VINATOM tổng kết công tác năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ 2026
14:56 | 02/01/2026
Mỗi độ Tết đến, Xuân về, người ta thường nói chuyện mở hàng, chuyện gieo quẻ đầu năm, chuyện nhìn lại năm cũ để mong một năm mới hanh thông hơn. Với ngành năng lượng - một lĩnh vực vốn quen với những con số khô khan và biểu đồ kỹ thuật - thì mùa Xuân lại là dịp hiếm hoi để nói những câu chuyện dài hơi hơn, nhẹ nhàng hơn, nhưng không kém phần quan trọng. Điện hạt nhân ở Việt Nam cũng vậy: Đây không chỉ là câu chuyện của công nghệ, của lò phản ứng, hay kilowatt-giờ, mà là câu chuyện của tầm nhìn, của niềm tin và của sự chuẩn bị cho tương lai. |
![]() |
| Toàn cảnh hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2026 của VINATOM. |
Một năm nhiều thành công:
Trong báo cáo tổng kết công tác năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2026 của Viện tại hội nghị, PGS, TS. Phan Việt Cương - Phó Viện trưởng đã đánh giá một số kết quả nổi bật năm 2025 của Viện, bao gồm: Kết quả hoạt động nghiên cứu, triển khai, ứng dụng năm 2025; hợp tác quốc tế; đào tạo phát triển nguồn nhân lực; các dự án đầu tư; công tác quản lý, tổ chức cán bộ và thi đua khen thưởng; phương hướng và nhiệm vụ năm 2026; và một số đề xuất, kiến nghị.
Báo cáo tổng kết cho thấy năm 2025, VINATOM tiếp tục khẳng định vị thế là tổ chức khoa học và công nghệ hạt nhân hàng đầu quốc gia.
Sự kiện chính trị và định hướng chiến lược:
1. Sự quan tâm của lãnh đạo cấp cao: Viện vinh dự đón Tổng Bí thư Tô Lâm, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các lãnh đạo Đảng, Nhà nước tới thăm và làm việc. Tổng Bí thư đã chỉ đạo định hướng phát triển Viện trong giai đoạn mới và nhấn mạnh vai trò then chốt của điện hạt nhân trong an ninh năng lượng quốc gia.
2. Đổi mới mô hình tổ chức: Viện tích cực xây dựng đề án chuyển đổi sang mô hình Viện Năng lượng Nguyên tử Quốc gia trực thuộc Chính phủ nhằm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược dài hạn.
3. Lĩnh vực chế biến quặng phóng xạ, đất hiếm có sự chuyển biến rõ rệt theo hướng nghiên cứu công nghệ chế biến sâu và mở rộng quy mô. Viện đã tập trung đề xuất hướng nghiên cứu công nghệ chế biến sâu quặng đất hiếm, chú trọng phát triển công nghệ quy mô lớn (pilot, bán công nghiệp), tập trung hướng công nghệ chế biến titan theo hình thức đi tắt đón đầu. Viện đã và đang tích cực triển khai các nhiệm vụ về phát triển công nghệ chế biến đất hiếm, titan; thu hồi Th-U từ monazite; nghiên cứu quy trình sản xuất rutil nhân tạo; tham gia Đề án điều tra, đánh giá tổng thể tiềm năng khoáng sản chiến lược (đất hiếm) trên lãnh thổ Việt Nam.
4. Lĩnh vực ứng dụng năng lượng nguyên tử trong y tế tiếp tục là điểm sáng về hiệu quả ứng dụng. Các kết quả nghiên cứu tập trung vào phát triển và hoàn thiện các dược chất phóng xạ hướng đích, khẳng định năng lực nghiên cứu - triển khai của Viện trong y học hạt nhân và tiềm năng ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị ung thư. Các kết quả đạt được thông qua các nhiệm vụ nghiên cứu quy trình điều chế một số chế phẩm dược chất phóng xạ có tính hướng đích ứng dụng trong điều trị ung thư như: Hạt nano phóng xạ Fe3O4@lapatinib-153Sm, chế phẩm 166Ho-EDTMP, 166Ho-DOTMP, chế phẩm đông khô kháng thể đơn dòng bevacizumab để đánh dấu với đồng vị phóng xạ 99mTc (99mTc-bevacizumab).
