (khủng hoảng toàn cầu 2008) ảnh hưởng tiến độ cải cách.

ERAV (thuộc MOIT) bắt đầu nhiệm vụ điều tiết.

Giai đoạn 2012-2018 - Thị trường Phát điện Cạnh tranh (VCGM)

- 2012: VCGM chính thức vận hành (mô hình gộp chung chào giá theo chi phí, một người mua).

- Đến 2018, 23 GW công suất tham gia trực tiếp vào VCGM, chiếm hơn 50% tổng công suất đặt cùng thời điểm.

- 2016: Thí điểm Thị trường Bán buôn Điện Cạnh tranh (VWEM) "trên giấy".

- VCGM hoạt động theo mô hình thị trường điện tập trung và cơ chế chào giá dựa trên chi phí (Cost-Based Pool).

- VCGM chưa tạo tín hiệu đầu tư độc lập khỏi PPA dài hạn.

- Trung tâm điều độ hệ thống điện quốc gia (NLDC) vẫn thuộc EVN, có nguy cơ xung đột lợi ích.

EVN nắm giữ 59% thị phần phát điện năm 2018.

Giai đoạn 2019-2024 - Thị trường Bán buôn (VWEM) và Bùng nổ NLTT

- 2019: VWEM chính thức vận hành (giai đoạn đầu).

- Tăng trưởng đột biến Năng lượng Tái tạo Biến đổi (VRE) (điện mặt trời, điện gió), đạt 17,8 GW năm 2020 (chiếm 26% công suất đặt).

- Tháng 7/2024: Chính phủ ban hành Nghị định 80/2025/NĐ-CP về Cơ chế DPPA (mua bán điện trực tiếp).

- Giữa 2024: NLDC chuyển giao từ EVN sang MOIT, trở thành NSMO.

- Cuối 2024: Luật Điện lực 2024 được ban hành.

- VWEM chưa hoàn chỉnh, định giá biên hệ thống (SMP) toàn quốc chưa phản ánh tắc nghẽn lưới.

- Thiếu cơ chế thị trường phụ trợ và chào giá phía nhu cầu.

- NLTT tăng nhanh gây quá tải, tắc nghẽn lưới.

- Giá bán lẻ chưa phản ánh đầy đủ chi phí, EVN lỗ.

EVN vẫn giữ vai trò người mua duy nhất (EPTC) và kiểm soát truyền tải/phân phối.

2025 - Định hướng hoàn thiện thị trường bán buôn và bắt đầu thị trường bán lẻ [4].

Nghị quyết 328/NQ-CP [4]:

- Năm 2025: Mục tiêu hoàn thành tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế - 01/01/2026: Áp dụng chính thức Giá điện 2 thành phần

- 01/7/2026: Dự kiến áp dụng VWEM đã được rà soát, hoàn thiện - 01/01/2027: Dự kiến áp dụng chính thức Thị trường Bán lẻ Điện Cạnh tranh (VREM)

Tái cấu trúc (tách NLDC/SMO, cổ phần hóa các GENCO) được ưu tiên thực hiện để tạo tính độc lập và minh bạch.

NSMO độc lập khỏi EVN nhưng vẫn thuộc Chính phủ/MOIT quản lý.

1.1.4. Đặc điểm Thị trường bán buôn điện cạnh tranh VWEM:

Theo định hướng chuyển từ mô hình tập trung Nhà nước đến tự do hóa dần thị trường điện, Việt Nam hiện đang vận hành thị trường bán buôn điện cạnh tranh (VWEM) chính thức từ năm 2019. VWEM vẫn chưa hoàn chỉnh như thiết kế ban đầu năm 2015 và có các đặc điểm sau đây [5, 6]:

- Áp lực cung cấp điện và độc quyền tự nhiên trong truyền tải:

+ Nhu cầu điện tăng mạnh 9-11% giai đoạn 2012-2019 và 2023-2024. Dự báo nhu cầu điện giai đoạn 2025-2030 tương ứng với mục tiêu phát triển GDP cao (10%) của Chính phủ.

+ Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vẫn sở hữu và kiểm soát hệ thống truyền tải - phân phối.

- Thiết kế thị trường có tính tập trung cao:

+ Giai đoạn đầu của VWEM, EVN vẫn sở hữu đa số các nguồn điện lớn, và trên thực tế vẫn đóng vai trò “người mua duy nhất” (single buyer) của VWEM.

+ VWEM là thị trường điện tập trung dựa trên chi phí (Cost-Based Pool), với cơ chế định giá biên hệ thống (System Marginal Pricing - SMP) và khoản thanh toán công suất (capacity add-on) được tích hợp vào giá thị trường giao ngay, nhưng phạm vi còn hạn chế; dịch vụ phụ trợ được điều tiết; có hợp đồng phân bổ; cơ chế hợp đồng kỳ hạn tập trung còn đang trong giai đoạn hoàn thiện khung pháp lý, quy hoạch chi tiết và thử nghiệm, chưa triển khai thực tế.

+ Hệ thống nguồn điện, lưới điện được quy hoạch và định hướng quyết định đầu tư bởi Chính phủ.

+ Giá bán lẻ điện điều tiết chưa phản ánh đầy đủ biến động của thị trường bán buôn.

