RSS Feed for Phản biện Thứ năm 01/10/2026 04:45
TRANG TTĐT CỦA TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Báo cáo tham luận của Tạp chí Năng lượng Việt Nam tại hội thảo khoa học cấp quốc gia về phát triển điện hạt nhân

 - Tại tỉnh Khánh Hòa, Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Tỉnh ủy Khánh Hòa cùng các cơ quan liên quan vừa tổ chức thành công Hội thảo khoa học cấp quốc gia với chủ đề: “Phát triển điện hạt nhân vì tăng trưởng xanh và an ninh năng lượng quốc gia”. Đóng góp với Hội thảo, Hội đồng Khoa học Tạp chí Năng lượng Việt Nam có tham luận phân tích những thách thức của truyền thông điện hạt nhân hiện nay, đánh giá yêu cầu đổi mới nội dung và phương thức truyền thông trong kỷ nguyên số; đồng thời đề xuất mô hình truyền thông điện hạt nhân cho Việt Nam giai đoạn 2026-2035.
Tổng quan Hội thảo khoa học “Phát triển điện hạt nhân vì tăng trưởng xanh và an ninh năng lượng quốc gia” Tổng quan Hội thảo khoa học “Phát triển điện hạt nhân vì tăng trưởng xanh và an ninh năng lượng quốc gia”

Ngày 21/9/2026, tại tỉnh Khánh Hòa, Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Tỉnh ủy Khánh Hòa cùng các cơ quan liên quan đã tổ chức thành công Hội thảo khoa học cấp quốc gia với chủ đề: “Phát triển điện hạt nhân vì tăng trưởng xanh và an ninh năng lượng quốc gia”.

Tham luận của Tạp chí Năng lượng Việt Nam tại hội thảo khoa học cấp quốc gia về phát triển điện hạt nhân
Đồng hành Hội thảo là các tập đoàn: Điện lực Việt Nam (EVN), Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia (Petrovietnam), Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel); hỗ trợ kỹ thuật và truyền thông: Tạp chí Năng lượng Việt Nam.

Ngoài tham luận đóng góp tại Hội thảo, trong phần thảo luận, TS. Lê Chí Dũng - Chuyên gia Hội đồng Khoa học Tạp chí Năng lượng Việt Nam nhắc lại một số ý đã đề xuất trong báo cáo tham luận gửi đến Hội thảo: Xây dựng Mô hình truyền thông điện hạt nhân quốc gia gồm 6 thành tố, trong đó Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Tỉnh ủy - nơi có dự án làm Cơ quan chỉ đạo (thành tố thứ nhất). Mô hình cần phân loại 4 nhóm công chúng mục tiêu (công chúng đại chúng, cư dân vùng dự án, giới trí thức/học sinh - sinh viên, cán bộ quản lý/doanh nghiệp) để xác định nội dung trọng tâm và kênh tiếp cận phù hợp.

Tham luận của Tạp chí Năng lượng Việt Nam tại hội thảo khoa học cấp quốc gia về phát triển điện hạt nhân
TS. Lê Chí Dũng.

TS. Lê Chí Dũng cũng kiến nghị xây dựng “Báo cáo Quốc gia định kỳ về điện hạt nhân” - có thể nâng cấp từ Kỷ yếu Hội thảo (21/9/2026), hoặc tích hợp với “Báo cáo An toàn hạt nhân Quốc gia” (sản phẩm nghĩa vụ của Việt Nam gửi Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) và công khai với các quốc gia thành viên Công ước An toàn hạt nhân).

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định bày tỏ sự ủng hộ đối với đề xuất ban hành “Báo cáo Quốc gia định kỳ về điện hạt nhân”.

Tham luận của Tạp chí Năng lượng Việt Nam tại hội thảo khoa học cấp quốc gia về phát triển điện hạt nhân
Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định.

Về cơ sở tài liệu xây dựng Báo cáo, Thứ trưởng gợi ý ngoài việc cân nhắc nâng cấp Kỷ yếu Hội thảo (như đại biểu kiến nghị), có thể áp dụng Báo cáo Đánh giá Cơ sở hạ tầng hạt nhân tích hợp (INIR) do IAEA phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các bộ, ngành liên quan xây dựng (bản chính thức đã được lãnh đạo IAEA trao cho Chính phủ Việt Nam).

Dù Báo cáo INIR mang tính kỹ thuật chuyên sâu, tài liệu này hoàn toàn có thể biên tập lại thành bản phổ thông, dễ hiểu để phổ biến rộng rãi.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ khẳng định: Sẵn sàng trực tiếp tham gia biên tập nội dung này và trình bày tại hội thảo/semina chuyên đề do Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì.

Dưới đây là một số nội dung chính của báo cáo tham luận:

Tóm tắt:

Trong bối cảnh Việt Nam tái khởi động chương trình điện hạt nhân nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 và thúc đẩy phát triển bền vững, công tác truyền thông báo chí đang đứng trước những yêu cầu mới cả về nội dung và phương thức triển khai. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy thành công của một chương trình điện hạt nhân không chỉ phụ thuộc vào công nghệ, nguồn vốn đầu tư, hay năng lực quản lý nhà nước, mà còn phụ thuộc đáng kể vào mức độ chấp nhận của xã hội, niềm tin của công chúng đối với các cơ quan quản lý, chủ đầu tư và hệ thống bảo đảm an toàn hạt nhân.

Báo cáo phân tích những thách thức đặt ra đối với truyền thông điện hạt nhân trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội; đánh giá yêu cầu đổi mới nội dung, phương thức truyền thông nhằm nâng cao hiệu quả cung cấp thông tin, tăng cường đối thoại xã hội và xây dựng niềm tin công chúng.

Trên cơ sở tổng hợp kinh nghiệm quốc tế và đối chiếu với bối cảnh chính sách hiện nay của Việt Nam, Báo cáo đề xuất một số định hướng hoàn thiện mô hình truyền thông điện hạt nhân giai đoạn mới, góp phần tạo dựng sự đồng thuận xã hội và hỗ trợ triển khai thành công chương trình điện hạt nhân quốc gia.