5. Các nghiên cứu trong lĩnh vực quan trắc phóng xạ và đánh giá tác động môi trường tiếp tục đóng góp trực tiếp cho công tác quản lý nhà nước và phát triển bền vững thông qua thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ môi trường, các nghiên cứu về mô hình lan truyền phóng xạ trong môi trường khí và biển, các kết quả quan trắc phóng xạ xây dựng dữ liệu phông nền.
6. Hướng nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật hạt nhân và kỹ thuật đồng vị tiếp tục được triển khai hiệu quả, tập trung nâng cao năng lực nghiên cứu các quá trình môi trường (đất, nước và trầm tích) với quy trình xác định tỉ số đồng vị δ13C và δ15N tổng trong mẫu trầm tích, tỉ số đồng vị δ13C trong các axit hữu cơ (các axit béo - δ13CFAs) trong mẫu trầm tích trên hệ khối phổ tỉ số đồng vị LC-GC-EA IRMS. Các nghiên cứu đã củng cố và mở rộng năng lực phân tích đồng vị bền, cho phép làm rõ các quá trình sinh - địa - hóa liên quan đến chu trình carbon, bao gồm lưu trữ và phát thải cacbon trong các hệ sinh thái biển, ven biển và rừng. Kết quả đạt được giúp nâng cao khả năng đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và hỗ trợ xây dựng các giải pháp quản lý tài nguyên và môi trường bền vững. Song song với đó, các nghiên cứu về ô nhiễm vi nhựa trong môi trường biển đã bước đầu hình thành cơ sở khoa học cho việc nhận diện nguồn gốc, cơ chế phát tán và tích lũy vi nhựa trong môi trường và sinh vật biển.
7. Lĩnh vực ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong công nghiệp: Viện tập trung vào phát triển và ứng dụng các kỹ thuật hạt nhân phục vụ kiểm tra, đánh giá tình trạng thiết bị và công trình công nghiệp. Viện đang tiếp tục triển khai nghiên cứu xây dựng hệ thiết bị soi gamma 2 chiều khảo sát tình trạng bên trong tháp chưng cất nhà máy lọc hóa dầu và nghiên cứu phương pháp phát hiện khuyết tật và bất thường đường ống thép áp lực cao dựa trên kỹ thuật nhớ từ kim loại. Các kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả kiểm tra không phá hủy, đảm bảo an toàn vận hành và hỗ trợ sản xuất công nghiệp.
8. Về chuẩn đo lường bức xạ ion và an toàn bức xạ: Viện triển khai các nhiệm vụ về nghiên cứu mô hình hóa đáp ứng nhiệt phát quang tia X của CaSO4:Dy bằng phương pháp Monte Carlo EGSnrc; nghiên cứu hoàn thiện vật liệu K2GdF5:Tb dùng trong định liều bức xạ photon và nơtron; nghiên cứu về chuẩn hoạt độ phóng xạ phục vụ khám chữa bệnh; đo liều neutron và liều hiệu dụng. Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện vật liệu và phương pháp đo liều, nâng cao năng lực chuẩn hoạt độ phóng xạ phục vụ khám chữa bệnh, từng bước hình thành cơ sở khoa học cho đo liều sinh học trong ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân. Song song với đó, các nghiên cứu về hiệu chuẩn thiết bị đo nhiễm bẩn phóng xạ bề mặt, xây dựng và nâng cấp hệ chuẩn đã góp phần chuẩn hóa hoạt động đo kiểm theo quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành. Viện cũng thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu về kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân (trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long) và nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu về phông phóng xạ thành phố Cần Thơ, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý an toàn bức xạ và hạt nhân ở cấp địa phương.
