Đổi mới thị trường điện Việt Nam - Động lực và giải pháp (Phần 2)
06:32 | 21/04/2026
Ngành điện Việt Nam đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi mang tính bước ngoặt, đòi hỏi phải tiến hành cải cách nhanh chóng và toàn diện thị trường điện. Quá trình này diễn ra trong bối cảnh chúng ta phải đáp ứng đồng thời hai yêu cầu khắt khe: Bứt phá các mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và thực thi những cam kết bền vững môi trường (Net Zero) đầy thách thức cho kỷ nguyên vươn mình của đất nước. Để có thêm góc nhìn chuyên sâu, mang tính hệ thống và các giải pháp chiến lược đóng góp vào tiến trình này, Tạp chí Năng lượng Việt Nam xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả toàn văn bài nghiên cứu: “Đổi mới thị trường điện Việt Nam: Động lực và giải pháp” của TS. Thái Doãn Hoàng Cầu và TS. Trần Huỳnh Ngọc dưới đây. Rất mong nhận được sự quan tâm theo dõi, chia sẻ và phản hồi thảo luận từ các chuyên gia, nhà quản lý và đông đảo bạn đọc! |
3. Kinh nghiệm quốc tế về các cơ chế thị trường điện và hàm ý cho Việt Nam:
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy xu hướng đổi mới thiết kế các cơ chế thị trường điện để đáp ứng với tăng trưởng năng lượng tái tạo (NLTT). Với mục tiêu bảo vệ môi trường thông qua giảm phát thải và tăng NLTT cao, các nước đã có thị trường điện phát triển đều gặp khó khăn, thách thức trong việc vận hành thị trường điện và thay đổi thiết kế thị trường điện. Các thay đổi gần đây cho thấy có xu hướng thiết kế tập quyền (*) để đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật và nhanh chóng đạt mục tiêu bền vững môi trường.
(*): Thuật ngữ Việt hóa thiết kế tập quyền (centralised design) dùng để chỉ các thiết kế thiên về tập trung hoá điều khiển, điều tiết và vận hành thị trường cho các cơ quan quản trị ngành điện lực. Thuật ngữ này dùng để trực tiếp phân biệt với thiết kế phân quyền (decentralised design) phân chia quyền điều khiển, quyết định nhiều hơn cho các đơn vị tham gia thị trường.
3.1. Kinh nghiệm các nước phát triển thị trường điện giai đoạn trước năm 2000:
Động lực khởi xướng các cuộc cải cách thị trường điện quốc tế trong hai thập niên 1980-2000 là nhằm tái cơ cấu cơ chế độc quyền ngành dọc, thiết lập các cơ chế thị trường để thúc đẩy phân quyền (decentralisation) trong các quyết định và quản trị ngành điện lực. Mục tiêu cốt lõi của làn sóng cải cách này là thúc đẩy quá trình giảm điều tiết (deregulation) và tăng cạnh tranh trong ngành điện lực với các cải cách chính [2, 5]:
- Tách bạch chức năng: Thực hiện phân tách (unbundling) dọc và ngang các dịch vụ điện lực để tách bạch các hoạt động độc quyền tự nhiên (như truyền tải, phân phối) với các hoạt động có tính cạnh tranh (như phát điện và bán lẻ) thông qua việc doanh nghiệp hóa, tư nhân hóa các công ty, tài sản của ngành điện.
- Trao quyền cho các đối tượng tham gia thị trường và giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước trong các khâu cạnh tranh, thay thế bằng cơ chế điều tiết hợp lý. Điều tiết nhà nước vẫn được duy trì để điều tiết giá của lưới điện vẫn còn độc quyền. Các thị trường cạnh tranh có sự tham gia của nhiều công ty tư nhân cũng như nhà nước.
- Thiết lập cạnh tranh hiệu quả, công bằng, minh bạch nhằm tối ưu hóa hiệu quả kinh tế, cải thiện chất lượng cung cấp điện, đảm bảo tất cả các thành viên tham gia thị trường được quyền kết nối vào hệ thống lưới điện một cách công bằng và không bị phân biệt đối xử.
3.2. Xu hướng đổi mới cơ chế thị trường điện gần đây và tiếp cận tập quyền:
Theo [5], quá trình cải cách thị trường điện gần đây trên thế giới, nhằm giải quyết các thách thức từ chi phí biên thấp, hoặc gần bằng không của điện NLTT, tính bất ổn cao của điện gió, mặt trời, các vấn đề về độ tin cậy hệ thống điện, trong cả vận hành an ninh ngắn hạn và đủ nguồn cung dài hạn, cùng với yêu cầu cấp bách giảm phát thải khí nhà kính như đã phân tích trong Mục 3.2.2.1 đang định hướng các thị trường này trở lại xu hướng kiểm soát tập trung (tập quyền - centralisation) hơn bởi Chính phủ, đơn vị điều hành thị trường, hoặc cơ quan điều tiết.
Trong bối cảnh mới, các thiết kế thị trường điện phân quyền, tự do hoàn toàn như thiết kế thị trường năng lượng duy nhất (energy only design) gặp vấn đề “thiếu tiền” (missing money) trầm trọng hơn do giá điện giao ngay biến thiên nhiều hơn khi mức độ thâm nhập NLTT tăng cao. Điều này gây rủi ro cho nhà đầu tư, đòi hỏi một cơ chế giảm thiểu rủi ro, đảm bảo doanh thu ổn định cho nhà đầu tư, và vì thế, tiếp cận tập quyền trở thành lựa chọn tự nhiên, giúp định hướng và đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi năng lượng.
Xu hướng thiết kế tập quyền (centralised design preference) này được thể hiện rõ qua cả thị trường vận hành ngắn hạn và cơ chế đầu tư dài hạn:
Các thị trường vận hành ngắn hạn: Các thị trường cam kết và điều độ (như thị trường giao ngay theo ngày và thời gian thực, thị trường dịch vụ phụ trợ) ngày càng tích hợp các yêu cầu kỹ thuật và cân nhắc liên thời gian (intertemporal considerations) phức tạp. Điều này bao gồm việc đưa các ràng buộc phi lồi (non-convex costs) như chi phí khởi động, chi phí không tải, khả năng tăng giảm công suất (ramping), kiểm soát hệ thống lưu trữ năng lượng vào các sản phẩm mới (ví dụ điều khiển tần số cực nhanh, dịch vụ tăng giảm công suất linh hoạt) và cơ chế định giá (ví dụ định giá đa chu kỳ tập trung, định giá khan hiếm).