- Đặc điểm thiết kế phụ thuộc bối cảnh:

+ Tiến trình cải cách còn chậm, do ưu tiên đồng thuận xã hội - chính trị, các thể chế Nhà nước Trung ương có vai trò chủ chốt, và chính sách đảm bảo khả năng chi trả thông qua cơ chế bù chéo giá điện.

+ Thiết kế thị trường phản ánh điều kiện đặc thù và bối cảnh thể chế của Việt Nam trong quá trình cải cách - dần đưa vào các yếu tố cạnh tranh, nhưng vẫn giữ kiểm soát tập trung ở các khâu cần thiết.

1.2. Quá trình kết hợp phát triển hạ tầng điện lực và thị trường:

Trong giai đoạn 2012-2025, Việt Nam vừa phát triển điện lực với mức tăng trưởng phụ tải lớn, vừa tiến hành tái cấu trúc ngành sâu rộng, thiết lập cơ chế thị trường cạnh tranh, đặt các mục tiêu bền vững môi trường và triển khai các chính sách FiT, DPPA, RTS cho năng lượng tái tạo, phù hợp với xu hướng quốc tế.

Đổi mới thị trường điện Việt Nam - Động lực và giải pháp (Phần 1)
Hình 3.3. Tăng trưởng điện thương phẩm Việt Nam. (Nguồn: Bộ Công Thương, 2025).

Phát triển điện lực quy mô lớn và tăng trưởng phụ tải cao:

Ngành điện Việt Nam vận hành một hệ thống quy mô lớn, hiện đứng đầu khu vực ASEAN và trong top 20 toàn cầu về tổng công suất lắp đặt, thậm chí vượt qua Hệ thống điện Quốc gia Úc (NEM) về sản lượng điện năm 2024. Tăng trưởng điện năng sản xuất đã tăng mạnh mẽ từ năm 1995 đến năm 2025. Nhu cầu điện năng tiếp tục được dự báo tăng trưởng rất cao, với kỳ vọng nhu cầu sẽ tăng gần gấp đôi vào năm 2030 và gấp năm lần vào năm 2050 so với năm 2022 (Quy hoạch điện VIII điều chỉnh), nhằm đáp ứng mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 7% hàng năm trong giai đoạn 2021-2030 và bình quân 10%/năm trong giai đoạn 2026-2030. Để đáp ứng nhu cầu khổng lồ này, tổng nhu cầu vốn đầu tư nguồn và lưới điện được ước tính lên đến khoảng 136,3 tỷ USD cho giai đoạn 2026-2030.

Mục tiêu bền vững môi trường và hội nhập quốc tế:

Ngành điện lực đồng thời gánh vác trách nhiệm phát triển bền vững, gắn với cam kết đạt mức phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050. Các chính sách đang thúc đẩy chuyển dịch năng lượng (Energy Transition) thông qua việc ưu tiên phát triển NLTT, trong đó có cả điện mặt trời mái nhà (ĐMTMN), điện gió ngoài khơi, và các dạng năng lượng mới như hydro xanh, amoniac xanh. Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, tỷ trọng NLTT (không tính thủy điện) được quy hoạch đạt khoảng 28-36% tổng công suất vào năm 2030 và được định hướng lên tới 74-75% vào năm 2050.

Để hiện thực hóa các mục tiêu này và thu hút nguồn vốn lớn (như trong khuôn khổ JETP), Việt Nam đã triển khai các cơ chế thị trường và chính sách hội nhập quốc tế cụ thể như sau:

- Cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị phát điện NLTT với khách hàng sử dụng điện lớn (DPPA) nhằm thúc đẩy phát triển NLTT và đáp ứng nhu cầu thực thi trách nhiệm môi trường của các doanh nghiệp FDI, cũng như trong nước trong cạnh tranh và hội nhập quốc tế. Đây cũng là cơ chế giúp VWEM có thêm người mua và là tiền đề của VREM cho phép khách hàng sử dụng điện lớn tự do lựa chọn nguồn điện, người bán điện.

- Cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển ĐMTMN tự sản, tự tiêu nhằm thúc đẩy phát triển NLTT, tận dụng điện mặt trời mái nhà, công sở, công trình.

Hai cơ chế DPPA và ĐMTMN tự sản tự tiêu còn nhằm khuyến khích, thu hút đầu tư, huy động nguồn lực từ xã hội để phát triển nguồn điện. Về bản chất, cơ chế ĐMTMN tự sản, tự tiêu thúc đẩy tập hợp nhiều nguồn điện có công suất nhỏ, phân tán trên lưới điện phân phối, dưới đồng hồ đo nhằm giúp giảm nhu cầu công suất cho các nhà máy điện lớn nối lưới.

- Hội nhập: Việc phát triển NLTT quy mô lớn, bao gồm điện gió ngoài khơi, cũng được định hướng phục vụ mục tiêu xuất khẩu điện sang Campuchia, Singapore và Malaysia (dự kiến 5.000-10.000 MW vào năm 2035). Việc này cho thấy nỗ lực của Việt Nam trong việc thúc đẩy mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế

1.3. Một số thành tựu và hạn chế của mô hình thị trường điện hiện tại:

1.3.1. Ưu điểm và thành tựu:

Sau nhiều năm vận hành thị trường phát điện cạnh tranh từ năm 2012 và sau đó là thị trường bán buôn điện cạnh tranh chính thức từ năm 2019, ngành điện đã đạt được các mục tiêu đề ra ban đầu:

- Cơ bản đảm bảo an ninh cung cấp điện cho phát triển kinh tế, xã hội trong giai đoạn 2012-2022.

