Đề xuất của XanhTerra về cơ chế khuyến khích điện mặt trời mái nhà tại Việt Nam
13:21 | 13/04/2026
Năm 2026 nguy cơ thiếu điện vào giờ cao điểm buổi tối đang ngày càng hiện hữu trong bối cảnh phụ tải tăng nhanh và điều kiện thủy văn kém thuận lợi. Theo định hướng điều hành tại Chỉ thị số 10/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, điện mặt trời mái nhà kết hợp pin lưu trữ được xác định là một công cụ quan trọng để giảm phụ tải đỉnh và tăng tính tự chủ năng lượng. Tuy nhiên, hiệu quả của mô hình này không mang tính phổ quát. Thực tế cho thấy, với hộ gia đình có ngưỡng tiêu thụ điện năng khoảng 600 kWh/tháng là điều kiện cần để bảo đảm hiệu quả kinh tế. Tiếp sau bài viết “Điện mặt trời mái nhà kết hợp pin lưu trữ - Giải pháp giảm phụ tải đỉnh hệ thống điện Việt Nam” và Chỉ thị số 10/CT-TTg, chuyên gia Tạp chí Năng lượng Việt Nam có một số khuyến nghị ban đầu dưới đây để bạn đọc tham khảo. |
Hội thảo nâng cao năng lực APEC về chính sách năng lượng mới, tái tạo tại Bangkok diễn ra vào thời điểm đặc biệt - chỉ 1 ngày trước hội thảo, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ban hành Chỉ thị 10/CT-TTg yêu cầu đẩy mạnh phát triển điện mặt trời mái nhà (tự sản xuất, tự tiêu thụ) cho thấy chính sách ở cấp trung ương đang đi trước những công cụ tài khóa hiện có.
I. Những điểm Thái Lan làm tốt:
Triển khai từ cuối năm 2025, gói “Quick Big Win” của Thái Lan gồm các chính sách bổ trợ lẫn nhau: Giảm trừ thuế thu nhập cá nhân (PIT) tối đa 200.000 baht (~6.100 USD) cho hộ gia đình lắp đặt điện mặt trời mái nhà (ĐMTMN) từ tháng 3/2026 đến tháng 12/2028; chương trình điện mặt trời (ĐMT) cộng đồng với công suất 1.500 MW theo mô hình “1 huyện, 1 nhà máy điện”; chương trình bơm nước nông nghiệp bằng ĐMT, và mô hình hợp tác công - tư (PPP) mới về ĐMT cho công trình công.
Hiện tại, chỉ có chính sách ưu đãi thuế đã được triển khai. Khung chính sách ĐMT cộng đồng vẫn chưa chốt giá điện. Còn mô hình PPP chưa có khung pháp lý hoàn thiện.
Khấu trừ thuế cho ĐMT hộ gia đình là một chính sách tinh gọn được ban hành theo Sắc lệnh Hoàng gia số 805 vào tháng 3/2026. Người tiêu dùng được khấu trừ tối đa 200.000 baht vào PIT. Cơ chế này không dùng chi ngân sách trực tiếp (chỉ là khoản hụt thu ngân sách, không phải chi tiền), không cần phân bổ theo địa phương và tự mở rộng theo mức độ triển khai thực tế.
Cách tiếp cận chuyển ưu đãi từ phía cung sang người mua này khá tương đồng với Chương trình Pin gia đình giá rẻ của Úc. Trong đó, từ tháng 7/2025, chương trình này đã giúp giảm trung bình khoảng 30% chi phí đầu tư ban đầu cho hệ thống pin lưu trữ (BESS). Thông qua Cơ chế Năng lượng tái tạo Quy mô nhỏ, các đơn vị lắp đặt ĐMT đạt chuẩn có thể giảm giá trực tiếp tại điểm bán, thay vì để người dân tự làm thủ tục nhận khoản hỗ trợ sau.
“Giá trị khoản khấu trừ thuế của Thái Lan lớn gấp ~50 lần gói hỗ trợ hộ gia đình mà Việt Nam đề xuất. Sự chênh lệch này không phản ánh sự khác biệt về mục tiêu chính sách, mà là về cách xây dựng cơ chế”.