Cơ chế đầu tư dài hạn: Để thúc đẩy đầu tư, các cơ chế dài hạn hiện nay thiên về đấu thầu tập trung (centralised auctions) cho các dự án NLTT, lưu trữ năng lượng (BESS), và các loại hình công suất linh hoạt khác. Bên cạnh đó là các sáng kiến do nhà nước dẫn dắt, bao gồm đầu tư trực tiếp, hoặc các chính sách hỗ trợ gián tiếp (như bảo lãnh, trợ cấp).
Các cơ chế thị trường điện theo hướng tiếp cận tập quyền này được lập luận là phù hợp với môi trường thị trường phức tạp và khó lường trong giai đoạn chuyển dịch năng lượng bền vững. Điều này đặc biệt đúng khi xét đến việc ngành điện lực đòi hỏi sự lãnh đạo có năng lực từ các cơ quan quản trị để cung cấp định hướng tối ưu rõ ràng và bảo đảm tốc độ cải cách nhanh chóng hướng tới các mục tiêu môi trường đã xác định ưu tiên phát triển [13].
3.3. Hàm ý rút ra cho Việt Nam:
Việc lựa chọn mô hình thị trường điện phù hợp cho chuyển đổi năng lượng bền vững phụ thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể bao gồm kinh tế, chính trị, xã hội, đặc điểm hệ thống điện, năng lực thực hiện của từng nước. Điều này vô tình tạo lợi thế cho các nước đi sau thu hẹp khoảng cách tiến tới một mô hình thị trường điện mới so với các nước đã đi trước từ lâu trong đợt cải cách đầu tiên (1980-2000).
Dưới tác động của cam kết phát thải ròng bằng 0 (Net Zero Emission - NZE) và mục tiêu NLTT cao, ngành điện Việt Nam cần đổi mới mạnh mẽ hơn, có thể xem là một Cải cách thị trường điện 2.0. Kinh nghiệm quốc tế gần đây mang lại những hàm ý chiến lược sau cho thiết kế mới thị trường điện Việt Nam trong bối cảnh mới [5, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19]:
- Thiết kế lại thị trường điện cho chuyển đổi năng lượng bền vững là một thử thách toàn diện. Theo đó:
Thứ nhất: Lựa chọn thiết kế theo hướng tập quyền, hay phân quyền không phải là một “giải pháp phù hợp cho tất cả”. Thiết kế thị trường điện là một quá trình phát triển liên tục, phụ thuộc vào bối cảnh, chứ không phải là một lựa chọn nhị phân giữa tập quyền hay phân quyền.
Thứ hai: Các yếu tố quyết định then chốt cho thiết kế thị trường điện là bối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội, đặc điểm hệ thống, năng lực cải cách của ngành điện. Các yếu tố này giúp định hình cơ bản các ưu tiên và tính khả thi của thiết kế thị trường mới. Người thiết kế thị trường điện cần hiểu rõ những yếu tố này để điều chỉnh phù hợp quá trình chuyển đổi năng lượng hiệu quả và bền vững của mình.
Thứ ba: Thiết kế theo xu hướng phân quyền mang lại lợi thế trong môi trường thị trường phức tạp, bất định và cần thúc đẩy đổi mới. Thiết kế theo xu hướng tập quyền có thể cung cấp định hướng tối ưu rõ ràng và tốc độ cải cách nhanh chóng hướng tới các mục tiêu môi trường đã được ưu tiên và định trước, nhưng đòi hỏi sự lãnh đạo có năng lực từ các cơ quan quản trị.
- Khả năng ứng phó là chính yếu. Để chuyển đổi năng lượng theo hướng giảm cacbon thành công, cần có thiết kế và quy định thị trường đủ linh hoạt để thích ứng với các công nghệ mới, nền kinh tế đang thay đổi và các mục tiêu chính sách đang phát triển.
- Mô hình thiết kế lai (hybrid design) phù hợp cho tương lai: Hầu hết các hạng mục thiết kế của hệ thống có thể sẽ tích hợp các yếu tố của cả hai tiếp cận phân quyền và tập quyền, cân bằng các yêu cầu cạnh tranh với sự phối hợp tập trung cần thiết và các can thiệp có định hướng mục tiêu.
- Thị trường điện quốc gia Úc (NEM) có thiết kế phân quyền chủ đạo đã chuyển sang thiết kế lai (nhưng vẫn thiên về phân quyền nhiều hơn), trong khi thiết kế VWEM của Việt Nam hiện tại phần lớn là tập trung. Xem so sánh giữa hai thiết kế hiện tại của Việt Nam và Úc trong Hình 3.6.
![]() |
| Hình 3.1. So sánh xu hướng thiết kế thị trường điện hiện tại của Việt Nam và Úc [2, 5, 12, 14]. |
4. Giải pháp thúc đẩy đổi mới và hoàn thiện thị trường điện Việt Nam:
Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 70 (Nghị quyết 328/CP) đã xác định mục tiêu cấp bách trước mắt là vận hành VWEM mới vào giữa năm 2026, VREM vào đầu năm 2027, và các mục tiêu dài hạn hơn cho đến năm 2045. Trong khuôn khổ bài viết này, các giải pháp cho Cải cách thị trường điện Việt Nam 2.0 tập trung vào các khuyến nghị mấu chốt sau [20].
Thứ nhất: Cần có thiết kế thị trường điện phù hợp với bối cảnh tỷ trọng NLTT tăng cao. Theo kinh nghiệm quốc tế, thiết kế thị trường điện mới cho Việt Nam nên là mô hình lai (hybrid) thiên về quản lý tập quyền để áp dụng trong giai đoạn chuyển tiếp, thích nghi trước 2030, có xem xét và định hướng phát triển mô hình hiện đại, phân quyền nhiều hơn cho giai đoạn vươn mình, tăng tốc sau 2030, hoặc sớm hơn.