- Từng bước tăng cường tính minh bạch, bình đẳng (không phân biệt đối xử) trong việc lập lịch, huy động các nhà máy điện, định giá góp phần tối ưu chi phí toàn hệ thống.

- Tạo động lực thu hút đầu tư vào các nguồn năng lượng mới, trong đó bao gồm các nhà đầu tư tư nhân, nước ngoài, và hiện đại hóa hệ thống sản xuất điện, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế.

- Bước đầu phát triển bền vững cơ cấu nguồn điện.

1.3.2. Các hạn chế:

Tuy nhiên, cho đến nay, cải cách thị trường điện còn nhiều bất cập, thách thức. Thị trường bán buôn điện vẫn chưa hoàn chỉnh với mức độ tham gia thực sự vào thị trường điện còn thấp. Việc thực hiện đầu tư xây dựng các dự án thuộc Quy hoạch điện chậm tiến độ và không cân đối. Cơ chế giá bán lẻ điện hiện hành chưa tính đúng, tính đủ, kịp thời theo thay đổi chi phí đầu vào cùng với các thành phần khác. Thị trường bán lẻ điện vẫn chưa thực hiện thí điểm theo như lộ trình đã được duyệt.

Việt Nam vẫn chưa có thị trường bán buôn điện đúng nghĩa, vẫn chỉ là thị trường cạnh tranh về phát điện, vì các đơn vị mua buôn điện để cung cấp dịch vụ bán lẻ điện vẫn thuộc về Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN). EVN vẫn nắm phần lớn thị phần điện năng trong bán buôn điện, còn chủ yếu độc quyền trong mua buôn và bán lẻ điện.

Các chính sách điện lực hiện hành còn nhiều bất cập và chưa phát huy tối đa tiềm năng do thiếu các cơ chế thị trường đồng bộ và phù hợp.

Để có thể thu hút vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu phát triển rất lớn như Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đã dự báo, Việt Nam cần các cơ chế thị trường điện phù hợp, xứng tầm.

1.3.3. Nguyên nhân gốc rễ - nút thắt cần tháo gỡ:

Trong thời gian qua, một số chính sách được công chúng đặc biệt quan tâm như quy hoạch phát triển điện lực, NLTT, cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA), sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả, điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu, cơ chế mua bán điện các dự án nhà máy điện sử dụng khí thiên nhiên và khí LNG (cơ chế mua bán điện khí) đều gặp vướng mắc, chậm trễ trong việc xây dựng, cũng như thực thi chính sách [6, 7].

Theo phân tích trong [7], vướng mắc của các chính sách phát triển điện lực nêu trên có nguyên nhân gốc rễ liên quan đến việc chưa có các cơ chế thị trường điện phù hợp làm nền tảng cho các chính sách. Việc chậm thực hiện các cơ chế thị trường điện phù hợp tạo ra các điểm nghẽn cần khai thông nhanh chóng để phát triển ngành điện lực, kinh tế, xã hội. Cụ thể như sau:

Đầu tiên: Giá điện bán lẻ chưa thực sự theo cơ chế thị trường, không phản ánh kịp thời chi phí đầu vào biến động và khan hiếm cung - cầu của kinh tế học là một trong các nguyên nhân chính gây khó khăn cho việc thương thảo hợp đồng mua bán điện dài hạn, gây chậm trễ thực hiện các dự án phát triển nguồn, lưới điện theo các quy hoạch điện.

Tiến tới thực hiện thị trường bán lẻ điện VREM, trước đó cần hoàn thiện VWEM với nhiều người cạnh tranh mua buôn điện sẽ giúp nhà đầu tư dễ đạt được thỏa thuận hợp đồng PPA bán buôn điện dài hạn hơn là với chỉ một công ty mua buôn, bán lẻ điện là EVN. Cơ chế thị trường VREM cũng sẽ giúp khách hàng có động lực sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả, góp phần giảm bớt áp lực đầu tư công suất nguồn, lưới điện mới.

Thứ hai: Thị trường bán buôn điện hiện tại được thiết kế từ năm 2015 đã trở nên bất cập với tình hình mới có nhu cầu tăng trưởng nhanh và các mục tiêu bền vững về môi trường đầy thách thức như tỷ trọng NLTT cao và phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, đòi hỏi phải có một thiết kế mới phù hợp hơn.

Thứ ba: Cơ chế phát triển công suất mới thông qua quy hoạch điện cần cơ chế đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư (đã được thể chế hóa trong Luật điện lực 2024) để đạt chi phí mua điện từ hợp đồng dài hạn (PPA) cạnh tranh, hiệu quả. Cấu trúc hợp đồng PPA theo cơ chế bao tiêu điện năng áp dụng cho các nguồn phát điện nền trước đây đã chứng tỏ không còn phù hợp với các nhà máy điện khí có xu hướng giảm dần tỷ lệ điện năng theo thời gian do hệ thống điện tăng dần tỷ trọng NLTT, giảm phát thải.

Đổi mới thị trường điện Việt Nam - Động lực và giải pháp (Phần 1)
Hình 3.4. Nút thắt thị trường điện là nguyên nhân gốc rễ [7].