Dù vậy, kết quả tổng thể của Thái Lan vẫn cho thấy nhiều hạn chế. Sau gần 20 năm triển khai chính sách, ĐMTMN hộ gia đình chỉ chiếm chưa đến 1% tổng công suất ĐMT. Điểm nghẽn nằm ở cơ chế tính giá điện dư: Giá điện bán lên lưới chỉ khoảng 2,20 baht/kWh, trong khi giá bán lẻ điện khoảng 4 baht/kWh - nghĩa là chưa bằng một nửa. Còn cơ chế bù trừ điện năng đầy đủ vẫn trong quá trình xem xét.
Như vậy, mức hỗ trợ cao cho chi phí ban đầu không thể thay thế dòng doanh thu dài hạn đủ tin cậy cho nhà đầu tư.
II. Khoảng trống trong cơ chế khuyến khích của Việt Nam:
Gói hỗ trợ đề xuất:
Theo dự thảo lần thứ ba, gói hỗ trợ ĐMT hộ gia đình của Việt Nam gồm:
1. Hỗ trợ tiền đầu tư hệ thống ĐMTMN 1-1,5 triệu đồng (~40-60 USD).
2. Hỗ trợ thêm 1-1,5 triệu đồng nếu lắp đặt BESS.
3. Với hộ gia đình không lắp kèm BESS: Hỗ trợ vay vốn 4 triệu đồng/kWp (tối đa 5 kWp).
4. Với hộ gia đình lắp kèm BESS: Hỗ trợ lãi suất với hạn mức vay tối thiểu 2 triệu đồng/kWh (tối đa 10 kWh).
Ngay cả khi tận dụng tối đa chính sách này, tổng hỗ trợ trực tiếp cho mỗi hộ chỉ khoảng 3 triệu đồng (~115 USD). Con số này thấp hơn rất nhiều so với mức hỗ trợ 6,100 USD của Thái Lan.
Sự chênh lệch này không phải do mức độ quyết tâm chính trị, mà phản ánh một vấn đề sâu xa hơn. Do được tài trợ từ nguồn ngân sách tỉnh, gói hỗ trợ của Việt Nam phụ thuộc vào quyết định phân bổ hàng năm, dễ dẫn đến chênh lệch giữa các tỉnh và vấp phải sự thận trọng giữa các bộ, ngành về vấn đề thu - chi. Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp và Ngân hàng Nhà nước đã bày tỏ lo ngại về cơ chế này, nhấn mạnh kể cả khi chỉ áp dụng mức hỗ trợ khiêm tốn, tổng chi phí lũy kế khoảng 42 nghìn tỷ đồng trong giai đoạn 2026-2030 sẽ tạo áp lực lớn lên cân đối ngân sách địa phương.
Vấn đề về cơ sở tính PIT:
Thị trường ĐMT hộ gia đình ở Việt Nam đối mặt với một rào cản khác mà Thái Lan không gặp phải. Theo ước tính của Tổng cục Thống kê: Tỷ lệ lao động phi chính thức tại Việt Nam ở mức cao, đạt khoảng 65% lực lượng lao động, khiến nhiều hộ gia đình có thể hưởng lợi từ ĐMTMN không chạm tới ngưỡng chịu thuế, thậm chí đứng ngoài hệ thống thuế.
Theo Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15, ngưỡng doanh thu chịu thuế đối với cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh đã nâng từ 200 triệu lên 500 triệu đồng/năm. Như vậy, phần lớn hộ gia đình nông thôn, lao động nông nghiệp và hộ kinh doanh nhỏ không còn nằm trong diện chịu thuế.
Vì vậy, cơ chế khấu trừ PIT của Thái Lan sẽ khó phát huy hiệu quả với nhiều cá nhân và hộ gia đình Việt Nam. Một công cụ tài khóa hiệu quả với Bangkok chưa chắc sẽ phù hợp khi áp dụng tại Hà Nội. hay Cần Thơ.