1. Bối cảnh chính sách và yêu cầu đổi mới truyền thông điện hạt nhân:

1.1. Bối cảnh chính sách và yêu cầu:

Điện hạt nhân đang trở lại mạnh mẽ trên thế giới như một giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm an ninh năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính và hỗ trợ quá trình chuyển dịch năng lượng theo hướng phát triển bền vững. Hiện nay, hơn 30 quốc gia đang vận hành nhà máy điện hạt nhân, trong khi nhiều quốc gia khác đang xem xét, hoặc chuẩn bị triển khai các chương trình điện hạt nhân mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện năng tiếp tục gia tăng, các mục tiêu phát triển kinh tế xanh ngày càng được chú trọng và yêu cầu giảm phát thải carbon trở thành cam kết toàn cầu, điện hạt nhân đang được nhiều quốc gia đánh giá lại như một nguồn điện nền có khả năng cung cấp điện ổn định với lượng phát thải thấp.

Cùng với sự phục hồi của điện hạt nhân trên phạm vi toàn cầu, công tác truyền thông và sự tham gia của các bên liên quan ngày càng được coi là một trong những điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của chương trình điện hạt nhân quốc gia. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các dự án điện hạt nhân thường có thời gian chuẩn bị và triển khai kéo dài, liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau và chịu sự quan tâm đặc biệt của xã hội do gắn với các vấn đề an toàn, môi trường, sức khỏe cộng đồng và phát triển địa phương. Vì vậy, bên cạnh các yếu tố kỹ thuật, tài chính, thể chế, việc xây dựng niềm tin công chúng và duy trì sự đồng thuận xã hội ngày càng trở thành một yêu cầu có ý nghĩa chiến lược.

Theo phương pháp tiếp cận theo Mốc (Milestones) của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA): Sự tham gia của các bên liên quan (Stakeholder Involvement) là một trong 19 yếu tố hạ tầng then chốt của chương trình điện hạt nhân quốc gia. Điều này được thể hiện rõ trong các hướng dẫn kỹ thuật của IAEA [1], [2] và [3].

Các hướng dẫn của IAEA đều nhấn mạnh rằng: Truyền thông, tham vấn cộng đồng và đối thoại với các bên liên quan phải được triển khai song song với quá trình xây dựng chính sách, hoàn thiện hệ thống pháp luật, phát triển nguồn nhân lực và chuẩn bị cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Theo cách tiếp cận này, truyền thông không chỉ là hoạt động tuyên truyền, hay phổ biến thông tin đơn thuần, mà còn là một công cụ quản trị xã hội, quản lý rủi ro và xây dựng lòng tin công chúng.

Tại Việt Nam, chủ trương phát triển điện hạt nhân đã được tái khẳng định trong bối cảnh yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong dài hạn.

Ngày 30/11/2024, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 174/2024/QH15, trong đó có nội dung về việc tiếp tục thực hiện chủ trương đầu tư dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận. Tiếp đó, Luật Năng lượng Nguyên tử số 94/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 27/6/2025 đã tạo lập khuôn khổ pháp lý mới cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và phát triển năng lượng nguyên tử trong giai đoạn tiếp theo.

Trên cơ sở các chủ trương của Đảng và Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều quyết định quan trọng liên quan đến phát triển nguồn nhân lực, truyền thông, phổ biến kiến thức, cũng như chiến lược phát triển và ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050. Liên quan trực tiếp đến tham luận này là nội dung Đề án thông tin, tuyên truyền về phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử phục vụ phát triển kinh tế, xã hội đến năm 2035 (ban hành kèm theo Quyết định số 119/QĐ-TTg ngày 16/1/2026).

Những chính sách này cho thấy công tác thông tin, tuyên truyền và nâng cao nhận thức cộng đồng đã được xác định là một cấu phần quan trọng của chương trình điện hạt nhân quốc gia, cần được triển khai đồng bộ cùng với các nhiệm vụ về công nghệ, đầu tư, pháp luật và phát triển nguồn nhân lực.

Song song với đó, các cơ quan tuyên giáo và dân vận của Đảng đã ban hành nhiều văn bản định hướng công tác thông tin, tuyên truyền và nắm bắt dư luận xã hội liên quan đến phát triển điện hạt nhân. Điều này phản ánh nhận thức ngày càng rõ ràng rằng: Truyền thông điện hạt nhân không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn của ngành năng lượng nguyên tử, mà còn là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng, truyền thông chính sách và xây dựng sự đồng thuận xã hội đối với những quyết sách phát triển có ý nghĩa chiến lược của đất nước. Liên quan trực tiếp đến tham luận này là nội dung các hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương [4], [5] và [6].

Có thể thấy, bối cảnh truyền thông hiện nay đã có nhiều thay đổi so với giai đoạn chuẩn bị chương trình điện hạt nhân trước đây. Sự phát triển mạnh mẽ của báo điện tử, mạng xã hội, các nền tảng số và công nghệ trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi cách thức tiếp nhận, chia sẻ và đánh giá thông tin của công chúng. Thông tin chính xác có thể lan tỏa nhanh chóng, nhưng thông tin sai lệch, hoặc tin giả cũng có thể gây tác động lớn đến nhận thức xã hội chỉ trong thời gian ngắn. Trong khi đó, điện hạt nhân là lĩnh vực có tính kỹ thuật cao, dễ bị hiểu chưa đầy đủ, hoặc bị tác động bởi tâm lý lo ngại liên quan đến các sự cố hạt nhân trong lịch sử.

Yêu cầu đặt ra đối với báo chí và truyền thông không chỉ là cung cấp thông tin chính xác, kịp thời và dễ hiểu về điện hạt nhân, mà còn phải góp phần xây dựng niềm tin công chúng, tăng cường tính minh bạch, thúc đẩy đối thoại xã hội và nâng cao khả năng nhận diện, phản bác các thông tin sai lệch. Mục tiêu cuối cùng không phải là tạo ra sự đồng thuận bằng các hoạt động tuyên truyền một chiều, mà là hình thành sự hiểu biết đầy đủ, khách quan và có cơ sở khoa học về điện hạt nhân trong xã hội.