2. Động lực đổi mới thị trường điện Việt Nam, các thách thức và thuận lợi:

2.1. Động lực đổi mới từ bối cảnh phát triển kinh tế, xã hội - môi trường:

Vào cuối năm 2024, Việt Nam đặt mục tiêu “kỷ nguyên vươn mình” với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, xã hội cao hơn trước là trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Đồng thời, Việt Nam cũng cam kết với quốc tế mục tiêu bảo vệ môi trường, đạt mức phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050, đòi hỏi mức độ thâm nhập của NLTT vào hệ thống điện phải rất cao, đạt 28-36% (không bao gồm thủy điện) vào năm 2030 và được định hướng lên tới 74-75% vào năm 2050 (theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh).

Điện lực là một trong những ngành kinh tế thiết yếu, có vai trò cực kỳ quan trọng trong mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của nhân dân.

Như đã phân tích ở trên, các cơ chế thị trường điện hiện tại được thiết kế từ 2015 đã không còn phù hợp trong bối cảnh mới. Để đáp ứng kỳ vọng tăng trưởng kinh tế cao cho kỷ nguyên mới, ngành điện lực không chỉ phải “đi trước một bước”, mà còn phải “đột phá nhiều bước” trong đổi mới các cơ chế thị trường điện hiện đại, phù hợp, xứng tầm quy mô lớn trong tương lai của ngành điện và kinh tế Việt Nam.

Với Luật Điện lực mới 2024, Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị, cải cách thị trường điện Việt Nam đã được minh định là tất yếu, không thể đảo ngược, mở đường cho sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế nhà nước và tư nhân cùng tham gia phát triển thị trường điện, kinh tế , xã hội.

2.2. Các thách thức đặt ra trong giai đoạn mới:

Thách thức đặt ra với ngành điện là cấp thiết xây dựng thị trường điện cho kỷ nguyên mới và làm thế nào để vừa phát triển điện lực, vừa đảm bảo tính hiệu quả kinh tế (giá thành, giá điện thấp, cạnh tranh), đạt các mục tiêu chuyển đổi năng lượng bền vững mà vẫn đảm bảo các yêu cầu ổn định, tin cậy kỹ thuật.

Các thách thức lớn khác bao gồm năng lực tổ chức, thực hiện cải cách, trong đó yếu tố năng lực của con người đóng vai trò then chốt trong bối cảnh nhiều yếu tố bất định, rủi ro địa chính trị tác động đến giá nhiên liệu, đứt gãy chuỗi cung ứng làm tăng giá thành đầu tư và chi phí sản xuất điện.

Ngoài ra, một yếu tố quan trọng cần lưu ý khác, đó là Việt Nam đặt mục tiêu và nguyên tắc phát triển ngành năng lượng “phải phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, thực hiện an sinh xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và linh hoạt trong thực hiện cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính” (Nghị quyết 70-NQ/TW, Nghị quyết 328/NQ-CP). Theo đó, ổn định chính trị, an ninh quốc phòng, an sinh xã hội được ưu tiên và cân bằng với phát triển kinh tế. Việc thỏa mãn các mục tiêu này cùng một lúc tạo nên nhiều thử thách trong việc lựa chọn các cơ chế thị trường điện phù hợp cho Việt Nam [5].

2.2.1. Thách thức kỹ thuật, vận hành:

Điện gió, mặt trời có chi phí quy dẫn (LCOE - chi phí trung bình của việc xây dựng, vận hành một nhà máy điện cụ thể trong cả vòng đời kinh tế) thấp và có xu hướng tiếp tục giảm trong các công nghệ năng lượng tái tạo. Cùng với đó là các mục tiêu phát triển năng lượng sạch, bền vững, hệ thống điện Việt Nam tương lai sẽ có mức độ thâm nhập năng lượng tái tạo cao và sẽ phải đối diện với những thách thức cơ bản đang diễn ra tại các hệ thống điện trên thế giới trong tiến trình chuyển đổi năng lượng bền vững, như được trình bày sau đây.

Đặc điểm chung của điện gió và mặt trời là có chi phí vận hành bằng 0, hoặc rất thấp do không tốn chi phí nhiên liệu, nhưng nhược điểm là không ổn định. Hệ thống điện sẽ cần ngày càng nhiều các nguồn phát linh hoạt như thủy điện, thủy điện tích năng, pin lưu trữ, điện khí, máy phát điện diesel, đáp ứng phía phụ tải (demand response) để khắc phục các nhược điểm của điện tái tạo.