Thứ hai: Cần xây dựng cơ cấu quản trị hiệu quả và độc lập cho thị trường điện. Trong giai đoạn trước mắt, với mô hình thiết kế lai thiên về tập quyền, có thể cần chú trọng xây dựng năng lực thực hiện cải cách thị trường điện tập trung hơn để đẩy nhanh cải cách. Trong tương lai, cần hướng tới việc thiết lập các cơ quan tham mưu chính sách, thiết kế, điều tiết hoạt động độc lập, có đủ thẩm quyền, nguồn lực để có thể kiểm tra chéo lẫn nhau và quản trị thị trường điện hiệu quả, giảm tối đa sai sót.
Thứ ba: Phát triển năng lực con người là yếu tố then chốt. Việc xây dựng đội ngũ lãnh đạo và nhân lực có kiến thức chuyên sâu về thị trường điện và chuyển đổi năng lượng bền vững, thông qua các chính sách đãi ngộ hấp dẫn và chương trình đào tạo liên ngành, là cần thiết để quản lý thành công công cuộc cải cách phức tạp này.
Lưu ý: Các giải pháp khuyến nghị ở đây mang tính khái niệm, có tính định hướng nhiều hơn là giải pháp chi tiết để thực hiện cụ thể, cần nhiều nghiên cứu và xem xét lựa chọn kỹ càng hơn.
4.1. Giải pháp thiết kế thị trường điện phù hợp:
4.1.1. Các mục tiêu, nguyên tắc thiết kế và xây dựng thị trường điện trong bối cảnh mới:
Điều 5.1 Luật Điện lực mới 2024 quy định mục tiêu của phát triển điện lực như sau: “Nhà nước ban hành các chính sách phát triển, đầu tư xây dựng ngành điện bảo đảm yêu cầu là ngành công nghiệp hạ tầng quan trọng nhằm phục vụ phát triển kinh tế, xã hội và đời sống Nhân dân, phát triển bền vững trên cơ sở khai thác tối ưu mọi nguồn lực, đáp ứng nhu cầu điện phục vụ đời sống Nhân dân và phát triển kinh tế, xã hội với chất lượng ổn định, an toàn và kinh tế, dịch vụ văn minh, bảo vệ môi trường, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh và an ninh năng lượng quốc gia”.
Điều 38 của Luật Điện lực này cũng quy định nguyên tắc hoạt động của thị trường điện:
“1. Bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, không phân biệt đối xử giữa các đối tượng tham gia thị trường điện cạnh tranh; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đơn vị điện lực và khách hàng sử dụng điện.
2. Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do lựa chọn đối tác và hình thức giao dịch của các đối tượng mua bán điện trên thị trường điện cạnh tranh phù hợp với cấp độ thị trường điện cạnh tranh.
3. Nhà nước điều tiết hoạt động của thị trường điện cạnh tranh nhằm bảo đảm phát triển hệ thống điện bền vững, đáp ứng yêu cầu cung cấp điện an toàn, ổn định, tin cậy, hiệu quả.”
Các quy định pháp lý trên cũng chính là các mục tiêu, nguyên tắc cốt lõi trong việc lựa chọn thiết kế thị trường điện hiệu quả và phù hợp cho Việt Nam trong bối cảnh mới. Ngoài ra, cần xem xét thêm các mục tiêu dưới đây cho chuyển đổi năng lượng bền vững [13 & 14, phần 2]:
Thể hiện chặt chẽ thực tế kỹ thuật và thương mại: Thiết kế mới cần phản ánh một cách toàn diện, chặt chẽ các đặc điểm kỹ thuật phức tạp của hệ thống điện trên mọi khung thời gian và chuỗi cung ứng. Thiết kế cần xem xét đồng bộ, “liên ngành” với các chính sách, các mục tiêu, nguyên tắc quản trị của điện lực với các phân ngành năng lượng khác.
Ứng phó với rủi ro độ tin cậy và rủi ro thương mại: Thiết kế mới cần chú trọng hơn đến việc thiết lập các rủi ro vật lý hệ thống đặc thù với các phương thức quản lý rủi ro tài chính đa dạng của các thành viên tham gia thị trường để đạt được mục tiêu tin cậy chung hệ thống điện, đặc biệt là khi xét đến những thách thức ngày càng tăng về độ tin cậy.
Xem xét phản ứng chiến lược của các bên tham gia thị trường: Phản ứng chiến lược của các đơn vị tham gia thị trường trong toàn bộ chuỗi cung ứng và theo từng giai đoạn thời gian bao gồm: Đầu tư chiến lược, tích hợp theo chiều dọc và chiều ngang, sử dụng quyền lực thị trường trong đấu thầu, hợp đồng chiến lược, đổi mới sáng tạo là những yếu tố vô cùng quan trọng cần được xem xét trong thiết kế thị trường. Các cơ chế thị trường phải được thiết kế để khuyến khích các hành động phân quyền nhằm cùng nhau đạt được các mục tiêu chung, bao quát của ngành, chủ động giảm quyền lực lũng đoạn thị trường và thúc đẩy đổi mới.
Xác định xu hướng thiết kế phân quyền, hoặc tập quyền phù hợp: Mặc dù các vấn đề kỹ thuật phức tạp có thể ưu tiên hơn cho các thiết kế tập quyền, các thiết kế phân quyền được cho là phù hợp hơn với môi trường thị trường cực kỳ phức tạp, bất định cao và cần đổi mới cao, mang lại những lợi ích như thích ứng với tình trạng bất đối xứng thông tin, khả năng thích ứng, tính linh hoạt và thúc đẩy đổi mới.
4.1.2. Các điểm cần lưu ý trong thiết kế mới và hoàn thiện các cơ chế thị trường điện:
a. Cơ chế đầu tư điện lực dài hạn:
Đây là cơ chế quan trọng nhằm đảm bảo an ninh năng lượng - đủ điện. Cơ chế quản lý công suất mới cần xem xét lựa chọn nhà đầu tư thông qua cạnh tranh, và lựa chọn các cấu trúc hợp đồng PPA phù hợp cho sản phẩm công suất lẫn điện năng giúp nhà đầu tư khôi phục các chi phí cố định, chi phí biến đổi và thu lợi nhuận hợp lý đủ bù rủi ro cho từng loại công nghệ phát điện (NLTT, điện khí), nguồn lực linh hoạt (lưu trữ, đáp ứng phía nhu cầu).