9. Lĩnh vực điện tử hạt nhân, đo lường và điều khiển lò phản ứng: Duy trì các nghiên cứu phục vụ bảo dưỡng, hoàn thiện hệ thống công nghệ và điều khiển lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt; nghiên cứu phát triển các thiết bị ghi đo bức xạ ứng dụng kỹ thuật điện tử hiện đại và trí tuệ nhân tạo, nhằm nâng cao độ tin cậy, an toàn và khả năng chẩn đoán sớm các bất thường trong vận hành; nghiên cứu chế tạo thiết bị đo radon trong không khí bằng phương pháp thu góp tĩnh điện kết hợp phổ kế alpha sử dụng đầu dò bán dẫn PIPS.
10. Lĩnh vực công nghệ bức xạ và công nghệ sinh học: Các nghiên cứu của Viện thực hiện theo hướng ứng dụng công nghệ bức xạ, công nghệ sinh học và công nghệ nano trong lĩnh vực nông nghiệp, thực phẩm, y dược và xử lý môi trường. Một số chế phẩm thử nghiệm gồm: Biopolymer cắt mạch bức xạ, hệ mang nano chứa chiết xuất thực vật, nano astaxanthin từ chiết xuất tảo Haematococcus pluvialis, màng bao sinh học bằng kỹ thuật chiếu xạ, vật liệu composite cố định nano bạc; chiếu xạ để biến tính TPS/PBAT tạo màng phân hủy sinh học và tạo sản phẩm làm bao bì thực phẩm…
Đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học:
- Tổng số công trình công bố của toàn Viện năm 2025 là 371 công trình, trong đó: 99 công trình đăng trên tạp chí quốc tế ISI; 66 công trình trên tạp chí SCOPUS và các tạp chí quốc tế khác; 51 công trình trên tạp chí quốc gia; 52 công trình tham gia hội nghị quốc tế; 129 công trình tham gia hội nghị trong nước; 1 giải pháp hữu ích; tham gia thực hiện một số nội dung của 1 ấn phẩm quốc tế.
- Hội nghị khoa học và công nghệ hạt nhân toàn quốc lần thứ 16 (VINANST-16) đã được tổ chức thành công (tháng 10/2025), với trên 460 đại biểu tham dự (trong đó 87 đại biểu quốc tế) và tổng số 223 báo cáo khoa học (gồm 134 báo cáo trực tiếp và 89 poster), trong đó có 47 báo cáo của các đại biểu quốc tế.
- Lò phản ứng hạt nhân tại Đà Lạt được vận hành an toàn, khai thác hiệu quả với tổng thời gian vận hành là 2.490 giờ trong 32 đợt dài ngày ở công suất 500 kWt, đạt chỉ tiêu theo kế hoạch (chỉ tiêu 25 đợt, mỗi đợt 50-100 giờ).
- Máy gia tốc Cyclotron 13MeV tại Hà Nội được khai thác hiệu quả, sản xuất được 365 ca thuốc, cung cấp 236.310 mCi thuốc VINATOM-FDG đáp ứng nhu cầu sử dụng thuốc cho nhiều bệnh viện lớn.
- Trung tâm Nghiên cứu và Điều chế đồng vị phóng xạ của Viện Nghiên cứu hạt được FNCA trao giải “Nhóm nghiên cứu xuất sắc nhất” năm 2025.
- Hoàn thành tiếp nhận và thực hiện lắp đặt vận hành 41 thiết bị quan trắc phóng xạ online của dự án EU-ASEANTOM.
Trong công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực:
Trong năm, Viện đào tạo tiến sĩ đối với 58 học viên (49 NCS chính thức, 5 dự bị NCS, 4 NCS đã hoàn thành chương trình học tập và được cấp bằng tiến sĩ vào tháng 11/2025); 24 ứng viên trúng tuyển trong năm thuộc các chuyên ngành vật lý hạt nhân (14 ứng viên), vật lý lý thuyết và vật lý toán (4 ứng viên), hóa vô cơ (4 ứng viên) và hóa phân tích (2 ứng viên). Bên cạnh đó, Viện đã thực hiện các thủ tục bổ nhiệm chức danh và được Hội đồng giáo sư nhà nước công nhận 1 viên chức của Viện đạt tiểu chuẩn chức danh Phó giáo sư.