Cần lưu ý rằng, các thay đổi trên không ảnh hưởng đến các quy luật vật lý - kỹ thuật tức thời của hệ thống điện (các định luật Ohm, Kirchhoff) và nền tảng kinh tế của thị trường điện (có phạm vi thời gian tức thời hay ngắn hạn như lý thuyết giá điện giao ngay tối ưu - giá biên nút). Tuy vậy, chúng có tác động lớn đến các phương thức quản lý, các quyết định vận hành ngắn hạn và đầu tư dài hạn của ngành điện ở các phương diện chính sau:

Đầu tiên: Ngày càng nhiều điện mặt trời mái nhà, điện kế thông minh, thiết bị tiết kiệm năng lượng, thiết bị kiểm soát, điều khiển năng lượng thông minh và hệ thống pin lưu trữ năng lượng (bao gồm cả lưu trữ của xe điện khi không dùng để di chuyển mà đấu nối vào lưới điện để cung cấp các dịch vụ điện lực như dịch chuyển năng lượng, dịch vụ phụ trợ…) được lắp đặt phía người tiêu dùng. Các nguồn năng lượng phân tán (DER) này cho phép khách hàng sử dụng điện hiệu quả kinh tế hơn, phản ứng nhanh hơn với giá thị trường và do đó gắn kết, tham gia nhiều hơn vào các quyết định tiêu thụ và sản xuất điện năng vào thị trường năng lượng. Công tác dự báo phụ tải phục vụ cho vận hành, cũng như quy hoạch vì thế mà trở nên thách thức hơn, vì vậy cần được thay đổi cách tiếp cận, cũng như mô hình dự báo phù hợp.

Thứ hai: Sự thay đổi hành vi ở phía nhu cầu điện như nói trên cùng với các biến động ở phía cung (nhiều trang trại điện gió và mặt trời nối lưới điện) làm công tác huy động công suất phát điện và vận hành an ninh hệ thống điện sao cho hiệu quả kinh tế trở nên thách thức hơn.

Thứ ba: Việc năng lượng tái tạo thay thế, làm giảm dần các nhà máy nhiệt điện truyền thống dùng công nghệ máy điện quay đồng bộ, có thể điều khiển được làm phát sinh nhu cầu các dịch vụ phụ trợ mới như quán tính (inertia), đáp ứng tần số nhanh (fast frequency response), tốc độ thay đổi công suất (ramp rate), sức bền hệ thống (system strength). Bên cạnh đó, dự trữ điều tần cũng cần được tăng lên để bảo đảm tính ổn định vận hành hệ thống điện.

Thứ tư: Các chính sách nếu thúc đẩy năng lượng tái tạo phát triển quá nhanh sẽ dẫn đến các khó khăn trong huy động nguồn, đặc biệt là các nguồn truyền thống như thủy điện, nhiệt điện, và có thể làm giảm tính kinh tế nguồn điện nói chung. Các nhà máy điện than có thể sẽ tham gia vận hành ít hơn đáng kể, thậm chí có doanh thu không đủ bù tổng chi phí đầu tư và vận hành sẽ phải công bố đóng cửa trước niên hạn (chẳng hạn như đã từng diễn ra ở Úc), làm giảm độ tin cậy hệ thống điện và như thế có thể làm tăng giá thành sản xuất điện để đảm bảo độ tin cậy.

2.2.2. Thách thức về thị trường:

Các thay đổi lớn về cơ cấu nguồn điện và vận hành an ninh, tin cậy nói trên tác động lớn đến vận hành thị trường và đòi hỏi xem xét, thiết kế lại nhiều hạng mục của kiến trúc thị trường điện cho phù hợp (xem kiến trúc thị trường điện trong Hình 3.5).

Thị trường giao ngay cần chu kỳ ngắn hơn như 5 phút (như trong thị trường điện Úc), hoặc thậm chí ngắn hơn nữa để khuyến khích đầu tư và tối ưu hóa vận hành các nguồn linh hoạt (flexible resources), nguồn năng lượng phân tán (DER).

Thị trường dịch vụ phụ trợ cần bổ sung các cơ chế thị trường tương ứng cho dịch vụ phụ trợ mới có thể thị trường hóa được như dịch vụ điều khiển tần số nhanh (1 giây như ở Úc), tốc độ thay đổi công suất linh hoạt và cơ chế quản lý hiệu quả các dịch vụ mới khác.

Các ràng buộc liên kết thời gian - tức quyết định tại thời điểm này ảnh hưởng đến những quyết định của những thời điểm tiếp theo trong tương lai như các quyết định lưu trữ điện, khởi động, ngừng tổ máy phát điện, tốc độ thay đổi công suất... trở nên quan trọng hơn, đòi hỏi lập kế hoạch vận hành thị trường tập trung hướng tới tầm nhìn dài hơn một chu kỳ điều độ tới.

Giá điện giao ngay biến thiên tương ứng với cung - cầu biến động từ rất thấp (bằng 0) cho đến rất cao. Giá điện biến thiên cao làm cho các thiết kế chỉ dựa vào thị trường năng lượng như các thị trường giao ngay và thị trường hợp đồng tập trung (được lên kế hoạch trong Quyết định 8266/QĐ-BCT ngày 10/9/2015, Đề án Thiết kế chi tiết thị trường bán buôn điện cạnh tranh của ERAV năm 2017 và hiện đang thử nghiệm trên giấy, mua bán chủ yếu trong khung thời gian tháng tới cho đến ba năm tới) không kịp cung cấp tín hiệu đầu tư công suất mới ổn định, kịp thời bằng một thị trường công suất được điều khiển tập trung.

Thị trường bán lẻ cần có chính sách, cơ chế thị trường phù hợp nhằm khuyến khích phát minh, đổi mới sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu mới, cao hơn của khách hàng tiêu thụ cuối và để đền bù và khuyến khích sự linh hoạt ngày càng tăng trong thay đổi, đáp ứng phía nhu cầu của khách hàng.