Lưu ý: Trong giai đoạn chuyển tiếp vẫn cần duy trì cơ chế lập quy hoạch điện hiện tại do Viện Năng lượng thực hiện, nhưng với chu kỳ linh hoạt, ngắn hơn (2 năm hoặc 1 năm) khi có thay đổi đáng kể về các dữ liệu đầu vào cho quy hoạch đầy biến động, khó dự báo. Nhu cầu điện thay đổi theo tình hình kinh tế; chi phí đầu tư, chi phí nhiên liệu đầu vào cho các nhà máy điện, lưới điện tăng cao bất thường do xung đột quân sự, bất ổn địa chính trị thế giới; tốc độ phát triển công nghệ điện lực (năng lượng tái tạo, lưu trữ năng lượng) thay đổi nhanh theo hướng hiệu quả hơn, giá thành thấp hơn.
b. Các thị trường hợp đồng tài chính trung hạn:
Tạo các thị trường hợp đồng phái sinh/tài chính với các kỳ hạn ngắn và trung hạn. Các tổ chức tài chính, các công ty môi giới đủ năng lực có thể mở và điều hành các sàn giao dịch, thị trường OTC để cạnh tranh, giảm các chi phí giao dịch mua bán điện. Các cơ chế này cho phép các nhà đầu tư bán phần sản phẩm điện còn lại chưa bán hết thông qua PPA song phương hay qua thị trường công suất.
Giai đoạn chuyển tiếp có thể duy trì một số dạng hợp đồng sai khác (CFD/Swap) cơ bản, xem xét thiết kế thêm, hoặc cho phép giao dịch hợp đồng lưu trữ điện phù hợp, hợp đồng quyền chọn (option), hợp đồng sai khác một chiều (trần, sàn - one-way CFD) nếu thiết kế thị trường giao ngay có trần giá rất cao và sàn giá rất thấp.
c. Các thị trường vận hành vật lý ngắn hạn:
Đây là các hạng mục cốt lõi, cần thực hiện cho đúng đầu tiên của thị trường điện. Thiết kế thị trường bán buôn giao ngay mới của VWEM cần xem xét:
- Chu kỳ giao dịch và điều độ giảm từ 30 phút xuống 5 phút, hoặc thấp hơn tùy theo năng lực hạ tầng của điều hành thị trường điện để thúc đẩy các nguồn lực linh hoạt.
- Chào giá tự do có xem xét tác động và phương thức giảm thiểu quyền lực thị trường dẫn đến hành vi chiến lược làm giá điện của các đơn vị lớn tham gia thị trường.
Lưu ý: Cơ chế chào giá theo chi phí hiện tại đã được triển khai từ 2012, không hoàn toàn triệt tiêu quyền lực thị trường [2, 21] và khó kiểm toán chi phí thực. Thậm chí tệ hại hơn, cơ chế này có thể triệt tiêu động lực đổi mới giảm chi phí và nâng cao hiệu suất hoạt động.
- Nới rộng khung giá giao ngay nhằm góp phần giải quyết các vấn đề kỹ thuật, các ràng buộc liên kết theo thời gian và đảm bảo hiệu quả kinh tế.
+ Trần giá giao ngay đủ cao để cung cấp tín hiệu giá điện hiệu quả cho vận hành ngắn hạn, đặc biệt giúp khuyến khích đầu tư và huy động vận hành hiệu quả các nguồn linh hoạt có thể điều khiển được như lưu trữ điện, tua bin khí chu trình hở (OCGT), đáp ứng nhu cầu.
+ Sàn giá âm và cho phép giá điện âm để các loại NLTT có thể cạnh tranh phát điện với nhau và giúp giải quyết các ràng buộc kỹ thuật khác (chi phí khởi động, công suất ổn định tối thiểu và tốc độ thay đổi công suất) của các công nghệ nhiệt điện vẫn còn tồn tại.
- Chào giá phía nhu cầu: Cần có các cơ chế, quy định sao cho các nguồn năng lượng phân tán trở nên “thấy được” (visibility) và/hoặc “huy động được” (dispatchability) thông qua các quy định bắt buộc, hoặc khuyến khích tham gia chào giá để NSMO có thể chủ động dự báo chính xác hơn cho việc huy động cho các nguồn cung truyền thống nối lưới trong thị trường giao ngay.
- Cơ chế định giá điện giao ngay theo miền, thậm chí nhiều vùng, hoặc từng nút (Locational marginal pricing - LMP) phù hợp với năng lực hạ tầng hệ thống điện và điều hành thị trường điện thay cho cơ chế định giá điện giao ngay đồng nhất cho toàn hệ thống (System marginal pricing - SMP) để xóa bỏ bù chéo, nâng cao hiệu quả kinh tế vận hành ngắn hạn, thời gian thực. Ngoài giúp đạt vận hành ngắn hạn tối ưu, giá điện giao ngay cho từng miền, vùng cung cấp tín hiệu kinh tế đúng đắn cho các quyết định mua bán hợp đồng điện trung hạn và đầu tư dài hạn, bao gồm cả việc định giá hợp lý, cạnh tranh cho các hợp đồng DPPA và mua bán sản lượng điện dư của điện mặt trời tự sản, tự tiêu.
- Thị trường dịch vụ phụ trợ: Xem xét đồng tối ưu công suất dự phòng ngắn hạn cho các dịch vụ điều khiển tần số với thị trường giao ngay (điện năng) để đảm bảo vận hành an ninh ngắn hạn.
Lưu ý: Xem xét các tác động của NLTT tăng cao đến đáp ứng tần số nhanh (FFR), quán tính quay (rotating inertia), và sức bền hệ thống (system strength).
