Chia sẻ của Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam trước thềm năm mới - Xuân Bính Ngọ (2026)
04:52 | 24/01/2026
Mỗi độ Tết đến, Xuân về, người ta thường nói chuyện mở hàng, chuyện gieo quẻ đầu năm, chuyện nhìn lại năm cũ để mong một năm mới hanh thông hơn. Với ngành năng lượng - một lĩnh vực vốn quen với những con số khô khan và biểu đồ kỹ thuật - thì mùa Xuân lại là dịp hiếm hoi để nói những câu chuyện dài hơi hơn, nhẹ nhàng hơn, nhưng không kém phần quan trọng. Điện hạt nhân ở Việt Nam cũng vậy: Đây không chỉ là câu chuyện của công nghệ, của lò phản ứng, hay kilowatt-giờ, mà là câu chuyện của tầm nhìn, của niềm tin và của sự chuẩn bị cho tương lai. |
Được biết, Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam là một trong những đơn vị đầu tiên được Nhà nước giao nghiên cứu đề xuất phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam. Xin ông cho biết vài nét về thành tích của Viện trong lĩnh vực này?
TS. Trần Chí Thành: Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (Viện NLNTVN, hay VINATOM) là Viện nghiên cứu đặc biệt của Việt Nam về lĩnh vực năng lượng nguyên tử (NLNT). NLNT là lĩnh vực đưa khoa học - công nghệ hạt nhân (kỹ thuật hạt nhân, công nghệ bức xạ) vào ứng dụng trong các lĩnh vực, bao gồm trong y tế, nông nghiệp, công nghiệp và tài nguyên môi trường. Ứng dụng NLNT bao gồm ứng dụng phi điện và ứng dụng điện - chính là điện hạt nhân (ĐHN).
Theo lịch sử phát triển của ngành hạt nhân, ngay từ những năm 50 của thế kỷ trước, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã quan tâm đến phát triển điện hạt nhân (ĐHN). Tháng 7 năm 1955, trong chuyến thăm chính thức Liên Xô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm nhà máy điện nguyên tử đầu tiên của thế giới tại Obninsk (chỉ 1 năm sau khi nhà máy ĐHN đưa vào vận hành). Sau chuyến thăm này, Đảng và Nhà nước Việt Nam bắt đầu gửi các cán bộ xuất sắc sang Liên Xô học tập, nghiên cứu về vật lý hạt nhân tại Viện Nghiên cứu Hạt nhân Dubna và các trường đại học. Các thế hệ cán bộ ngành hạt nhân đầu tiên đã hình thành và đóng góp quan trọng cho sự phát triển của ngành hạt nhân Việt Nam sau đó. Điển hình là GS. Nguyễn Đình Tứ, GS. Nguyễn Văn Hiệu…
Viện NLNTVN được thành lập năm 1976, bắt đầu từ Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt với nền tảng là lò hạt nhân Đà Lạt được xây dựng từ những năm 60 của thế kỷ trước. Nhiệm vụ quan trọng đầu tiên của Viện NLNTVN là khôi phục và nâng cấp lò Đà Lạt với sự giúp đỡ của Liên Xô, đưa vào vận hành năm 1984. Ngành NLNT của Việt Nam được hình thành và phát triển từ nền tảng lò Đà Lạt với sự đóng góp của các thế hệ cán bộ nghiên cứu thời kỳ đó. Đảng và Nhà nước cũng giao nhiệm vụ nghiên cứu phát triển ĐHN cho Viện NLNTVN ngay từ những thời kỳ đầu mới thành lập, một số cán bộ được đào tạo theo chuyên ngành ĐHN ở Liên Xô cũng quay về Viện làm việc. Tuy nhiên, do sự cố Chernobyl xảy ra năm 1986, các kế hoạch về phát triển ĐHN ở Việt Nam bị dừng lại.
Từ 1996, nhiệm vụ phát triển ĐHN lại tiếp tục được nghiên cứu, bắt đầu từ tìm kiếm và lựa chọn địa điểm xây dựng nhà máy ĐHN. Viện NLNTVN cùng Viện Năng lượng (Bộ Công Thương) đã khảo sát tìm kiếm các địa điểm trên toàn quốc để đưa ra các địa điểm tiềm năng, theo các yêu cầu, quy định và phương pháp của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA). Từ năm 2002, Bộ Công Thương triển khai Nghiên cứu tiền khả thi (Pre-FS) và khảo sát đánh giá địa điểm. Nhiệm vụ được triển khai cùng với đội ngũ cán bộ của Viện NLNTVN. Các công nghệ ĐHN (lò nước áp lực - PWR, lò nước sôi - BWR, lò nước nặng - PHWR) được nghiên cứu, đánh giá về an toàn, cũng như được lựa chọn theo các tiêu chí đặt ra.