Mặc dù các chủ trương, chính sách và chương trình hành động về thông tin, tuyên truyền đã được ban hành tương đối đầy đủ, yêu cầu đổi mới nội dung và phương thức truyền thông điện hạt nhân trong bối cảnh chuyển đổi số vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện. Chúng ta cần làm rõ “khung khái niệm” trong mục 1.2 dưới đây. Sau đó là nhận diện đầy đủ vai trò của truyền thông báo chí đối với quá trình phát triển điện hạt nhân, không chỉ với tư cách là một kênh cung cấp thông tin, mà còn là một thành tố quan trọng của hạ tầng chương trình điện hạt nhân quốc gia trong các mục tiếp theo.

1.2. Khung khái niệm - Phân biệt “Niềm tin công chúng”, “Sự chấp nhận xã hội” và “Sự đồng thuận xã hội”:

Ba khái niệm quan trọng của khung khái niệm bao gồm: “Niềm tin công chúng” (Public Trust), “Sự chấp nhận xã hội” (Social Acceptance) và “Sự đồng thuận xã hội” (Social Consensus). Chúng có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ, nhưng đại diện cho các cấp độ nhận thức và hành vi khác nhau của xã hội đối với chương trình điện hạt nhân:

(1) Niềm tin công chúng - Nền tảng tâm lý và thái độ:

Khái niệm: Là mức độ tin tưởng, kỳ vọng tích cực của cộng đồng vào năng lực, tính minh bạch, sự trung thực và tinh thần trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan pháp quy hạt nhân, chủ đầu tư và giới khoa học.

Bản chất: Đây là thái độ cảm xúc và nhận thức được hình thành từ quá trình tiếp nhận thông tin minh bạch, khách quan. Niềm tin công chúng không tự nhiên có sẵn mà là “tiền đề tâm lý” cốt lõi. Nếu không có niềm tin, công chúng sẽ luôn nghi ngờ các đánh giá an toàn, hoặc số liệu quan trắc do cơ quan chức năng cung cấp.

(2) Sự chấp nhận xã hội - Trạng thái hành vi và quyết định:

Khái niệm: Là việc công chúng và các bên liên quan dung nạp, không phản đối, hoặc không tạo ra các xung đột xã hội đối với việc hình thành, xây dựng và vận hành nhà máy điện hạt nhân tại một địa bàn cụ thể, hay ở cấp quốc gia.

Bản chất: Theo lý thuyết của Wüstenhagen và cộng sự (2007) [7], sự chấp nhận xã hội gồm 3 cấp độ: Chấp nhận về mặt chính sách (Socio-political acceptance), Chấp nhận của cộng đồng địa phương (Community acceptance) và Chấp nhận của thị trường/doanh nghiệp (Market acceptance). Sự chấp nhận xã hội là “kết quả đầu ra” (outcome) của quá trình tham vấn và truyền thông hiệu quả. Một cộng đồng có thể chưa hoàn toàn hài lòng, nhưng vẫn “chấp nhận” dự án, nếu thấy lợi ích vượt trội rủi ro và niềm tin vào quy trình an toàn được bảo đảm.

(3) Sự đồng thuận xã hội - Mục tiêu chiến lược cao nhất:

Khái niệm: Là sự nhất trí, chia sẻ chung về mặt quan điểm và giá trị giữa các tầng lớp nhân dân, chính quyền, giới khoa học và các tổ chức xã hội về tính cần thiết, tầm quan trọng và sự đánh đổi (trade-offs) của điện hạt nhân trong chiến lược năng lượng quốc gia.

Bản chất: Đồng thuận xã hội là cấp độ cao nhất của sự thống nhất tư tưởng và hành động. Sự đồng thuận không có nghĩa là 100% người dân đều ủng hộ, mà là xã hội đạt được một thỏa ước chung sau khi đã qua quá trình đối thoại, tranh luận công khai, tham vấn ý kiến đa chiều và giải quyết hài hòa lợi ích của các bên liên quan.

Mối quan hệ logic giữa 3 khái niệm: Báo chí và truyền thông đóng vai trò là “chất xúc tác” và “cầu nối”: Truyền thông minh bạch dựa trên bằng chứng khoa học giúp củng cố Niềm tin công chúng, từ niềm tin đó giúp giảm thiểu xung đột để đạt được Sự chấp nhận xã hội đối với dự án, và cuối cùng hướng tới xây dựng Sự đồng thuận xã hội bền vững cho chương trình điện hạt nhân quốc gia.

2. Thực trạng truyền thông điện hạt nhân tại Việt Nam:

Để đáp ứng các yêu cầu mới trong bối cảnh tái khởi động chương trình điện hạt nhân, việc đánh giá khách quan thực trạng công tác truyền thông báo chí thời gian qua là tiền đề quan trọng giúp nhận diện những kết quả đạt được, cũng như các khoảng trống cần khắc phục.

2.1. Kết quả đạt được:

Trong giai đoạn chuẩn bị trước đây, cũng như những bước khởi động lại gần đây, công tác truyền thông về điện hạt nhân tại Việt Nam đã đạt được một số kết quả tích cực:

Từng bước định hình dòng thông tin chính thống: Các cơ quan báo chí chủ lực đã tích cực thông tin về chủ trương, chính sách của Đảng, Quốc hội và Chính phủ; phản ánh vai trò của năng lượng nguyên tử trong phát triển kinh tế, xã hội và bảo đảm an ninh năng lượng.

Đóng góp vào nâng cao nhận thức bước đầu: Qua các bài viết chuyên sâu, tọa đàm và tài liệu phổ biến kiến thức, công chúng từng bước có cái nhìn đúng đắn hơn về tính cần thiết của điện hạt nhân, giảm bớt những tâm lý e ngại vô cơ sở.

Sự vào cuộc của các cơ quan quản lý và chuyên gia: Sự phối hợp giữa các bộ, ngành, các tạp chí truyền thông và giới khoa học đã tạo dựng được các nguồn thông tin tin cậy, làm cơ sở khoa học cho công tác truyền thông chính sách.