Như vậy, các thiết kế thị trường hiện tại của Việt Nam, vốn đã từng hoạt động tốt cho các hệ thống điện có nhiều nguồn phát điện truyền thống (điện than, điện khí, thủy điện) có thể điều khiển được cũng không còn phù hợp trong bối cảnh mới.

Đổi mới thị trường điện Việt Nam - Động lực và giải pháp (Phần 1)
Hình 3.5. Kiến trúc thị trường điện [5].

2.2.3. Thách thức về quản trị và năng lực thực hiện cải cách:

Tất cả những tác động, thay đổi thiết kế thị trường nói trên đòi hỏi cần có cơ cấu quản trị thị trường điện phản ứng nhanh hơn, linh hoạt hơn và điều phối tốt hơn các chức năng quản trị để kịp thời với các thay đổi nhanh chóng về công nghệ, sản phẩm và yêu cầu mới của thị trường.

Điều này càng thách thức hơn với cơ cấu quản trị ngành điện Việt Nam. Việt Nam vừa hoàn tất trong nửa đầu năm 2025 việc tái cơ cấu, hợp nhất, tập trung các chức năng quản lý ngành điện lực của Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo và Cục Điều tiết Điện lực vào một cơ quan quản trị là Cục Điện lực (EAV), thuộc Bộ Công Thương. Cơ quan chịu trách nhiệm vận hành hệ thống điện và điều hành thị trường điện NSMO dù đã tách khỏi EVN từ tháng 8/2024 vẫn chịu sự điều phối bởi Cục Điện lực. Khối lượng công việc quản trị cũng như thực thi cải cách thị trường điện quy mô lớn và phức tạp sắp tới của hai đơn vị này là rất lớn, thử thách và đầy áp lực.

Sau hơn một thập kỷ triển khai thị trường điện, Việt Nam vẫn đang đối diện với khoảng trống lớn về nhân lực tương xứng. Bên cạnh đó, Việt nam còn phải liên tục tìm giải pháp, mô hình phù hợp hài hòa giữa 2 mặt đối lập do bối cảnh cơ chế. Một mặt, chúng ta khuyến khích một “sân chơi” - nơi các nhà bán điện, cung cấp dịch vụ điện có thể bình đẳng cạnh tranh. Mặt khác, chúng ta vẫn chưa thoát khỏi tư duy của mô hình quản lý tập trung, thiên về kiểm soát thị trường.

Chẳng hạn, một số điểm theo tư duy kiểm soát thị trường trong dự thảo Luật Điện lực (như giá NLTT dư thừa là 0 đồng, khuyến khích điện tái tạo tại vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Đông Nam bộ, chỉ quy định chi tiết một dạng hợp đồng mua bán điện) sau đó đã được khắc phục trong Luật Điện lực. Hay một số điểm chưa phù hợp với tính chất của thị trường (như giới hạn giá thỏa thuận trong mô hình DPPA qua lưới điện riêng) trong cơ chế DPPA cũng được liên tục xem xét sửa đổi từ cuối năm 2024 đến nay.

Ngoài ra, các tổ chức ở Việt Nam vẫn còn trao đổi, kiến nghị, kêu gọi cơ chế giá đặc biệt, ưu đãi, chính sách đặc thù không phù hợp với mục tiêu cạnh tranh công bằng, lành mạnh, không phân biệt đối xử giữa các đối tượng tham gia thị trường.

Chẳng hạn, trong quá trình xây dựng cơ chế cho điện khí LNG nhập khẩu, đã có ý kiến từ chủ đầu tư kiến nghị áp dụng cơ chế “bao tiêu/cam kết huy động sản lượng” lên đến 90% để giảm rủi ro doanh thu - tức là xin một “cơ chế đặc thù” về giá và huy động thay vì cạnh tranh hoàn toàn theo thị trường [8].

Ở phía nhóm ngành tiêu thụ điện lớn, báo VietnamPlus ngày 14/5/2025 phản ánh việc hiệp hội/đại diện ngành xi măng nêu đề xuất xây dựng “cơ chế đặc thù” để hỗ trợ doanh nghiệp (ví dụ cho các giải pháp tự phát điện từ nhiệt dư, hoặc các cơ chế liên quan chi phí điện). Cùng logic “xin cơ chế riêng”, một số trao đổi trên báo chí cũng cho thấy xu hướng đề nghị cơ chế giá/khung giá riêng theo nhóm đối tượng thay vì tiến tới một cấu trúc biểu giá phản ánh chi phí và không phân biệt đối xử.

Chẳng hạn, [9] ghi nhận kiến nghị về cơ chế giá điện linh hoạt theo thực tế tiêu thụ, công nghệ mới, và tín hiệu thị trường - đây là hướng cải cách hợp lý, nhưng nếu “bị hiểu sai” thành các gói ưu đãi cho từng nhóm thì sẽ đi ngược nguyên tắc cạnh tranh.

Các đề xuất này dù có mục đích thúc đẩy một số công nghệ, nhóm ngành đặc thù nào đó, nhưng lại mang tính trợ giá, bù chéo và như thế có thể làm méo mó tín hiệu kinh tế hiệu quả của thị trường hơn là mang lại lợi ích tổng thể cho người tiêu dùng và xã hội.