- Thị trường ngày tới: Xem xét có nên tập trung hóa chức năng huy động tổ máy (unit commitment) để tối ưu hóa vận hành thị trường với các ràng buộc liên kết thời gian như huy động tổ máy, lưu trữ điện ngày càng trở nên quan trọng trong chuyển đổi năng lượng bền vững. Tùy theo lựa chọn thiết kế, cần xem minh bạch hóa cơ chế định giá các chi phí khởi động của các nhà máy nhiệt điện vào giá điện giao ngay hay các cơ chế giá điện gộp chung khác.
d. Thị trường quyền truyền tải (FTR):
Tùy thuộc thiết kế cơ chế giá điện vùng, miền hay nút, lựa chọn cơ chế FTR phù hợp dài hạn và tạo điều kiện, cho phép mua bán quyền truyền tải trên thị trường thứ cấp ngắn hạn hơn.
e. Thị trường bán lẻ điện:
Việc áp dụng cơ chế giá điện 2 thành phần (two-part tariff) là một bước tiến triển của cơ chế giá điện hiệu quả. Tuy nhiên, cần lưu ý đây chỉ là một cơ chế định giá cơ bản cho giai đoạn trước mắt. Thiết kế thị trường bán lẻ cần có tính “mở”, cho phép các nhà cung cấp dịch vụ bán lẻ đề xuất và triển khai nhiều cơ chế giá bán lẻ sáng tạo hơn, phù hợp với nhu cầu, khả năng quản lý phụ tải của khách hàng, và khả năng cung cấp, quản lý rủi ro đa dạng của các đơn vị bán lẻ. Các cơ chế giá hiện đang áp dụng ở các thị trường tiên tiến đa dạng, gồm có giá điện động/thời gian thực (dynamic/real time pricing), giá điện chuyển giá giao ngay (spot pass-through pricing), các cơ chế giá điện nhiều thành phần, chia sẻ lợi nhuận và rủi ro giữa nhà cung cấp bán lẻ và khách hàng sử dụng điện.
4.2. Giải pháp nâng cao năng lực thực hiện đổi mới thị trường điện:
Theo khoa học quản lý, yếu tố con người là then chốt để lấp đầy khoảng trống giữa tầm nhìn và thực trạng cải cách. Để thực hiện đổi mới thiết kế mới và cải cách thị trường điện quy mô lớn, toàn diện và phức tạp cho ngành điện Việt Nam, chúng ta cần phát triển năng lực thực hiện đổi mới thị trường điện tương xứng, bao gồm năng lực quản lý cải cách, nguồn nhân lực am hiểu thị trường điện và phát huy tinh thần lãnh đạo và xây dựng niềm tin.
4.2.1. Phát triển năng lực quản lý cải cách:
a. Năng lực quản lý cải cách (reform/change management):
Với tầm quan trọng, quy mô lớn và tính chất phức tạp, dự án cải cách thị trường điện cần được tiến hành một cách bài bản, khoa học. Khoa học quản lý thay đổi (change management) đề xuất một khung tiến trình tổng quát để thực hiện thay đổi một tổ chức, có thể là phòng, ban, cả công ty, tập đoàn, hay cải cách toàn diện một ngành công nghiệp, như minh họa trong sơ đồ khá trực quan, dễ hiểu trong Hình 3.7.
![]() |
| Hình 3.2. Khung tiến trình quản lý thay đổi (Nguồn: [2, hình 19.3]). |
Theo đó, điểm cần nhấn mạnh của tiến trình này là: Để thực hiện thay đổi thành công, ngoài việc đề ra các giải pháp phù hợp mang tính chuyên môn, việc đánh giá mức độ sẵn sàng và xây dựng sự đồng thuận, cam kết tham gia thay đổi là các nhiệm vụ không kém quan trọng.
Để thực hiện cải cách thị trường điện thành công, cần nhiều giải pháp chuyên môn phù hợp và đồng bộ về pháp luật, chính sách, tài chính, khoa học - công nghệ, tổ chức và nhân lực... như đã nêu trên nhằm san bằng khoảng trống giữa tầm nhìn và thực trạng.
Đối với cải cách rất phức tạp của ngành điện, người viết cho rằng: Cần có các giải pháp xây dựng cam kết tham gia thực hiện cải cách phù hợp cho những người tham gia và chịu sự tác động của cải cách. Phát triển năng lực thực hiện, trong đó phát triển nguồn nhân lực là cốt lõi.
Để thực hiện cải cách thành công, ngoài xây dựng năng lực để đề ra các giải pháp phù hợp mang tính chuyên môn, cần chú trọng xây dựng các năng lực quản lý cải cách, bao gồm: Truyền đạt tầm nhìn, tính cấp bách, ưu tiên, lợi ích của cải cách, đánh giá mức độ sẵn sàng và xây dựng sự đồng thuận, cam kết cho những người tham gia thực hiện cải cách, cũng như những người chịu sự tác động của cải cách.
b. Tổ chức thực hiện cải cách:
Dù Nghị quyết 70 và hệ thống chính sách đồng bộ gần đây đã thiết lập một khuôn khổ vững chắc, tạo điều kiện thuận lợi chưa từng có cho công cuộc cải cách thị trường điện, phát triển ngành điện và thúc đẩy kinh tế Việt Nam, thành công cuối cùng sẽ phụ thuộc vào việc tổ chức triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ và giải pháp đã đề ra. Cần cân nhắc xem xét [6]:
- Thành lập cơ quan chuyên trách thay vì các cơ quan kiêm nhiệm để quản lý, điều phối thực hiện chương trình cải cách thị trường điện lớn, phức tạp này một cách khoa học, hiệu quả.
- Thành lập các tổ công tác chuyên môn về các vấn đề kỹ thuật và thương mại đặc thù của thị trường điện, có sự tham gia trực tiếp và tham vấn độc lập của các đơn vị tham gia và các tổ chức liên quan.
-Thiết lập/duy trì cơ chế giám sát, đánh giá và yêu cầu định kỳ, thường xuyên hơn đối với chương trình cải cách thị trường điện nhằm hạn chế những nguyên nhân chủ quan (thiếu kinh phí, chỉ đạo, hay điều hành) có thể dẫn đến chậm trễ thực hiện các cơ chế thị trường điện. Đơn cử, Nghị quyết số 937/NQ-UBTVQH15 ngày 13/12/2023 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giám sát chuyên đề về việc thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển năng lượng giai đoạn 2016-2021 đã có những đánh giá hiện trạng, kiến nghị nhiệm vụ, giải pháp và yêu cầu tổ chức thực hiện cụ thể, xác đáng cho lĩnh vực năng lượng nói chung và việc thực hiện thị trường điện nói riêng.