2.2. Những hạn chế và thách thức chủ yếu:

Bên cạnh các kết quả đạt được, tác giả tham luận nhận thấy còn có một số hạn chế và bất cập trong các công tác truyền thông điện hạt nhân. Những đánh giá sơ bộ này dựa vào kinh nghiệm tham gia công tác truyền thông điện hạt nhân ở nước ta từ những năm 2000, đặc biệt là đánh giá dòng thông tin tập trung cao độ vào thời điểm Quốc hội ban hành Nghị quyết số 174/2024/QH15 (tiếp tục dự án Ninh Thuận) và thông qua Luật Năng lượng Nguyên tử số 94/2025/QH15 cho đến nay, qua gặp gỡ, trao đổi với các phóng viên báo chí và các đồng nghiệp trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Đó là:

Nội dung còn nặng tính kỹ thuật, chưa lấy công chúng làm trung tâm: Nhiều bài viết còn thiên về các thuật ngữ chuyên môn phức tạp, thông số kỹ thuật khô khan. Thông tin chưa thật sự tập trung giải đáp trực tiếp các câu hỏi thiết thực mà xã hội quan tâm như: Mức độ an toàn, phương án quản lý chất thải phóng xạ, tác động môi trường sống và quyền lợi của người dân vùng dự án.

Phương thức truyền thông chủ yếu vẫn mang tính một chiều: Hoạt động truyền thông chủ yếu tập trung vào việc truyền tải thông điệp từ cơ quan quản lý tới công chúng (chiều từ trên xuống). Các cơ chế, diễn đàn đối thoại hai chiều, tham vấn ý kiến cộng đồng và tiếp thu phản hồi xã hội chưa được tổ chức định kỳ và bài bản.

Khai thác công nghệ số và nền tảng đa phương tiện còn hạn chế: Việc ứng dụng các sản phẩm truyền thông hiện đại như đồ họa thông tin (infographic), video ngắn, podcast, bản đồ dữ liệu tương tác, hay các công cụ hỗ trợ hỏi đáp tự động còn khiêm tốn. Việc truyền thông trên không gian mạng xã hội chưa đủ sức lan tỏa để chủ động dẫn dắt dư luận.

Đội ngũ lực lượng truyền thông chuyên sâu còn mỏng: Lực lượng phóng viên, biên tập viên có chuyên môn sâu về năng lượng nguyên tử và truyền thông khoa học còn hạn chế. Điều này gây khó khăn trong việc phân tích, diễn giải các chủ đề kỹ thuật phức tạp thành các thông điệp truyền thông dễ hiểu, hấp dẫn đối với đại chúng.

Thách thức từ tin giả và tâm lý e ngại trên mạng xã hội: Sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội khiến các thông tin sai lệch, tin đồn thất thiệt, hoặc các nội dung khoáy sâu vào tâm lý lo ngại về sự cố hạt nhân dễ dàng lan rộng với tốc độ nhanh chóng. Trong khi đó, cơ chế phát hiện, cảnh báo sớm và phản ứng nhanh với các thông tin tiêu cực dựa trên dữ liệu khoa học vẫn chưa hoàn thiện.

Thực trạng trên cho thấy công tác truyền thông điện hạt nhân tại Việt Nam vẫn còn những khoảng trống nhất định so với các tiêu chuẩn quốc tế và yêu cầu của kỷ nguyên số. Để tìm kiếm giải pháp phù hợp, việc tham chiếu bài học kinh nghiệm từ các quốc gia đã triển khai thành công, hoặc xử lý hiệu quả khủng hoảng truyền thông điện hạt nhân là hết sức cần thiết.

3. Kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng niềm tin công chúng đối với điện hạt nhân:

Nhiều khảo sát quốc tế uy tín gần đây phản ánh sự phục hồi mạnh mẽ về niềm tin của công chúng đối với điện hạt nhân. Điển hình như khảo sát “Thế giới đang cần năng lượng hạt nhân mới” (“The World Wants New Nuclear”) của Liên minh Năng lượng tiềm năng (Potential Energy) đầu năm 2023 [8]. Khảo sát được tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 11/2022 đến tháng 1/2023 tại 8 nước: Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Ba Lan, Thụy Điển, Anh, Nhật và Hàn Quốc với 13.500 người dân tham gia theo hình thức trực tuyến.

Có sự ủng hộ mạnh mẽ đối với năng lượng hạt nhân tiên tiến tại cả 8 quốc gia được khảo sát với tỷ lệ trung bình là cứ 1 người phản đối, thì có 5 người ủng hộ. Tại Hoa Kỳ, 61% số người được hỏi “hoàn toàn đồng ý”, hoặc “đồng ý” với việc sử dụng các công nghệ năng lượng hạt nhân tiên tiến nhất để sản xuất điện song song với các nguồn năng lượng khác, trong khi chỉ có 16% “không đồng ý”, hoặc “hoàn toàn không đồng ý”.

Các thành viên của các tổ chức bảo vệ môi trường là những người ủng hộ mạnh mẽ năng lượng hạt nhân tiên tiến. Tại tất cả các quốc gia được khảo sát, các thành viên của tổ chức bảo vệ môi trường đều ủng hộ năng lượng hạt nhân tiên tiến. Ở một số quốc gia, tỷ lệ ủng hộ năng lượng hạt nhân tiên tiến trong nhóm này còn cao hơn so với những người không phải là thành viên. Cụ thể, 65% thành viên các tổ chức bảo vệ môi trường tại Hoa Kỳ ủng hộ việc sử dụng năng lượng hạt nhân tiên tiến, so với mức 60% ở công chúng nói chung.

Các cuộc khảo sát khác cũng cho thấy kết quả ủng hộ của đa số công chúng đối với điện hạt nhân. Tại Hoa Kỳ, khảo sát diện rộng của Trung tâm Nghiên cứu Pew (Pew Research Center, tháng 5/2025) trên mẫu 5.085 người trưởng thành ghi nhận 59% người dân ủng hộ mở rộng nhà máy điện hạt nhân (tăng từ 43% năm 2020), trong khi Công ty Bisconti (Bisconti Research, Inc) ghi nhận tỷ lệ này đạt 70%. Tại Hàn Quốc, các khảo sát của Hội Hạt nhân Hàn Quốc (KNS) giai đoạn 2023-2024 cũng cho thấy tỷ lệ đồng ý duy trì và phát triển điện hạt nhân ổn định ở mức 55-60%.