Kết quả triển khai ứng dụng và dịch vụ kỹ thuật:
- Khai thác hạ tầng hạt nhân: Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt vận hành an toàn 2.490 giờ (vượt kế hoạch), phục vụ hiệu quả nghiên cứu và sản xuất. Hệ máy Cyclotron 13MeV tại Hà Nội cung cấp hơn 236.310 mCi thuốc phóng xạ VINATOM-FDG cho các bệnh viện lớn.
- Hiệu quả kinh tế: Tổng doanh thu dịch vụ đạt 497,50 tỷ đồng (tăng trưởng so với năm 2024), trong đó các lĩnh vực như sản xuất đồng vị/dược chất phóng xạ, dịch vụ chiếu xạ và phân tích môi trường tiếp tục là thế mạnh.
- Phát triển công nghệ chiến lược: Đẩy mạnh nghiên cứu công nghệ chế biến sâu quặng đất hiếm, titan và ứng dụng kỹ thuật đồng vị trong đánh giá tác động của biến đổi khí hậu.
Hợp tác quốc tế và dự án trọng điểm:
- Mở rộng mạng lưới đối tác: Ký kết mới 3 bản ghi nhớ hợp tác với các đối tác lớn từ Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc; chủ trì nhiều dự án hợp tác kỹ thuật với IAEA.
- Dự án CNST: Viện chính thức được giao làm chủ đầu tư dự án Trung tâm Nghiên cứu KH&CN hạt nhân (CNST), đánh dấu bước ngoặt trong việc xây dựng hạ tầng hạt nhân hiện đại cho tương lai.
Hướng tới năm 2026, VINATOM xác định là năm bản lề để xây dựng năng lực, chuẩn bị hạ tầng và nhân lực cho các dự án chiến lược quốc gia. Với chủ đề hoạt động: “Nghiên cứu và triển khai công nghệ chiến lược”, Viện tập trung vào các phương hướng và nhiệm vụ trọng tâm sau:
1. Mục tiêu chiến lược và chính sách:
- Vị thế quốc gia: Phấn đấu trở thành tổ chức khoa học và công nghệ dẫn dắt, làm chủ công nghệ hạt nhân chiến lược phục vụ phát triển điện hạt nhân và ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình.
- Đổi mới mô hình: Thực hiện đề án tổ chức lại mô hình Viện thành Viện Năng lượng Nguyên tử Quốc gia.
- Xây dựng cơ chế đặc thù: Xây dựng các chính sách đặc biệt về lương, phụ cấp cho cán bộ ngành năng lượng nguyên tử và cơ chế riêng cho dự án CNST.
2. Nhiệm vụ R&D trọng điểm:
- Công nghệ điện hạt nhân: Tập trung nghiên cứu về an toàn hạt nhân, vật lý lò phản ứng và trọng tâm mới là công nghệ lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR).
- Ứng dụng vì mục đích hòa bình: Đẩy mạnh phát triển dược chất phóng xạ hướng đích trong y tế; ứng dụng công nghệ bức xạ trong bảo quản nông sản và xử lý môi trường.
- Công nghệ đất hiếm và nhiên liệu: Nghiên cứu công nghệ chế biến sâu đất hiếm, titan và phát triển công nghệ nhiên liệu hạt nhân (uran, thori).
3. Phát triển hạ tầng và nguồn nhân lực:
- Triển khai dự án CNST: Tập trung thực hiện các bước quan trọng của dự án theo lộ trình.
- Mạng lưới quan trắc: Nâng cấp và hoàn thiện mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia.
- Đào tạo nhân lực chất lượng cao: Ưu tiên đào tạo chuyên gia chuyên sâu phục vụ điện hạt nhân, công nghệ SMR và chế biến sâu đất hiếm.
4. Hợp tác quốc tế:
- Mở rộng mạng lưới đối tác: Tăng cường hợp tác sâu rộng với IAEA và các đối tác chiến lược như Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ.
- Chuyển giao công nghệ: Tham gia các dự án quốc tế để tiếp nhận và làm chủ các công nghệ hạt nhân tiên tiến thế hệ IV.