4.2.2. Phát triển năng lực và tư duy cần thiết của nhân lực cốt lõi:
Việt Nam cần phát triển năng lực am hiểu thị trường điện, đặc biệt là các tác động phức tạp từ chuyển đổi năng lượng bền vững. Ngành điện cần cấp tốc hành động ngay, không hối tiếc (no regret action) trong việc đào tạo nâng cao về thị trường điện cho lực lượng nòng cốt [22]. Mục tiêu là trang bị cho lực lượng này tư duy hiệu quả (làm đúng việc đúng - doing the right things right) ở ba khía cạnh cốt lõi:
- Tư duy hệ thống: Hiểu toàn diện về các vấn đề cơ bản của hệ thống điện, các sản phẩm cốt lõi (điện năng, an ninh, công suất) và cách cơ chế thị trường đạt được các mục tiêu thường xung đột về độ tin cậy kỹ thuật, hiệu quả kinh tế, bền vững môi trường.
- Tư duy kinh tế: Hiểu các nguyên tắc cơ bản về cách đạt được hiệu quả kinh tế, tính bền vững thương mại thông qua cơ chế thị trường.
- Tư duy chiến lược: Hiểu được các tương tác ngắn hạn và dài hạn giữa các cơ chế thị trường điện, chính sách liên quan, và sự tương tác giữa các bên tham gia.
Kiến thức chuyên môn kỹ thuật thường có tính nền tảng và dễ tiếp cận, nhưng kiến thức về thiết kế thị trường, phân tích rủi ro, quản lý chiến lược cho thị trường cạnh tranh thường mới và ít phổ biến. Mỗi cơ quan quản trị chủ quản, mỗi đơn vị điện lực cần phát triển một nhóm chuyên trách nòng cốt, nắm vững các tư duy này, để có khả năng đánh giá, phản biện khoa học và đưa ra khuyến nghị phù hợp. Hành động cấp tốc đào tạo nâng cao về thị trường điện này hoàn toàn phù hợp với nhiệm vụ, giải pháp về con người đã đề ra trong Nghị quyết 70.
Phát triển năng lực đòi hỏi vai trò chủ động, đi đầu của các trường đại học, các tổ chức nghiên cứu, các nhà nghiên cứu, các cơ quan quản trị thị trường điện và các công ty năng lượng.
4.2.3. Phát huy tinh thần lãnh đạo và xây dựng niềm tin:
Tuy nhiên, có nguồn nhân lực hiểu biết sâu sắc mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ là cần thúc đẩy tinh thần lãnh đạo và cơ chế trao quyền thực sự cho những người có năng lực, dám nghĩ, dám làm.
Cải cách lớn đòi hỏi nhiều người lãnh đạo chuyển đổi (transformational leader) có tinh thần đổi mới, tầm nhìn chiến lược và khả năng truyền cảm hứng. Lãnh đạo chuyển đổi phải xuất hiện để truyền đạt và củng cố hai thông điệp quan trọng: Thứ nhất, sự cấp bách của cải cách; và thứ hai, chúng ta sẽ thực hiện cải cách thành công. Tinh thần lãnh đạo không chỉ giới hạn ở cấp cao, mà còn có thể đến từ những người có chuyên môn cao, có uy tín và tầm ảnh hưởng.
Song song đó là vấn đề niềm tin - một khúc mắc lớn. Nếu thiếu niềm tin vào mục đích đúng đắn hoặc thiếu tự tin về năng lực thực hiện, mọi người sẽ trở thành “lực cản của cải cách”. Niềm tin này cần được lan tỏa đến cả công chúng, tạo nên văn hóa gắn kết và cam kết cho cải cách.
Cả ba “nhân” tố - Năng lực, Lãnh đạo và Niềm tin - quan hệ mật thiết và tương hỗ với nhau. Có người lãnh đạo có năng lực, tư duy hiện đại mới giúp đẩy nhanh cải cách và xây dựng niềm tin.
Cuối cùng, cần có chính sách đãi ngộ đặc biệt để thu hút và phát triển đội ngũ lãnh đạo và nhân lực am hiểu sâu sắc về thị trường điện trong các cơ quan quản trị ngành điện.
4.3. Cơ chế hỗ trợ đầu tư và ổn định thị trường:
Trong quá trình chuyển đổi năng lượng bền vững, các nước đã xem xét cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư cho phát triển các loại hình công nghệ mới, trọng điểm bao gồm:
- Công nghệ NLTT, công nghệ tích hợp NLTT vào hệ thống điện có chi phí còn cao, nhưng tiềm năng, đa mục tiêu, đa dụng như điện gió ngoài khơi, các loại công nghệ lưu trữ năng lượng, hydro v.v...
- Công nghệ điện hạt nhân có thể có chi phí cao, nhưng giúp đảm bảo điện nền.
Nhà nước có thể xem xét ưu đãi thuế, tạo các quỹ đầu tư nghiên cứu, phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng mới, năng lượng sạch và các công nghệ hỗ trợ, tích hợp chúng vào hệ thống điện. Ở đây, nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc tài trợ, đầu tư “mạo hiểm” có mục đích vừa học hỏi, làm chủ công nghệ và đồng thời tạo ra cơ hội phát triển mới trong tương lai. Ngoài ra, cần xem xét, cân nhắc:
- Đầu tư, nhưng ở mức vừa phải, thí điểm để tránh tăng chi phí cho toàn xã hội (vì thất thu thuế, đầu tư công không hiệu quả làm giảm các phúc lợi xã hội khác) [23].
- Tôn trọng các nguyên tắc cạnh tranh thị trường, hiệu quả kinh tế:
+ Hỗ trợ đầu tư có định hướng nhưng không làm méo, sai lệch tín hiệu hiệu quả thị trường: Tránh đưa ra những công cụ chính sách tạo ra một số người hưởng lợi chính sách không công bằng.
+ Giảm rủi ro cho nhà đầu tư: Đảm bảo doanh thu nhất định để khuyến khích đầu tư, nhưng nhà nước/người đóng thuế không hoàn toàn “bao tiêu” rủi ro cho nhà đầu tư để nhà đầu tư luôn có động lực đổi mới, tìm tòi gia tăng hiệu quả đầu tư, vận hành.
+ Chi phí cao của điện hạt nhân, lưu trữ điện cần được xem xét hạch toán vào chi phí đảm bảo an ninh năng lượng, bình ổn hệ thống điện một cách minh bạch.