Thực tiễn tại các quốc gia vận hành điện hạt nhân cho thấy, niềm tin của công chúng không tự nhiên hình thành, mà là kết quả của chiến lược truyền thông minh bạch, đối thoại liên tục và tôn trọng sự tham gia của các bên liên quan. Bài học từ một số quốc gia điển hình mang lại những gợi mở quan trọng cho Việt Nam:

3.1. Nhật Bản: Khai thác bài học Fukushima - Phục hồi niềm tin là một quá trình thể chế lâu dài:

Kinh nghiệm của Nhật Bản sau sự cố Fukushima Daiichi (2011) cho thấy: Khôi phục niềm tin xã hội là một quá trình dài hạn, phức tạp và không thể chỉ dựa vào các chiến dịch truyền thông một chiều. Nhận thức rõ điều này, Nhật Bản đã triển khai một chuỗi cải cách thể chế mang tính nền tảng:

Cải cách pháp quy độc lập: Giải thể Cơ quan An toàn Bức xạ và Hạt nhân cũ (NISA) - vốn nằm trong Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (METI) để loại bỏ xung đột lợi ích giữa đơn vị phát triển năng lượng và đơn vị giám sát. Thay vào đó, thành lập Cơ quan Pháp quy Hạt nhân (NRA) độc lập hoàn toàn, nâng cao thẩm quyền thanh tra và áp dụng các tiêu chuẩn an toàn khắt khe nhất thế giới.

Minh bạch và công khai dữ liệu tuyệt đối: Thiết lập hệ thống công khai chỉ số quan trắc bức xạ môi trường theo thời gian thực; toàn bộ các cuộc họp thẩm định an toàn và kết quả thanh tra của NRA đều được ghi hình và phát trực tiếp cho công chúng theo dõi.

Trách nhiệm pháp lý và xã hội của các tổ chức: Quy định rõ trách nhiệm giải trình và nghĩa vụ bồi thường của Tập đoàn Điện lực Tokyo (TEPCO), cũng như các đơn vị vận hành; bắt buộc tổ chức tham vấn đa bên và nhận được sự đồng ý của chính quyền địa phương (Local Consent) trước khi tái khởi động bất kỳ lò phản ứng nào.

Bài học rút ra: Niềm tin không phải là kết quả của kỹ thuật truyền thông thuần túy, mà là kết quả của sự minh bạch hóa thông tin kết hợp với việc tái cấu trúc thể chế an toàn và nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý và doanh nghiệp.

3.2. UAE (Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất) - Căn cứ thực chứng về mối quan hệ giữa truyền thông và sự chấp nhận xã hội:

Khẳng định về mức độ ủng hộ xã hội cao đối với dự án Nhà máy Điện hạt nhân Barakah tại UAE được minh chứng rõ ràng thông qua các cuộc khảo sát dư luận độc lập định kỳ do tổ chức Kantar TNS và Nielsen thực hiện (được ủy thác bởi Tổng công ty Năng lượng Hạt nhân Emirates - ENEC):

Cơ sở dữ liệu khảo sát thực chứng:

- Khảo sát toàn quốc năm 2017 (do Kantar TNS thực hiện trên 750 mẫu đại diện) ghi nhận 83% người dân ủng hộ chương trình điện hạt nhân (tăng 13% so với năm 2013).

- Khảo sát năm 2018-2019 (do Nielsen thực hiện trên 1.000 mẫu) cho thấy tỷ lệ ủng hộ tăng lên 85% trên toàn quốc, đặc biệt tại vùng dự án Al Dhafra - nơi đặt nhà máy Barakah, tỷ lệ ủng hộ đạt tới 94% (tăng từ 84% năm 2017).

- Khảo sát cũng chỉ ra 96% người dân tin tưởng ENEC xây dựng nhà máy theo các chuẩn mực an toàn cao nhất và 86% ghi nhận tính minh bạch trong hoạt động truyền thông của cơ quan này.

Chiến lược tác động tích cực: Kết quả khảo sát thực chứng khẳng định chiến lược truyền thông chủ động (kết hợp giữa công khai tiến độ, tổ chức Diễn đàn cộng đồng (Public Forums), lồng ghép giáo dục khoa học và minh bạch lợi ích kinh tế - môi trường) đã trực tiếp nâng cao mức độ hiểu biết và niềm tin xã hội, tạo nền tảng đồng thuận cao trước khi nhà máy đi vào vận hành thương mại.

3.3. Hàn Quốc - Phân tích cơ chế tham vấn công chúng đối với Dự án Shin Kori 5 và 6:

Hàn Quốc là quốc gia điển hình áp dụng mô hình “Dân chủ tham nghị” (Deliberative Democracy) để giải quyết tranh luận xã hội thông qua trường hợp Hội đồng Tham vấn công chúng về việc xây dựng Lò phản ứng Shin Kori 5 và 6 (năm 2017):

Cơ chế vận hành:

Khi chính quyền đứng trước sức ép dừng, hay tiếp tục dự án Shin Kori 5 và 6 (vốn đã hoàn thành khoảng 30% khối lượng), một Hội đồng Tham vấn công chúng độc lập được thành lập. Cơ chế gồm: (1) Khảo sát diện rộng 20.000 người dân; (2) Chọn lọc ngẫu nhiên một Ban hội thẩm công dân (Citizens' Jury) gồm 471 đại diện; (3) Ban hội thẩm trải qua 3 tháng nghiên cứu tài liệu, tham gia các phiên tranh luận đối hỏa trực tiếp giữa giới chuyên gia ủng hộ và phản đối điện hạt nhân.

Kết quả đạt được (ưu điểm):

- Tạo lập đồng thuận xã hội dựa trên thông tin đầy đủ: Cuối quá trình đối thoại, 59,5% thành viên Ban hội thẩm đã bỏ phiếu ủng hộ tiếp tục xây dựng dự án. Kết quả này được xã hội và các bên xung đột chấp nhận, giúp giải tỏa bế tắc chính trị và dự án được tái khởi công.

- Tối ưu hóa quyết sách: Bên cạnh việc cho phép tiếp tục dự án, Ban hội thẩm cũng đề xuất Chính phủ cần giảm dần phụ thuộc vào điện hạt nhân trong dài hạn (53,2% ủng hộ), thể hiện góc nhìn cân bằng của công chúng.

Hạn chế và phạm vi áp dụng (giới hạn của mô hình):

- Chi phí và thời gian lớn: Quá trình tham vấn kéo dài và tốn kém ngân sách, làm gián đoạn tiến độ thi công dự án.