2.3. Thuận lợi từ định hướng thúc đẩy cơ chế mới và khung pháp lý:

Sự ra đời và ban hành của Luật Điện lực 2024 cùng các Nghị quyết quan trọng gần đây của Bộ Chính trị, như Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị quyết 70) đã tạo ra một hệ sinh thái chính sách tương hỗ, tương ứng và tương thích, mang tính đột phá, hỗ trợ mạnh mẽ cho công cuộc cải cách thị trường điện lực, phát triển ngành điện và kinh tế, xã hội Việt Nam.

Các chủ trương, chính sách lớn của Nhà nước, được cụ thể hóa bằng hệ thống văn bản pháp luật, sẽ góp phần hoàn thiện thể chế và các cơ chế quản lý, vận hành thị trường điện, cung cấp động lực mạnh mẽ để nâng tầm công cuộc cải cách, đổi mới thị trường điện - mà chúng ta có thể xem là Cải cách Thị trường điện 2.0(*).

(*): Khái niệm của nhóm tác giả, để thể hiện một cải cách toàn diện, bao gồm không chỉ thiết kế mới thị trường điện, mà còn cải cách sâu sắc cơ cấu quản trị và nhân lực, nhằm đáp ứng các mục tiêu Net Zero 2050 và tăng trưởng kinh tế cao.

Đặc biệt, Nghị quyết 70 đã định hướng chiến lược và giải pháp cho bốn vấn đề nan giải mà ngành điện Việt Nam đang đối mặt là tính tin cậy, giá cả hợp lý, tính bền vững, và yêu cầu cấp bách thực hiện thị trường điện [10]:

- Về tính tin cậy, Nghị quyết đảm bảo an ninh cung ứng điện bằng cách đa dạng hóa tối ưu các nguồn điện, bao gồm cả NLTT, điện khí, điện hạt nhân và thủy điện tích năng. Đồng thời, đầu tư mạnh mẽ vào lưới điện thông minh và hệ thống lưu trữ năng lượng, cùng với các chương trình quản lý nhu cầu điện, giúp bình ổn hệ thống và nâng cao độ tin cậy.

- Về giá cả hợp lý, việc chuyển sang cơ chế giá thị trường minh bạch, loại bỏ bù chéo, cùng với việc tái cơ cấu, thúc đẩy cạnh tranh giữa các đơn vị phát điện và bán lẻ, sẽ giúp tối ưu hóa chi phí và mang lại giá điện cạnh tranh hơn trong dài hạn. Song song đó, chính sách an sinh xã hội cho người nghèo và đối tượng chính sách đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội.

- Về tính bền vững, ưu tiên phát triển NLTT, giảm nhiệt điện than, ứng dụng công nghệ sạch và tuân thủ các cam kết quốc tế về giảm phát thải là những giải pháp trực tiếp hướng đến mục tiêu bền vững môi trường. Việc phát triển điện hạt nhân cũng là một phần của chiến lược này.

- Về thực hiện thị trường điện, Nghị quyết yêu cầu áp dụng giá thị trường đối với mọi loại hình năng lượng, kiên quyết xóa bỏ bù chéo giữa các nhóm khách hàng, và tăng cường quyền lựa chọn của khách hàng sử dụng điện trong việc tiếp cận, lựa chọn đơn vị cung cấp điện phù hợp với nhu cầu.

Chính phủ cũng đã ban hành Nghị quyết số 328/NQ-CP (ngày 13/10/2025) để xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 70. Theo đó, Chính phủ cam kết quyết tâm, quyết liệt hoàn thiện và tổ chức triển khai thực hiện thị trường điện với một số mục tiêu chính. Cụ thể như sau:

- Hoàn thành việc tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế cản trở sự phát triển của ngành năng lượng trong năm 2025.

- Thiết kế và hoàn thiện Thị trường Bán buôn Điện Cạnh tranh (VWEM) để áp dụng từ ngày 1/7/2026.

- Thiết kế và hoàn thiện Thị trường Bán lẻ Điện Cạnh tranh (VREM) để áp dụng từ ngày 1/1/2027.

Một điểm thuận lợi rất quan trọng nữa là cải cách thị trường điện đã nhận được sự đồng thuận từ các chuyên gia, nhà khoa học và các tổ chức liên quan trong ngành điện [11].

Cơ chế thị trường tạo động lực đổi mới, phát huy nội lực kinh tế, xã hội và bao gồm cả nhân lực sẽ phải thích nghi và năng động hơn. Việt Nam với vị thế là một quốc gia “đi sau” trong cải cách thị trường điện, có thể học hỏi kinh nghiệm quốc tế và áp dụng các thiết kế thị trường tiên tiến để “về kịp, hoặc vượt trước” trong xu hướng chuyển dịch năng lượng bền vững toàn cầu.

Đón đọc Phần 2...

TS. THÁI DOÃN HOÀNG CẦU (MỤC 1, 2, 3, 4), TS. TRẦN HUỲNH NGỌC (MỤC 1, 2)


Tài liệu tham khảo:

[1] Lee, A. D., & Gerner, F. (2020). Learning from Power Sector Reform Experiences: The Case of Vietnam. World Bank Policy Research Working Paper, 9169.

[2] Cầu, T. D. H. (2022). Thị trường điện: Các vấn đề cơ bản và chuyên đề kinh tế, thương mại, quản lý chiến lược. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

[3] Agora Energiewende, NewClimate Institute, Energy Research Institute. (2024). Electricity market designs in Southeast Asia: Harnessing opportunities for renewable energy growth – Indonesia, Thailand, Viet Nam and the Philippines. Clean, Affordable and Secure Energy for Southeast Asia project.