+ Đảm bảo vận hành ngắn hạn công bằng, minh bạch, hiệu quả theo quy luật thị trường và ràng buộc kỹ thuật bắt buộc.
4.4. Định hướng dài hạn sau năm 2030 hoặc sớm hơn:
Sau khi thực hiện các mục tiêu cải cách ban đầu (VWEM và VREM) vào các năm 2026 và 2027 của giai đoạn chuyển tiếp, thị trường điện Việt Nam vẫn phải duy trì và hoàn thiện các cơ chế thị trường này trong các năm tiếp theo. Tuy nhiên, khi quy mô hệ thống điện Việt Nam lớn lên gấp 3-5 lần theo Quy hoạch điện VIII, thiết kế thiên về tập quyền sẽ trở nên bất cập, khó quản lý và không tối ưu hóa khi tập trung quá nhiều nguồn lực, quyền quyết định vào một vài đơn vị quản trị và thành viên lớn chi phối toàn bộ thị trường điện.
4.4.1. Phát triển thị trường điện theo hướng phân quyền hơn:
Do đó, Việt Nam cần xem xét định hướng phát triển mô hình thiết kế hiện đại, phân quyền nhiều hơn cho giai đoạn vươn mình, tăng tốc sau năm 2030, hoặc sớm hơn (trước 2030). Các thiết kế phân quyền, khi được tổ chức tốt, được cho là phù hợp hơn với môi trường thị trường trong quá trình chuyển đổi năng lượng, có các đặc thù mức độ phức tạp cao, tính bất ổn cao và nhu cầu đổi mới cao. Lợi ích của thiết kế phân quyền trong các môi trường này gồm [5, 13]:
Giải quyết vấn đề bất cân xứng thông tin: Mô hình đấu giá dựa trên chào giá tự do, tự cam kết tổ máy, một chu kỳ như được áp dụng trong NEM cho phép các đơn vị tham gia thị trường kết hợp thông tin riêng của họ . Chẳng hạn như chi phí cơ hội, đặc thù phức tạp của nhà máy điện, tính bất định của các tài sản điện lực - trực tiếp vào bản chào giá, mà không đòi hỏi đơn vị điều hành thị trường có tất cả kiến thức, thông tin hoàn hảo về mọi thứ.
Khả năng thích ứng, linh hoạt và khả thi: Cơ chế phân quyền thích ứng linh hoạt hơn với các công nghệ mới và điều kiện thay đổi. Cơ chế này có thể khai thác lượng thông tin quy mô lớn và phân tán (như của các DER), khuyến khích các phản ứng linh hoạt, và cho phép đưa ra các giải pháp gần tối ưu một cách nhanh chóng và khả thi.
Thúc đẩy đổi mới: Phân quyền tạo điều kiện phát minh các mô hình kinh doanh mới, các giải pháp đa dạng, cấu trúc hợp đồng mới và sự tham gia tích cực từ các công nghệ mới và các nguồn lực phía nhu cầu (lưu trữ, phản ứng/tham gia phía cầu) mà không cần sự kiểm soát tập trung mang tính áp đặt.
Theo đó, ngành điện Việt Nam cần xem xét và cân nhắc các yếu tố phân quyền “mở” phù hợp ngay trong thiết kế mới thị trường điện, bao gồm (nhưng không giới hạn) ở các yếu tố sau:
- Có quy định cho phép định nghĩa lại các vùng thị trường điện trong giá điện để giải quyết tốt các vấn đề tắc nghẽn truyền tải nội vùng do NLTT gây nên, dễ tạo điều kiện cho các đáp ứng chiến lược phi cạnh tranh (như làm giá) dài hạn và ngắn hạn không hiệu quả kinh tế.
- Các cơ chế khuyến khích tham gia phía nhu cầu tham gia vào thị trường bán buôn: Tham gia đấu giá trực tiếp vào các thị trường dài, trung và ngắn hạn.
- Đồng bộ thiết kế phân quyền với việc hiện đại hóa, thông minh hóa lưới điện, cải cách thể chế, quản trị thị trường điện đã thiết lập tốt, nguồn nhân lực đã được đào tạo đủ, có trình độ cao hơn, cơ chế đãi ngộ tốt hơn được thiết lập và các công ty năng lượng đã trưởng thành hơn với thị trường điện.
- Tham khảo chi tiết thiết kế thị trường điện mới của Úc (hoàn tất cuối năm 2025 và áp dụng trong 2028) và các thị trường tiên tiến hơn như PJM, ERCOT của Mỹ.
4.4.2. Xây dựng cơ cấu quản trị độc lập, hiệu quả hơn:
Theo kinh nghiệm Úc [24], tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý gồm luật và các quy định thị trường điện là công tác thường xuyên để hỗ trợ thị trường điện và đáp ứng với những thách thức mới, thay đổi cao hơn tiếp theo.
Như đã phân tích ở trên, ngành điện Việt Nam khi đã phát triển đạt quy mô lớn nhất định và trình độ quản lý cao hơn nên hướng tới việc thành lập các cơ quan quản trị độc lập, phi lợi nhuận để tránh xung đột lợi ích và tránh những quyết định sai lầm thông qua việc có thể kiểm tra, cân bằng lẫn nhau.
Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia (A0), nay là Công ty Vận hành Hệ thống điện và Thị trường điện Quốc gia (NSMO), hiện đã độc lập khỏi EVN, nhưng vẫn chịu sự quản lý của Cục Điện lực, Bộ Công Thương. Các chức năng tham mưu chính sách, xây dựng và điều chỉnh luật, xây dựng và quản lý các quy định liên quan thị trường điện, phát triển điện lực, thiết kế thị trường điện, giám sát thực thi, tuân thủ quy định, điều tiết thị trường điện cần hoạt động độc lập và phi lợi nhuận để tránh xung đột lợi ích, đảm bảo công bằng và minh bạch.
Mô hình cơ cấu quản trị như thị trường điện Úc với các cơ quan độc lập, minh bạch, không thiên vị, có năng lực, nhất quán, thực tiễn và biết tôn trọng, hỗ trợ cho cạnh tranh và phát minh đổi mới, phục vụ khách hàng đã góp phần quan trọng, chính yếu trong kết quả vận hành khá tốt của NEM trong hơn một phần tư thế kỷ, là mô hình đáng được xem xét.