- Rủi ro “Chính trị hóa” kỹ thuật: Việc phó mặc các quyết định kỹ thuật/an toàn phức tạp cho đại diện công chúng bình dân có thể dẫn đến rủi ro cảm tính, nếu quá trình cung cấp thông tin của các nhóm lợi ích bị thiên lệch.

- Tính đại diện: Việc chọn lọc 471 người tuy bảo đảm tính thống kê, nhưng chưa thể phản ánh hết những xung đột sinh kế mang tính đặc thù của cộng đồng cư dân sát khu vực dự án.

3.4. Nhận diện vai trò của mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo (AI) trong truyền thông hiện đại:

Kinh nghiệm từ các quốc gia cũng chỉ ra hai nhân tố có tác động thay đổi cục diện truyền thông điện hạt nhân trong kỷ nguyên số:

Tác động của Mạng xã hội: Mạng xã hội giúp lan tỏa thông tin nhanh chóng, nhưng cũng là môi trường phát tán tin giả, tin đồn thất thiệt. Do các thông tin tiêu cực thường có tốc độ lan truyền nhanh hơn, các cơ quan quản lý cần xây dựng cơ chế theo dõi dư luận theo thời gian thực và phản ứng nhanh dựa trên dữ liệu khoa học được kiểm chứng.

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI): AI đang được sử dụng hiệu quả như một công cụ truyền thông khoa học mới. Việc phát triển các hệ thống Chatbot AI tự động giải đáp thắc mắc 24/7 về an toàn bức xạ, ứng dụng AI để đơn giản hóa tài liệu kỹ thuật thành các sản phẩm đa phương tiện (infographic, video tương tác) giúp thu hẹp khoảng cách giữa giới chuyên môn và công chúng.

4. Mô hình và giải pháp đổi mới truyền thông điện hạt nhân cho Việt Nam hiện nay:

Để giải quyết triệt để những hạn chế hiện nay và đáp ứng các yêu cầu mới của kỷ nguyên số, công tác truyền thông điện hạt nhân không thể triển khai một cách manh mún, hay tùy nghi. Việt Nam cần xây dựng một Mô hình tổng thể về Quản trị truyền thông điện hạt nhân quốc gia vận hành dựa trên cơ chế chỉ đạo thống nhất, dữ liệu chuẩn xác, phân định rõ trách nhiệm và phản hồi đa chiều.

4.1. Kiến trúc Mô hình Quản trị truyền thông điện hạt nhân quốc gia:

Mô hình truyền thông điện hạt nhân giai đoạn 10-15 năm tới được cấu trúc hóa nhằm xử lý trọn vẹn 6 vấn đề quản trị cốt lõi:

(1) Cơ chế chỉ đạo và đầu mối điều phối - Ai điều phối?

Cơ quan chỉ đạo: Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về thông tin và truyền thông định hướng tư tưởng, chính trị và truyền thông chính sách.

Đầu mối điều phối cấp quốc gia: Thành lập “Tổ Truyền thông và Tham vấn cộng đồng” trực thuộc Ban Chỉ đạo quốc gia về phát triển điện hạt nhân. Đơn vị này giữ vai trò nhạc trưởng điều phối thông tin, bảo đảm tính nhất quán của thông điệp.

(2) Chủ thể tham gia và phân định trách nhiệm - Những ai tham gia?

Để tránh tình trạng “nhiều đầu mối cùng phát ngôn, nhưng thông tin không thống nhất”, trách nhiệm chuyên môn được phân định rõ ràng:

Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ): Phát ngôn về chủ trương, chính sách, quy hoạch, cơ cấu năng lượng và hiệu quả kinh tế, xã hội.

Cơ quan Pháp quy hạt nhân (Cục An toàn Bức xạ và Hạt nhân - VARANS): Độc lập phát ngôn về đánh giá an toàn, cấp phép, chỉ số bức xạ môi trường, thanh tra pháp quy và kịch bản ứng phó sự cố.

Chủ đầu tư/Đơn vị vận hành (EVN, Petrovietnam...): Cung cấp thông tin thực tế về tiến độ thi công, công nghệ lò phản ứng, kinh phí, giải phóng mặt bằng và trách nhiệm xã hội.

Mạng lưới cơ quan báo chí, chuyên gia và địa phương: Báo chí giữ vai trò truyền tải và phản biện; các nhà khoa học/hội chuyên môn (như Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, Hội Năng lượng Nguyên tử, Tạp chí Năng lượng Việt Nam…) cung cấp góc nhìn khách quan; chính quyền địa phương (Khánh Hòa) làm đầu mối tham vấn sinh kế trực tiếp cho người dân.

(3) Nguồn cung cấp thông tin và hạ tầng dữ liệu - Thông tin từ đâu?

- Xây dựng “Cổng Dữ liệu mở quốc gia về Điện hạt nhân” (Open Data Portal) kết hợp Kho nội dung số dùng chung (bài viết mẫu, đồ họa, infographic, video 3D).

- Toàn bộ dữ liệu quan trắc môi trường và bức xạ theo thời gian thực (Real-time Radiation Monitoring) phải được kết nối tự do cho báo chí và công chúng truy cập.

(4) Phân loại nhóm công chúng, nội dung và phương thức tiếp cận:

Nhóm công chúng mục tiêu

Nội dung trọng tâm

Phương thức tiếp cận chủ đạo

Công chúng rộng rãi / Đại chúng

Lợi ích kinh tế, Net Zero, tính an toàn của công nghệ mới thế hệ III+, giải đáp tin đồn.

Báo điện tử, Truyền hình, Truyền thông xã hội (Short-video, Infographic), Chatbot AI.

Cộng đồng dân cư vùng dự án (Khánh Hòa)

An toàn sinh kế, đền bù - tái định cư, tác động môi trường biển, cơ hội việc làm.

Đối thoại trực tiếp (Town hall meeting), Trung tâm Thông tin cộng đồng tại địa phương, Bản tin truyền thanh.

Trí thức, Học sinh - Sinh viên

Truyền thông khoa học, công nghệ hạt nhân, vai trò của khoa học trong phát triển bền vững.

Diễn đàn học thuật, Podcast, cuộc thi tìm hiểu khoa học, tham quan phòng thí nghiệm/mô hình.