III. So sánh Thái Lan và Việt Nam:
| Tiêu chí | Thái Lan | Việt Nam |
|---|---|---|
| Mức ưu đãi tài chính cho mỗi hộ gia đình | ~6.100 USD (khấu trừ PIT) | Tối đa ~115 USD (dự thảo 3 gồm trợ cấp lắp đặt ĐMTMN và BESS + hỗ trợ vay vốn) |
| Cơ chế tài trợ | Ngoài ngân sách (giảm thu) | Trong ngân sách (chi ngân sách tỉnh) |
| Tính đồng đều theo địa lý | Áp dụng toàn quốc, thống nhất | Phụ thuộc từng tỉnh |
| Độ bao phủ của cơ sở tính thuế | Tầng lớp trung lưu đô thị rộng hơn | Cơ sở tính PIT hẹp |
| Động lực cho BESS phía sau công tơ (BTM) | Chưa có hỗ trợ riêng cho BTM | Giá điện bán lẻ hai thành phần (dự thảo) & cơ chế tính giá ĐMTMN dư do XanhTerra đề xuất - áp dụng cho khách hàng thương mại |
| Giá điện dư | 2,20 baht/kWh, so với giá bán lẻ 4 baht | Giá thị trường bình quân, giới hạn ở mức 20% sản lượng |
IV. Giải pháp đề xuất - Chuyển ưu đãi về phía đơn vị lắp đặt:
Ý tưởng cốt lõi: Đơn vị lắp đặt trở thành bên nhận ưu đãi, sau đó chuyển trọn phần ưu đãi đó cho khách hàng.
Giải pháp phù hợp với Việt Nam là chuyển ưu đãi tài chính từ người tiêu dùng sang đơn vị lắp đặt, thực hiện thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp (CIT), thay vì PIT. Các công ty lắp đặt ĐMT là đối tượng nộp CIT chính thức, hoạt động trên phạm vi toàn quốc với hồ sơ thuế có thể kiểm toán được. Bên cạnh đó, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 có hiệu lực từ tháng 10/2025 đã mở ra cơ hội quan trọng khi chính thức công nhận chi phí liên quan đến giảm phát thải khí nhà kính nhằm trung hòa các-bon và net zero, giảm ô nhiễm môi trường gắn với hoạt động kinh doanh là khoản chi được khấu trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.
Về bản chất, cơ chế này tương tự Đạo luật Giảm lạm phát (IRA) của Mỹ với xe điện: Khoản ưu đãi thuế được chuyển cho đại lý bán xe, và đại lý phải biến ưu đãi đó thành khoản giảm giá ngay tại điểm bán với giao dịch được ghi nhận điện tử và có thể kiểm toán bởi Sở Thuế vụ Mỹ.
Cơ chế đề xuất cho Việt Nam dưới đây còn đơn giản hơn vì không cần hoàn trả ngân sách: Đơn vị lắp đặt chỉ cần khấu trừ ưu đãi khi quyết toán thuế CIT cuối năm như các chính sách ưu đãi khác. Các bước chính như sau:
1. Lắp đặt và chứng nhận: Đơn vị lắp đặt ĐMT đạt chuẩn triển khai lắp đặt hệ thống ĐMTMN tự sản xuất, tự tiêu thụ theo quy định tại Nghị định 58/2025/NĐ-CP.
2. Hưởng tín dụng CIT: Đơn vị này hưởng khoản tín dụng CIT cố định - không phải khoản khấu trừ, mà giảm trực tiếp nghĩa vụ thuế tính theo mỗi kWp công suất lắp đặt.
3. Chuyển ưu đãi cho khách hàng: Đơn vị lắp đặt chuyển trọn phần ưu đãi trên cho khách hàng dưới dạng khoản giảm giá ghi trên hóa đơn điện tử, qua đó giảm đúng bằng số tiền ưu đãi thuế vào tổng số tiền khách hàng phải thanh toán.
4. Giá vẫn do thị trường quyết định: Giá lắp đặt của doanh nghiệp không bị kiểm soát. Thị trường cạnh tranh quyết định giá; chi phí có thể giảm thêm khi giá tấm pin năng lượng mặt trời giảm. Cơ chế này chỉ đơn thuần khuếch đại tác động vốn có của thị trường.
5. Điều chỉnh chính sách: Mức tín dụng thuế có thể do Bộ Tài chính phối hợp Bộ Công Thương chủ trì xác định và được điều chỉnh linh hoạt theo mức độ phát triển của ĐMTMN.