Đón đọc chuyên đề tới: “Củng cố an ninh năng lượng Việt Nam trong kỷ nguyên rủi ro địa chính trị” của nhóm tác giả: Trần Huỳnh Ngọc, Tarek Ketelsen, Kha Nguyễn, Loan Lương, Becky-Jay Harrington
TS. THÁI DOÃN HOÀNG CẦU (MỤC 1, 2, 3, 4), TS. TRẦN HUỲNH NGỌC (MỤC 1, 2)
Tài liệu tham khảo:
[1] Lee, A. D., & Gerner, F. (2020). Learning from Power Sector Reform Experiences: The Case of Vietnam. World Bank Policy Research Working Paper, 9169.
[2] Cầu, T. D. H. (2022). Thị trường điện: Các vấn đề cơ bản và chuyên đề kinh tế, thương mại, quản lý chiến lược. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
[3] Agora Energiewende, NewClimate Institute, Energy Research Institute. (2024). Electricity market designs in Southeast Asia: Harnessing opportunities for renewable energy growth – Indonesia, Thailand, Viet Nam and the Philippines. Clean, Affordable and Secure Energy for Southeast Asia project.
[4] Chính phủ (2025). Nghị quyết 328/NQ-CP ngày 13/10/2025 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
[5] Cau, T.D.H. (2025). “Electricity Markets for Decarbonised Power Systems: How to Determine Redesign Preferences”. Presentation at Market design and development session of the CIGRE Australia conference 2025, Adelaide, 2-4 September 2025.
[6] Cầu, T. D. H. (2024). Luật Điện lực mới và vấn đề cấp bách triển khai thực hiện cải cách thị trường điện. Petrotimes - Tạp Chí Của Hội Dầu Khí Việt Nam. 4/11/2024. (New Electricity law and the urgency of implementing electricity market reforms)
[7] Cầu T. D. H. (2024). Thị trường điện: Nút thắt cần tháo gỡ ngay. Kinh tế Sài Gòn, 2024(28), 50–53. 11/07/2024 (Electricity market: The Knot That Must Be Untied Immediately)
[8] Báo Tuổi Trẻ, “Đề xuất dự án điện khí LNG nhập khẩu được hưởng bao tiêu 75% trong 15 năm”, ngày 12/11/2025.
[9] Báo Tuổi Trẻ, “Đề xuất cơ chế giá điện linh hoạt theo khu vực và người dùng”, ngày 01/10/2025.
[10] Cầu T. D. H. (2025). Lời giải cho 4 vấn đề nan giải của ngành điện Việt Nam. Dân Trí. Chuyên mục Tâm điểm. 08/09/2025. (Solutions for the quadrilemma of the Vietnam electricity industry).
[11] TCCT. (2025, October 1). Phát triển thị trường điện cạnh tranh, cải cách cơ chế giá điện là yêu cầu và xu thế tất yếu. Tạp chí Công Thương. accessed 20 Oct 2025.
[12] CIGRE. (2016). Capacity mechanisms – needs, solutions and state of affair (No. C15.7). CIGRE working group.
[13] Cau, T.D.H., 2025, “Navigating the NEM design challenges for the environment-constrained energy transition”, A submission to the NEM review panel on its Draft Review Report (6 August 2025), 17 September 2025, Official link: here.
[14] Cầu, T. D. H. (2024). Thiết kế mới thị trường điện và các tác động & Thiết kế mới thị trường điện: Khuyến nghị các điểm chính cần xem xét. Kinh tế Sài gòn. Số 21-2024: 27-29 & 30-31. 23/05/2024. (New electricity market design and impacts & New electricity market design: Recommended key points to consider)
[15] Cramton, P. (2017). Electricity market design. Oxford Review of Economic Policy, 33(4), 589–612.
[16] Glachant, J.-M., Joskow, P. L., & Pollitt, M. G. (2021). Handbook on electricity markets. Edward Elgar Publishing.
[17] Hogan, W. W. (2022). Electricity Market Design and Zero-Marginal Cost Generation. Current Sustainable/Renewable Energy Reports, 9(1), 15–26.
[18] Wolak, F. A. (2021). Wholesale electricity market design. In Handbook on electricity markets (pp. 73–110). Edward Elgar Publishing.
[19] Energy Sector Management Assistance Program (ESMAP). (2022). Wholesale Electricity Market Design (Final No. 181187). World Bank Group.
[20] Cầu T. D. H. (2025). Cải cách thị trường điện Việt Nam 2.0 nhìn từ sự tương hỗ giữa các chủ trương chính sách lớn. Tạp chí Kinh tế Sài Gòn, 2025(23), 23–25. 5/6/2025.
[21] Munoz, F. D., Wogrin, S., Oren, S. S., & Hobbs, B. F. (2018). Economic Inefficiencies of Cost-based Electricity Market Designs. The Energy Journal, 39(3), 51–68.
[22] Cầu, T. D. H. (2025). Nhân lực cho thị trường điện Việt Nam 2.0. Tạp chí Tia sáng, Số 18: 12-14. 20/9/2025. (Translation of the title: Developing human resources for Vietnam electricity market reform 2.0). Also republished in Tạp chí Năng lượng Việt Nam 2/10/2025 https://nangluongvietnam.vn/nhan-luc-cho-thi-truong-dien-20-cua-viet-nam-34913.html.
[23] Cầu, T.D.H. (2023). Luật NLTT cần đảm bảo cân bằng hài hoà các mục tiêu an ninh, hiệu quả và bền vững. Chuyên đề Vì sao cần sớm có Luật Năng lượng tái tạo? PetroTimes - Tạp chí của Hội Dầu khí Việt Nam. 25/12/2023.
[24] Cầu, T.D.H. (2024). Kinh nghiệm cải cách thị trường điện Úc và khuyến nghị cho Indonesia và Việt Nam (Phần 1 và Phần 2). PetroTimes - Tạp chí của Hội Dầu khí Việt Nam 20 & 21/3/2024 và đăng lại trên Tạp chí Năng lượng Việt Nam 26/3/2024. https://nangluongvietnam.vn/kinh-nghiem-cai-cach-thi-truong-dien-uc-khuyen-nghi-cho-indonesia-va-viet-nam-32348.html.