Cơ quan quản lý và Doanh nghiệp

Hoạch định chính sách, tài chính dự án, chuỗi cung ứng công nghiệp phụ trợ.

Chuyên đề chuyên sâu, Báo cáo chính sách (Policy Brief), Hội thảo quốc tế.

(5) Cơ chế tiếp nhận, xử lý phản hồi và ứng phó khủng hoảng - Xử lý phản hồi ra sao?

Tiếp nhận phản hồi: Sử dụng công cụ lắng nghe mạng xã hội (Social Listening) ứng dụng AI để phân tích tâm lý dư luận theo thời gian thực. Tổ chức các diễn đàn hỏi - đáp trực tuyến định kỳ.

Bộ phận ứng phó khủng hoảng (Crisis Communication Taskforce): Khi xuất hiện tin giả, hoặc khủng hoảng truyền thông, Tổ điều phối kích hoạt quy trình 3 bước: (i) Xác minh dữ liệu từ Cơ quan pháp quy; (ii) Phát ngôn đính chính thống nhất trong vòng 2-4 giờ; (iii) Huy động lực lượng chuyên gia độc lập giải thích chuyên môn trên báo chí và mạng xã hội.

(6) Bộ tiêu chí đo lường hiệu quả truyền thông - Đo lường bằng tiêu chí nào?

Hiệu quả truyền thông được đánh giá định kỳ 6 tháng/lần dựa trên bộ chỉ số KPIs cụ thể:

Chỉ số nhận thức (Awareness Index): Tỷ lệ công chúng hiểu đúng về bản chất và vai trò của điện hạt nhân.

Chỉ số niềm tin (Trust Index): Tỷ lệ người dân tin tưởng vào tính minh bạch và năng lực quản lý an toàn của cơ quan pháp quy.

Chỉ số chấp nhận (Acceptance Rate): Tỷ lệ đồng thuận với việc triển khai dự án (đặc biệt tại vùng dự án Khánh Hòa).

Tỷ lệ xử lý tin giả (Misinformation Response Rate): Tỷ lệ và tốc độ đính chính, làm sạch các luồng thông tin sai lệch trên không gian mạng.

4.2. Lộ trình mô hình truyền thông theo các giai đoạn phát triển dự án:

Cần xây dựng khung truyền thông phân kỳ tương ứng với tiến độ triển khai chương trình điện hạt nhân quốc gia:

Giai đoạn chuẩn bị dự án: Nâng cao nhận thức và xây dựng hiểu biết cơ bản.

Trọng tâm: Tập trung truyền thông về nhu cầu năng lượng, vai trò của điện hạt nhân đối với an ninh năng lượng và cam kết Net Zero vào năm 2050.

Nhiệm vụ chính: Xây dựng Cổng thông tin điện hạt nhân quốc gia; công khai hệ thống chính sách, pháp luật và khuôn khổ pháp quy mới (Luật Năng lượng Nguyên tử số 94/2025/QH15); phổ biến rộng rãi kinh nghiệm quốc tế và triển khai các chương trình giáo dục khoa học cơ bản trong nhà trường và trên truyền thông đại chúng.

Giai đoạn xây dựng nhà máy: Minh bạch thông tin và tăng cường đối thoại cộng đồng.

Trọng tâm: Minh bạch hóa tiến độ, các quy chuẩn an toàn và tăng cường sự tham gia của các bên liên quan, đặc biệt là người dân tại khu vực dự án.

Nhiệm vụ chính: Định kỳ công bố thông tin về tiến độ thi công, công nghệ lò phản ứng và kết quả đánh giá tác động môi trường; thiết lập các Trung tâm thông tin cộng đồng tại địa phương; tổ chức các chương trình tham quan thực tế, đối thoại trực tiếp và công khai dữ liệu giám sát môi trường.

Giai đoạn chuẩn bị vận hành và vận hành thương mại: Duy trì niềm tin và đồng thuận lâu dài.

Trọng tâm: Khẳng định văn hóa an toàn và trách nhiệm xã hội.

Nhiệm vụ chính: Định kỳ công bố báo cáo an toàn hàng năm; phát sóng trực tiếp dữ liệu quan trắc bức xạ môi trường thời gian thực; truyền thông về những đóng góp thiết thực của dự án đối với phát triển kinh tế, xã hội địa phương; tổ chức khảo sát dư luận xã hội định kỳ để điều chỉnh chiến lược truyền thông.

Khung ứng phó khủng hoảng truyền thông: Chủ động, nhất quan và phản ứng nhanh.

Thiết lập Trung tâm truyền thông khẩn cấp với quy trình phát ngôn thống nhất; ứng dụng công nghệ để cảnh báo sớm các luồng tin giả, tin đồn thất thiệt trên mạng xã hội; xây dựng ngân hàng dữ liệu câu hỏi thường gặp (FAQ) và huy động lực lượng chuyên gia độc lập sẵn sàng giải thích các vấn đề kỹ thuật phức tạp khi có sự cố, hoặc dư luận phức tạp phát sinh.

4.3. Các nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông báo chí:

Để triển khai thành công mô hình trên, Hội đồng Khoa học Tạp chí Năng lượng Việt Nam đề xuất các nhóm giải pháp sau đây:

Thứ nhất: Xây dựng Chiến lược truyền thông điện hạt nhân quốc gia dài hạn: Cần ban hành một đề án/chiến lược truyền thông tổng thể cấp quốc gia do Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ chỉ đạo thực hiện. Chiến lược này phải bảo đảm sự nhất quán về thông điệp, phân công rõ vai trò giữa cơ quan quản lý, chủ đầu tư, cơ quan pháp quy và các cơ quan báo chí.

Thứ hai: Đổi mới nội dung: Chuyển từ truyền thông kỹ thuật, sang truyền thông lợi ích xã hội và con người: Nội dung truyền thông cần bám sát các mối quan tâm thực tế của công chúng. Thay vì lạm dụng các thuật ngữ chuyên môn khô khan, cần tập trung giải đáp rõ ràng các câu hỏi về tính an toàn, phương án xử lý chất thải phóng xạ, cơ chế ứng phó sự cố và những lợi ích thiết thực đối với môi trường, giá điện và đời sống cộng đồng. Tăng cường các câu chuyện truyền thông mang tính nhân văn về đội ngũ kỹ sư, nhà khoa học và sự đồng hành của cộng đồng địa phương.