V. Cách triển khai cơ chế XanhTerra đề xuất:
Cơ chế khuyến khích thông qua CIT cần được đưa vào khuôn khổ pháp luật của Việt Nam. Quy định chi tiết có thể do các chuyên gia của Bộ Công Thương và Bộ Tài chính nghiên cứu, với những điểm chính của cơ chế đề xuất gồm:
1. Phạm vi áp dụng:
Điểm quan trọng của khung cơ chế này là gồm cả hộ gia đình và cơ sở kinh doanh ngay từ đầu. Phân khúc ĐMTMN của doanh nghiệp (gồm nhà xưởng, kho bãi, công trình thương mại) là nơi tập trung tiềm năng triển khai trong ngắn hạn với hiệu quả kinh tế tương đối rõ ràng. Việc chỉ giới hạn ưu đãi cho hộ gia đình sẽ vô tình bỏ qua phân khúc có quy mô lớn nhất và khả năng đầu tư cao nhất.
2. Nghĩa vụ chuyển ưu đãi cho khách hàng:
Đây là điểm đổi mới trong xây dựng chính sách, giúp phân biệt đề xuất này với các ưu đãi thuế doanh nghiệp truyền thống. Thay vì can thiệp vào mức giá mà đơn vị lắp đặt được phép thu, buộc Bộ Công Thương phải áp trần giá và có nguy cơ làm “đóng băng” thị trường, chúng tôi đề xuất cần đảm bảo khách hàng được hưởng đầy đủ lợi ích thông qua ghi rõ khoản giảm giá tương ứng đúng bằng giá trị tín dụng thuế trên hóa đơn. Mức giá thị trường cơ bản vẫn hoàn toàn do cạnh tranh quyết định. Khi chi phí tấm pin tiếp tục giảm theo xu hướng dài hạn và cạnh tranh giữa các đơn vị lắp đặt gia tăng, người tiêu dùng sẽ đồng thời hưởng lợi từ cả hai yếu tố này. Việc giám sát cũng mang tính “tự động”: Tổng cục Thuế có thể kiểm tra tuân thủ thông qua hệ thống hóa đơn điện tử bắt buộc - hệ thống đang được sử dụng để quản lý thuế giá trị gia tăng hiện nay mà không cần thiết lập thêm bộ máy quản lý mới.
Mức ưu đãi và cách quản lý:
Cần có Nghị định Chính phủ quy định cụ thể mức tín dụng thuế nhằm cho phép điều chỉnh linh hoạt theo điều kiện thị trường mà không cần sửa đổi lại Luật Điện lực. Mức khởi điểm khoảng 1,5-2 triệu đồng/kWp (tương đương 58-77 USD) hợp lý về mặt kinh tế (chiếm khoảng 10-15% chi phí một hệ thống ĐMT hộ gia đình điển hình); đồng thời vẫn đảm bảo tính thận trọng xét trên khía cạnh tài khóa.
Việc áp dụng các mức ưu đãi khác nhau giữa hộ gia đình và cơ sở kinh doanh giúp Chính phủ tập trung hơn vào hỗ trợ các đối tượng cần ưu tiên để đạt được mục tiêu chính sách xã hội ở mức cao nhất.
VI. Lý do đề xuất này phù hợp với Việt Nam:
Chi phí thấp hơn và không cần chi ngân sách trực tiếp: Chi phí tài khóa là phần giảm thu từ CIT theo mức thuế suất ưu đãi 10% dành cho doanh nghiệp năng lượng tái tạo, thay vì chi ngân sách tỉnh vốn phụ thuộc vào phân bổ hàng năm. Với mục tiêu triển khai 1 GW ĐMTMN mỗi năm cho hộ gia đình và doanh nghiệp cùng mức tín dụng 2 triệu đồng/kWp, chi phí tài khóa ước tính đạt khoảng 2 nghìn tỷ đồng/năm (~77 triệu USD) - tương đương dưới 1% tổng thu CIT quốc gia và hoàn toàn có thể kiểm soát với chương trình có thời hạn đến năm 2030.
Cơ chế tín dụng CIT được đề xuất chỉ cần khoảng 8-10 nghìn tỷ đồng (xấp xỉ 310-385 triệu USD) phần hụt thu cộng dồn, nếu triển khai đầy đủ trong giai đoạn 2026-2030.
Trong khi đó, trợ cấp trực tiếp từ ngân sách địa phương: Khoảng 42 nghìn tỷ đồng (xấp xỉ 1,6 tỷ USD) - theo ước tính của Bộ Công Thương để đạt cùng mục tiêu 50% hộ gia đình tham gia thông qua hình thức chuyển tiền trực tiếp - cơ chế mà Bộ Tài chính đã đánh giá không phù hợp.