Cần những cơ chế, chính sách phù hợp để Viện có thể đóng góp nhiều hơn cho đất nước
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ quan trong này, Viện đã đề xuất một số kiến nghị:
Thứ nhất: Sớm phê duyệt mô hình, tổ chức Viện Năng lượng Nguyên tử Quốc gia nhằm bảo đảm vị trí pháp lý tương xứng để giải quyết các nhiệm vụ chiến lược được giao.
Thứ hai: Trao cơ chế tài chính đặc thù cho Viện và cho phép thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ chiến lược dài hạn (5-10 năm).
Thứ ba: Ưu tiên bố trí nguồn ngân sách trung hạn ổn định cho nghiên cứu công nghệ SMR, điện hạt nhân, và phát triển công nghệ đất hiếm, titan.
Thứ tư: Xem xét, sửa đổi Quy chế quản lý thống nhất hoạt động đối ngoại, phân cấp cho Viện trong công tác tổ chức và triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế, phù hợp với Nghị định số 263/2025/NĐ-CP về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học công nghệ công lập.
Thứ năm: Ưu tiên đầu tư tăng cường trang thiết bị nghiên cứu, nâng cấp các phòng thí nghiệm và cơ sở vật chất phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.
Thứ sáu: Chỉ đạo các đơn vị liên quan tiếp tục hỗ trợ Ban quản lý dự án CNST hoàn thiện các cơ sở pháp lý phục vụ nhiệm vụ thẩm định cho dự án, bảo đảm tiến độ thực hiện dự án.
![]() |
| TS. Trần Chí Thành - Viện trưởng VINATOM chia sẻ tại hội nghị. |
Tại hội nghị, Viện trưởng VINATOM - TS. Trần Chí Thành đã chia sẻ một vài suy nghĩ về phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam và định hướng của Viện.
TS. Trần Chí Thành đã nhấn mạnh đến vai trò then chốt của điện hạt nhân đối với mục tiêu an ninh năng lượng và cam kết giảm phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) của quốc gia. Với tầm nhìn dài hạn, Viện xác định mục tiêu làm chủ các công nghệ hạt nhân tiên tiến, đặc biệt là công nghệ lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) và các hệ thống bảo đảm an toàn hạt nhân hiện đại.
Song song với việc chuẩn bị hạ tầng kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ chương trình điện hạt nhân, TS. Trần Chí Thành cho biết: Viện sẽ tập trung đẩy mạnh các ứng dụng năng lượng nguyên tử trong các lĩnh vực, từ sản xuất dược chất phóng xạ, kỹ thuật đồng vị trong công nghiệp dầu khí, đến ứng dụng bức xạ trong nông nghiệp và xử lý môi trường. Đặc biệt, dự án CNST được khẳng định là dấu mốc quan trọng, tạo nền tảng để Viện thực hiện sứ mệnh nghiên cứu chiến lược và đưa khoa học hạt nhân đóng góp thiết thực vào sự phát triển bền vững của đất nước.
Tại hội nghị, ông Gennady S. Bezdetko - Đại sứ Liên bang Nga tại Việt Nam phát biểu đánh giá cao những thành tựu mà Viện đã đạt được trong năm 2025, đặc biệt là vai trò trụ cột của Viện trong việc triển khai công nghệ hạt nhân tại Việt Nam.
Đại sứ nhấn mạnh đến sự thành công trong hợp tác song phương, tiêu biểu là việc hoàn thiện nghiên cứu khả thi cho dự án CNST và cung cấp nhiên liệu cho lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt. Đại sứ khẳng định mối quan hệ hữu nghị truyền thống bền chặt giữa hai nước và cho biết phía Nga luôn sẵn sàng chia sẻ tiềm năng khoa học, nhân lực và công nghệ để cùng Việt Nam khởi động các dự án nghiên cứu mới về lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) và công nghệ hạt nhân neutron. Đồng thời cam kết sẽ tiếp tục hỗ trợ tối đa để thúc đẩy hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực năng lượng và khoa học hạt nhân, góp phần vào sự phát triển bền vững và hiện đại hóa ngành năng lượng nguyên tử của Việt Nam trong thời gian tới.