Năm 2009, Quốc hội Việt Nam phê duyệt 2 dự án ĐHN tại 2 địa điểm Ninh Thuận 1, Ninh Thuận 2, với công nghệ ưu tiên là lò nước áp lực (PWR) và lò nước sôi (BWR).
Năm 2010, Việt Nam ký Hiệp định triển khai ĐHN với Liên bang Nga và Nhật Bản. Hợp đồng Nghiên cứu khả thi (FS) và Hồ sơ địa điểm (SAD) được ký với các đối tác năm 2011.
Từ 2010-2016, Viện NLNTVN triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu về công nghệ và an toàn cho 2 dự án Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2. Viện đã xây dựng Bộ tiêu chí lựa chọn công nghệ cho 2 dự án ĐHN, đề xuất lựa chọn công nghệ (thiết kế) cho 2 dự án; đồng thời nghiên cứu đánh giá kỹ về an toàn của một số thiết kế tiên tiến (như VVER1200, AP1000).
Từ 2016-2024, mặc dù chương trình ĐHN dừng lại, không có nhiệm vụ nào liên quan được triển khai, tuy nhiên Viện NLNTVN vẫn tiếp tục xây dựng năng lực về công nghệ và an toàn ĐHN, nghiên cứu về các công nghệ tiên tiến thế hệ III+, cũng như nghiên cứu công nghệ lò mô đun nhỏ (SMR) trong vài năm gần đây. Có 3 nhóm nghiên cứu tại Viện NLNTVN triển khai các nhiệm vụ liên quan ĐHN - công nghệ, phân tích đánh giá an toàn (nhiệm vụ cấp cơ sở, cấp Bộ và hợp tác quốc tế với đối tác), trong đó 2 nhóm tại Hà Nội và 1 nhóm tại Đà Lạt.
Từ cuối năm 2024, khi chương trình ĐHN được khởi động trở lại, Viện NLNTVN xác định rõ nhiệm vụ nghiên cứu về công nghệ, thiết kế tiên tiến, cũng như phân tích đánh giá an toàn ĐHN. Viện tập trung đẩy mạnh đào tạo nhân lực, xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu đàn, xây dựng các đề án, nhiệm vụ lớn liên quan đến công nghệ, thiết kế ĐHN và phân tích, đánh giá an toàn các nhà máy ĐHN dùng lò công suất lớn (khoảng 1.000 MWe) để hỗ trợ cho dự án ĐHN Ninh Thuận, cũng như triển khai tích cực việc nghiên cứu thiết kế SMR để triển khai tại Việt Nam trong tương lai.
![]() |
| TS. Trần Chí Thành - Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam. Ảnh: TTTT. |
Xin ông cho biết suy nghĩ của mình về chương trình điện hạt nhân của Việt Nam. Theo ông, yếu tố nào là quan trọng cho thành công của các dự án điện hạt nhân tại Ninh Thuận nói riêng và chương trình điện hạt nhân dài hạn của Việt Nam nói chung?
TS. Trần Chí Thành: Hiện nay việc phát triển ĐHN là xu thế của nhiều nước trên thế giới. ĐHN là nguồn điện công suất lớn, ổn định, không phát thải CO2, phù hợp với yêu cầu phát triển hiện nay của thế giới (đảm bảo an ninh năng lượng, chuyển đổi năng lượng xanh, phù hợp cho công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn v.v...). Việc Việt Nam quay trở lại với chương trình phát triển ĐHN là quyết định đúng đắn của Đảng, Nhà nước, nhằm đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới mạnh mẽ, với nền tảng khoa học và công nghệ. Tôi tin tưởng rằng, Việt Nam sẽ triển khai thành công chương trình phát triển ĐHN.
Đối với các dự án ĐHN tại Ninh Thuận và chương trình phát triển ĐHN nói chung, vấn đề nhân lực là quan trọng nhất. Việt Nam cần có chỉ đạo tập trung cho việc phát triển ĐHN và chú trọng đào tạo nhân lực (bằng nhiều cách). Nhân lực hạt nhân phải được tập trung và phát triển trong một kế hoạch triển khai ĐHN tổng thể, thống nhất do Chính phủ chỉ đạo. Theo tôi, ĐHN không thể phát triển theo cách “trăm hoa đua nở”, vì ĐHN là lĩnh vực được xây dựng và phát triển trên nhiều nền tảng quan trọng, được xây dựng trong thời gian dài (theo kinh nghiệm các nước). Chương trình ĐHN phải bao gồm các nhà máy ĐHN (các chủ đầu tư) được triển khai xây dựng theo một quy trình đầy đủ, chặt chẽ (chất lượng cao nhất), có sự tư vấn, giám sát quốc tế; cùng hệ thống pháp quy hạt nhân đầy đủ và cơ quan quản lý, giám sát về an toàn có đủ năng lực; và chương trình nghiên cứu (R&D) dài hạn luôn luôn hỗ trợ, hướng tới các vấn đề khoa học, phát triển của ĐHN. Trong mọi khâu của 3 trụ cột này, nhân lực là yếu tố quan trọng nhất (nhân lực kỹ thuật và quản lý). Phải có nhân lực đáp ứng tốt trong một tổng thể phát triển và thống nhất.
Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam được giao là tổ chức hỗ trợ kỹ thuật cho phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam. Xin ông cho biết cụ thể nhiệm vụ đó là gì? Viện đã chuẩn bị như thế nào để thực hiện được nhiệm vụ đó?
TS. Trần Chí Thành: Hiện nay Viện NLNTVN là đơn vị nghiên cứu về công nghệ và an toàn ĐHN. Tập trung của Viện là đội ngũ cán bộ nghiên cứu về công nghệ, thiết kế ĐHN tiên tiến và phân tích, đánh giá an toàn của các thiết kế đó.
Như đã nêu trên, Viện NLNTVN có nhiều nhóm nghiên cứu về công nghệ và an toàn hạt nhân (tập trung về động học neutron, thuỷ nhiệt, an toàn), việc hình thành các nhóm nghiên cứu là một quá trình phát triển lâu dài theo lịch sử.
Ngoài các nhóm nghiên cứu này, các nhóm khác liên quan cũng quan trọng cho chương trình phát triển ĐHN như:
- Nhóm về vật lý hạt nhân (khoa học nền tảng cho phát triển ĐHN).
- Các nhóm về an toàn bức xạ.
- Nhóm về đánh giá kiểm tra không phá huỷ liên quan đến thiết bị, công trình và môi trường bức xạ.
- Nhóm về nhiên liệu hạt nhân (Uranium) - nội dung quan trọng cho phát triển ĐHN bền vững.
- Nhóm về vật liệu hạt nhân (thép, hợp kim, tương tác bức xạ...).
- Nhóm về xử lý hoá học (xử lý nước cho nhà máy ĐHN).
- Nhóm về điều khiển lò, điều khiển tự động.
- Nhóm về xử lý và quản lý chất thải phóng xạ.
- Nhóm về chế tạo thiết bị ghi đo bức xạ.
- Nhóm về quan trắc phóng xạ và mô phỏng phát tán phóng xạ…
Tất cả các nhóm nêu trên là nền tảng để phát triển ĐHN bền vững.
Về nhiệm vụ Hỗ trợ kỹ thuật (TSO). Đây là nhiệm vụ mới hiện nay Bộ KHCN giao cho Viện triển khai để hỗ trợ cơ quan pháp quy hạt nhân. Về nguyên tắc, đơn vị hỗ trợ kỹ thuật cho cơ quan pháp quy hạt nhân có thể là bất kỳ cơ quan nghiên cứu nào đó trong nước, có đủ năng lực (viện nghiên cứu, trường đại học). Đơn vị này phải độc lập với các tư vấn cho các chủ đầu tư. Trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam chưa có tổ chức nghiên cứu có đầy đủ năng lực để thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ kỹ thuật (do ĐHN dừng từ 2016-2024), Viện NLNTVN sẵn sàng nhận nhiệm vụ xây dựng TSO cho cơ quan pháp quy. Viện sẽ giao cho một đơn vị trực thuộc thực hiện nhiệm vụ này, phối hợp với Cục An toàn Bức xạ Hạt nhân (VARANS) xây dựng năng lực, cũng như để bảo đảm tính độc lập với các tư vấn hỗ trợ khác cho các chủ đầu tư. Tuy nhiên, tôi cũng hy vọng trong tương lai, sẽ có thêm các tổ chức nghiên cứu khác có năng lực hỗ trợ kỹ thuật cho cơ quan pháp quy hạt nhân (nếu các tổ chức nghiên cứu khác tập trung xây dựng năng lực đáp ứng yêu cầu).
EVN được giao triển khai dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1, PVN được giao triển khai dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 2. Xin ông cho biết, Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam đang có hợp tác cụ thể và dài hạn gì với 2 tập đoàn này?
TS. Trần Chí Thành: Hiện nay Viện NLNTVN đang có trao đổi tích cực và hợp tác với 2 đơn vị chủ đầu tư Ninh Thuận 1, Ninh Thuận 2 là Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN).