Cơ chế tín dụng thuế CIT có thể đạt được kết quả tương tự với chi phí chỉ bằng khoảng 1/5 và không phát sinh rủi ro khi phụ thuộc vào phân bổ ngân sách hàng năm.
Khắc phục triệt để hạn chế của cơ sở tính PIT: Người tiêu dùng được hưởng lợi khi không thuộc đối tượng nộp thuế. Ưu đãi được chuyển qua đơn vị lắp đặt - đối tượng luôn thuộc diện nộp CIT và thể hiện trực tiếp thành khoản giảm giá minh bạch trên hóa đơn. Nhờ đó, một hộ gia đình ở Quảng Trị sẽ được hưởng lợi tương đương với một doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh.
Phù hợp với cơ chế thị trường: Thay vì áp trần giá do Bộ Công Thương quy định, việc gắn nghĩa vụ chuyển lợi ích với giá trị tín dụng thuế sẽ giúp tránh làm đóng băng giá thị trường. Khi chi phí tấm pin tiếp tục giảm và cạnh tranh giữa các đơn vị lắp đặt gia tăng, người tiêu dùng sẽ đồng thời hưởng lợi từ xu hướng giảm giá tự nhiên và từ chính sách ưu đãi. Theo thời gian, hiệu quả của ưu đãi thậm chí còn tăng lên so với chi phí hệ thống.
Hệ thống kiểm tra, giám sát đã sẵn có: Hệ thống hóa đơn điện tử bắt buộc tại Việt Nam đảm bảo mọi giao dịch lắp đặt đều được ghi nhận dưới dạng số và có thể truy xuất bởi cơ quan thuế. Đồng thời, quy trình thông báo lắp đặt với Sở Công Thương theo Nghị định 58/2025/NĐ-CP (đối với hệ thống dưới 100 kW) chính là căn cứ để xác nhận điều kiện hưởng ưu đãi. Không cần thiết lập thêm bộ máy quản lý mới, không cần hệ thống đăng ký riêng, và không phát sinh thêm nghĩa vụ báo cáo.
VII. Kết luận:
Đề xuất này càng cấp thiết trong bối cảnh Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chỉ thị 10/CT-TTg, yêu cầu đẩy mạnh phát triển ĐMTMN (tự sản xuất, tự tiêu thụ) tại cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và hộ gia đình, đặt mục tiêu đạt tỷ lệ triển khai 10% mỗi năm đến năm 2030; đồng thời yêu cầu tất cả địa phương xây dựng kế hoạch triển khai cụ thể.
Chỉ thị 10 đã tạo ra định hướng chính trị ở cấp cao nhất cho đúng mục tiêu mà cơ chế tín dụng CIT hướng tới. Tuy nhiên, điều kiện còn thiếu là công cụ tài khóa tương thích với thị trường để hiện thực hóa định hướng đó thành các hợp đồng và hệ thống vận hành.
Cơ chế tín dụng CIT cho đơn vị lắp đặt được đề xuất trong bối cảnh hai sự kiện: Yêu cầu quyết liệt của Chỉ thị 10 về việc đẩy mạnh ĐMTMN và thảo luận chia sẻ kinh nghiệm trong khu vực tại hội thảo APEC.
Khi so sánh với cơ chế của Sắc lệnh Hoàng gia 805 tại Thái Lan - tinh gọn, không dùng ngân sách trực tiếp và áp dụng thống nhất toàn quốc - với thực trạng chương trình trợ cấp cấp tỉnh của Việt Nam đang đình trệ. Và khi Chỉ thị 10 vừa nâng vấn đề này lên cấp độ ưu tiên chính trị cao, chúng tôi nhận thấy rõ nhu cầu cấp thiết cần xây dựng cơ chế tài khóa để hỗ trợ tham vọng phát triển của Việt Nam./.
ANANTH CHIKKATUR - GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH XANHTERRA
[*] Ananth Chikkatur là đồng sáng lập, kiêm CEO XanhTerra - công ty tư vấn mảng năng lượng tại khu vực Đông Nam Á. Ông có bằng tiến sĩ của MIT, từng nghiên cứu sau tiến sĩ tại Harvard Kennedy và có hơn 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực năng lượng.