Ông Ishikawa Isamu - Phó Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam phát biểu bày tỏ sự trân trọng đối với những thành quả to lớn mà Viện đã đạt được, đồng thời tái khẳng định mối quan hệ hợp tác bền chặt giữa Việt Nam - Nhật Bản trong 30 năm qua. Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng với việc điều chỉnh Quy hoạch điện VIII và mục tiêu đạt Net Zero vào năm 2050, phía Nhật Bản nhấn mạnh vai trò không thể thay thế của điện hạt nhân như một nguồn năng lượng nền sạch và ổn định.
Đại diện Chính phủ Nhật Bản cam kết sẽ tiếp tục đồng hành cùng Viện trong việc hoàn thiện hệ thống pháp quy, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và thúc đẩy các nghiên cứu chung về công nghệ lò phản ứng thế hệ mới, lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) cũng như các ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình trong y tế và nông nghiệp. Sự hợp tác chặt chẽ này không chỉ góp phần nâng cao năng lực kỹ thuật mà còn củng cố vai trò của Viện như một cầu nối quan trọng trong quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Nhật Bản.
Tại hội nghị, các nhà khoa học cũng đã đưa ra các ý kiến đóng góp cho rằng, với vai trò là tổ chức nghiên cứu nòng cốt của quốc gia, Viện cần được nâng cao vị thế tương xứng với những nhiệm vụ chiến lược mà đất nước đặt ra trong giai đoạn mới, trước hết là đầu tư bài bản cho nguồn nhân lực chất lượng cao.
Theo các nhà khoa học, những chủ trương lớn như: Nghị quyết số 57-NQ/TW đã mở ra thời cơ phát triển cho ngành năng lượng nguyên tử, nếu năm 2025 là giai đoạn khởi động thì từ năm 2026 bước vào tăng tốc, đòi hỏi Viện phải được định hướng phục vụ trực tiếp các công nghệ chiến lược và được đầu tư đồng bộ về trang thiết bị, cần có cơ chế đặc thù nhằm thu hút, giữ chân nhân tài và hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, tạo nền tảng đưa ngành năng lượng nguyên tử Việt Nam phát triển bền vững và lâu dài.
Năm 2025, trong kế hoạch triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, Viện đã được giao thực hiện 2 nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược của Việt Nam trong giai đoạn tới, bao gồm công nghệ lò phản ứng module nhỏ (SMR) và công nghệ chế biến sâu đất hiếm. Do đó, trong năm 2026, Viện đưa ra chủ đề hoạt động là “Nghiên cứu và triển khai công nghệ chiến lược” (Research and development of strategic technologies).
Chủ đề này thể hiện một định hướng quan trọng có tính chiến lược xác định mục tiêu là trở thành tổ chức khoa học và công nghệ quốc gia có vai trò dẫn dắt nghiên cứu, triển khai và hỗ trợ kỹ thuật trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, làm chủ các công nghệ hạt nhân chiến lược, phục vụ phát triển điện hạt nhân và mở rộng ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình, lấy khoa học và công nghệ làm nền tảng cho phát triển bền vững, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.
Kết thúc hội nghị, TS. Hoàng Sỹ Thân - Trưởng Ban Ban Kế hoạch và Quản lý khoa học đã công bố các quyết định khen thưởng của Viện, trao tặng 16 giải A, 27 giải B và 32 giải C cho các công trình công bố quốc tế và giải pháp hữu ích; khen thưởng cho 2 đơn vị, 2 cá nhân tiêu biểu đóng góp cho sự phát triển của Viện, trao chứng nhận chức danh Phó Giáo sư cho Lê Ngọc Thiệm - Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân.
Nhân dịp này, Viện trân trọng cảm ơn Ngân hàng PVComBank đã đồng hành và tài trợ cho các giải thưởng tiêu biểu của Viện trong năm 2025. Sự hỗ trợ quý báu này là nguồn động viên to lớn giúp khích lệ tinh thần đổi mới sáng tạo và tôn vinh những đóng góp xuất sắc của các đơn vị, các nhà khoa học trong Viện./.
NGUYỄN THỊ THU HÀ