Thứ ba: Chuyển đổi phương thức: Đẩy mạnh truyền thông đa nền tảng, đối thoại hai chiều và truyền thông dữ liệu: Xây dựng hệ sinh thái truyền thông đa phương tiện kết hợp báo in, báo điện tử, truyền hình, podcast, video ngắn và mạng xã hội. Đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm truyền thông trực quan như infographic, đồ họa tương tác, dashboard so sánh phát thải năng lượng. Tăng cường các hình thức đối thoại trực tiếp, tọa đàm trực tuyến và diễn đàn mở để lắng nghe và giải đáp thỏa đáng các e ngại của công chúng.

Thứ tư: Mở rộng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ số: Đầu tư phát triển các Chatbot AI hỏi - đáp tự động về điện hạt nhân 24/7 để phục vụ người dân; áp dụng AI trong việc theo dõi, phân tích xu hướng dư luận trên mạng xã hội theo thời gian thực nhằm phát hiện sớm tin giả; ứng dụng AI để đơn giản hóa các tài liệu chuyên môn thành các dạng nội dung dễ hiểu, hấp dẫn phục vụ báo chí tác nghiệp.

AI chỉ là công cụ hỗ trợ; nội dung liên quan đến an toàn, bức xạ, môi trường, sự cố và chính sách phải được chuyên gia, cơ quan có thẩm quyền kiểm chứng trước khi công bố. Chatbot cần vận hành trên kho dữ liệu chính thức, có trích dẫn nguồn, giới hạn phạm vi trả lời và cơ chế chuyển câu hỏi phức tạp cho người có trách nhiệm. Phân tích dư luận phải tuân thủ pháp luật về dữ liệu và không được đồng nhất ý kiến trên mạng xã hội với dư luận của toàn xã hội.

Thứ năm: Hình thành mạng lưới nhà báo chuyên sâu và kho dữ liệu mở về năng lượng nguyên tử: Tổ chức các khóa bồi dưỡng, tập huấn kiến thức chuyên ngành điện hạt nhân và truyền thông khoa học cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên báo chí. Xây dựng kho dữ liệu mở chính thống về điện hạt nhân để các cơ quan báo chí dễ dàng tiếp cận, khai thác và kiểm chứng thông tin một cách nhanh chóng, chính xác.

Thứ sáu: Tăng cường hợp tác quốc tế và chủ động khảo sát dư luận xã hội: Phối hợp chặt chẽ với IAEA và các quốc gia có kinh nghiệm (như Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, UAE) trong việc tiếp nhận tài liệu, mô hình và hỗ trợ kỹ thuật truyền thông. Định kỳ tổ chức các cuộc khảo sát dư luận xã hội độc lập nhằm đánh giá mức độ hiểu biết và niềm tin của công chúng, từ đó kịp thời đo lường và tối ưu hóa hiệu quả của các hoạt động truyền thông.

Kết luận:

Trong thế kỷ XXI, truyền thông điện hạt nhân không còn đơn thuần là hoạt động phổ biến thông tin, hay tuyên truyền một chiều, mà đã trở thành một công cụ quản trị rủi ro xã hội và là thành tố hạ tầng không thể tách rời của chương trình điện hạt nhân quốc gia. Khả năng truyền thông hiệu quả, minh bạch và chủ động đóng vai trò quyết định mức độ chấp nhận của công chúng đối với các dự án điện hạt nhân; đồng thời nâng cao khả năng chủ động ứng phó trước các khủng hoảng truyền thông trong kỷ nguyên số.

Kinh nghiệm quốc tế đã chứng minh rằng: Niềm tin của công chúng không thể được khởi tạo bằng sự áp đặt, hay các thông điệp tuyên truyền đơn thuần, mà phải được bồi đắp liên tục trên nền tảng minh bạch dữ liệu, đối thoại hai chiều rộng mở và dựa trên các bằng chứng khoa học đáng tin cậy.

Đối với Việt Nam, trong bối cảnh tái khởi động chương trình điện hạt nhân quốc gia, việc đổi mới sâu sắc công tác truyền thông báo chí có ý nghĩa chiến lược cấp thiết. Bằng việc chuyển dịch tư duy truyền thông - lấy người dân làm trung tâm, chú trọng giải đáp các lợi ích xã hội và văn hóa an toàn; đẩy mạnh truyền thông dữ liệu và đa nền tảng; tích cực ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI); đồng thời xây dựng một lộ trình truyền thông linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn phát triển dự án - Việt Nam sẽ tạo dựng được sự đồng thuận xã hội vững chắc, củng cố niềm tin công chúng dài hạn, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và thực hiện thành công cam kết phát triển bền vững trong những thập niên tới.

Tài liệu tham khảo:

[1] IAEA. NG-G-3.1 (Rev. 2, 2024) Milestones in the Development of a National Infrastructure for Nuclear Power.

[2] IAEA. NG-T-1.4 (2011) Stakeholder Involvement Throughout the Life Cycle of Nuclear Facilities.

[3] IAEA. NG-T-4.1 (2009) Issues to Improve the Prospects of Financing Nuclear Power Plant.

[4] Ban Tuyên giáo Trung ương. Hướng dẫn số 173-HD/BTGTW ngày 28/11/2024 Hướng dẫn tuyên truyền các nội dung trọng tâm của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

[5] Ban Tuyên giáo Trung ương. Hướng dẫn số 05-HD/BTGDVTW ngày 31/3/2025 Hướng dẫn tuyên truyền về chủ trương và nhiệm vụ phát triển điện hạt nhân.

[6] Ban Tuyên giáo Trung ương. Hướng dẫn số 05-HD/BTGDVTW ngày 30/01/2026 Hướng dẫn về việc thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dư luận xã hội trong tình hình mới”.

[7] Wüstenhagen et al. (2007) Các nghiên cứu về 3 cấp độ chấp nhận xã hội.

[8] Potential Energy Coalition. Báo cáo khảo sát “The World Wants New Nuclear” (2023).

HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Các bài mới đăng

Các bài đã đăng

[Xem thêm]
Phiên bản di động