[4] Chính phủ (2025). Nghị quyết 328/NQ-CP ngày 13/10/2025 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

[5] Cau, T.D.H. (2025). “Electricity Markets for Decarbonised Power Systems: How to Determine Redesign Preferences”. Presentation at Market design and development session of the CIGRE Australia conference 2025, Adelaide, 2-4 September 2025.

[6] Cầu, T. D. H. (2024). Luật Điện lực mới và vấn đề cấp bách triển khai thực hiện cải cách thị trường điện. Petrotimes - Tạp Chí Của Hội Dầu Khí Việt Nam. 4/11/2024. (New Electricity law and the urgency of implementing electricity market reforms)

[7] Cầu T. D. H. (2024). Thị trường điện: Nút thắt cần tháo gỡ ngay. Kinh tế Sài Gòn, 2024(28), 50–53. 11/07/2024 (Electricity market: The Knot That Must Be Untied Immediately)

[8] Báo Tuổi Trẻ, “Đề xuất dự án điện khí LNG nhập khẩu được hưởng bao tiêu 75% trong 15 năm”, ngày 12/11/2025.

[9] Báo Tuổi Trẻ, “Đề xuất cơ chế giá điện linh hoạt theo khu vực và người dùng”, ngày 01/10/2025.

[10] Cầu T. D. H. (2025). Lời giải cho 4 vấn đề nan giải của ngành điện Việt Nam. Dân Trí. Chuyên mục Tâm điểm. 08/09/2025. (Solutions for the quadrilemma of the Vietnam electricity industry).

[11] TCCT. (2025, October 1). Phát triển thị trường điện cạnh tranh, cải cách cơ chế giá điện là yêu cầu và xu thế tất yếu. Tạp chí Công Thương. accessed 20 Oct 2025.

[12] CIGRE. (2016). Capacity mechanisms – needs, solutions and state of affair (No. C15.7). CIGRE working group.

[13] Cau, T.D.H., 2025, “Navigating the NEM design challenges for the environment-constrained energy transition”, A submission to the NEM review panel on its Draft Review Report (6 August 2025), 17 September 2025, Official link: here.

[14] Cầu, T. D. H. (2024). Thiết kế mới thị trường điện và các tác động & Thiết kế mới thị trường điện: Khuyến nghị các điểm chính cần xem xét. Kinh tế Sài gòn. Số 21-2024: 27-29 & 30-31. 23/05/2024. (New electricity market design and impacts & New electricity market design: Recommended key points to consider)

[15] Cramton, P. (2017). Electricity market design. Oxford Review of Economic Policy, 33(4), 589–612.

[16] Glachant, J.-M., Joskow, P. L., & Pollitt, M. G. (2021). Handbook on electricity markets. Edward Elgar Publishing.

[17] Hogan, W. W. (2022). Electricity Market Design and Zero-Marginal Cost Generation. Current Sustainable/Renewable Energy Reports, 9(1), 15–26.

[18] Wolak, F. A. (2021). Wholesale electricity market design. In Handbook on electricity markets (pp. 73–110). Edward Elgar Publishing.

[19] Energy Sector Management Assistance Program (ESMAP). (2022). Wholesale Electricity Market Design (Final No. 181187). World Bank Group.

[20] Cầu T. D. H. (2025). Cải cách thị trường điện Việt Nam 2.0 nhìn từ sự tương hỗ giữa các chủ trương chính sách lớn. Tạp chí Kinh tế Sài Gòn, 2025(23), 23–25. 5/6/2025.

[21] Munoz, F. D., Wogrin, S., Oren, S. S., & Hobbs, B. F. (2018). Economic Inefficiencies of Cost-based Electricity Market Designs. The Energy Journal, 39(3), 51–68.

[22] Cầu, T. D. H. (2025). Nhân lực cho thị trường điện Việt Nam 2.0. Tạp chí Tia sáng, Số 18: 12-14. 20/9/2025. (Translation of the title: Developing human resources for Vietnam electricity market reform 2.0). Also republished in Tạp chí Năng lượng Việt Nam 2/10/2025 https://nangluongvietnam.vn/nhan-luc-cho-thi-truong-dien-20-cua-viet-nam-34913.html.

[23] Cầu, T.D.H. (2023). Luật NLTT cần đảm bảo cân bằng hài hoà các mục tiêu an ninh, hiệu quả và bền vững. Chuyên đề Vì sao cần sớm có Luật Năng lượng tái tạo? PetroTimes - Tạp chí của Hội Dầu khí Việt Nam. 25/12/2023.

[24] Cầu, T.D.H. (2024). Kinh nghiệm cải cách thị trường điện Úc và khuyến nghị cho Indonesia và Việt Nam (Phần 1 và Phần 2). PetroTimes - Tạp chí của Hội Dầu khí Việt Nam 20 & 21/3/2024 và đăng lại trên Tạp chí Năng lượng Việt Nam 26/3/2024. https://nangluongvietnam.vn/kinh-nghiem-cai-cach-thi-truong-dien-uc-khuyen-nghi-cho-indonesia-va-viet-nam-32348.html.

Các bài đã đăng

[Xem thêm]
Phiên bản di động