Với EVN - đơn vị truyền thống hợp tác với Viện NLNTVN trong giai đoạn trước (2010-2016), Viện gặp và trao đổi với Ban QLDA ĐHN của EVN về các nhiệm vụ sắp tới triển khai liên quan Ninh Thuận 1, bao gồm đánh giá địa điểm, nghiên cứu công nghệ, thiết kế của ROSATOM (VVER1200), sẽ cùng nhau nghiên cứu đánh giá an toàn của thiết kế này. Viện sẵn sàng cử cán bộ và chuyên gia cùng làm việc với EVN (Ban QLDA) về các nhiệm vụ liên quan. Viện đang nỗ lực tìm kiếm khả năng đào tạo nhân lực đánh giá thẩm định an toàn liên quan đến công nghệ/thiết kế của Nga.
Vấn đề hiện nay ở chỗ, các cán bộ nghiên cứu Việt Nam chưa được tiếp cận với các Codes tính toán, phân tích an toàn, mô phỏng sự cố của Liên bang Nga (từ trước đến nay chủ yếu tiếp cận và sử dụng Codes của phương Tây). Nhiệm vụ này không những liên quan đến dự án Ninh Thuận 1, mà còn liên quan đến dự án Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Công nghệ hạt nhân (CNST) với lò hạt nhân nghiên cứu mới (10-15 MWt) hợp tác với ROSATOM.
Với PVN, Viện đã triển khai một số hợp tác để giới thiệu về ngành hạt nhân và khoá đào tạo cơ bản về hạt nhân. Sắp tới, Viện và PVN sẽ cùng nhau hợp tác triển khai các khóa đào tạo mới chuyên sâu hơn, cũng như tư vấn về công nghệ/thiết kế ĐHN và đánh giá an toàn ĐHN. Một số nhiệm vụ sẽ rõ hơn sau khi PVN xác định đối tác hợp tác triển khai Ninh Thuận 2. Một số nhiệm vụ khác như nghiên cứu về xử lý, quản lý chất thải phóng xạ, chương trình nội địa hóa thiết bị hạt nhân.. cũng đang được trao đổi và hy vọng sẽ triển khai trong thời gian tới.
Viện NLNTVN cũng mời PVN tham gia hỗ trợ, tư vấn, triển khai dự án CNST tại Đồng Nai. Việc tham gia cùng Viện trong triển khai dự án này sẽ giúp PVN có thêm nhiều kinh nghiệm triển khai dự án hạt nhân.
Quốc hội và Chính phủ chủ trương cho phép tư nhân tham gia xây dựng nhà máy điện hạt nhân quy mô nhỏ SMR. Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam có định hướng gì về phát triển SMR ở Việt Nam? Và nếu có đề nghị từ doanh nghiệp, thì Viện có thể hỗ trợ họ như thế nào, thưa ông?
TS. Trần Chí Thành: SMR là xu hướng công nghệ có nhiều triển vọng trong tương lai của ngành ĐHN thế giới. Viện NLNTVN trong những năm gần đây cũng đã có định hướng và nghiên cứu về SMR, trên cơ sở hợp tác với IAEA và một số nước có thiết kế SMR.
Hiện nay, Viện NLNTVN đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện kế hoạch để triển khai nhiệm vụ, đề án liên quan đến SMR. Tuy nhiên, cần chú ý rằng, SMR là công nghệ mới nhiều triển vọng, nhưng chưa được kiểm chứng và thương mại hóa trên thế giới. Các nước đi đầu về SMR hiện nay đều là những nước có ngành ĐHN phát triển (đã phát triển ĐHN ở quy mô công nghiệp, với các lò công suất lớn). Đối với các nước này, để phát triển một thiết kế và có thể đưa ra triển khai công nghiệp, họ cũng đã đầu tư đáng kể với thời gian 10-15 năm.
Về quá trình triển khai có thể tóm tắt như sau:
Giai đoạn 1: Cần xây dựng kế hoạch phát triển SMR đúng đắn dựa trên kinh nghiệm quốc tế, năng lực nội tại và hợp tác quốc tế. Tiếp theo là cần đưa ra thiết kế của Việt Nam, có tính đến nhiều yếu tố liên quan như bảo đảm an toàn, tính khả thi, hiệu quả, chu trình nhiên liệu, xử lý chất thải v.v... Tiếp theo là hoàn thiện thiết kế, đưa ra thiết kế cơ sở và thực hiện tính toán phân tích an toàn, xin cấp phép của cơ quan pháp quy hạt nhân, cũng như chứng chỉ đánh giá an toàn của IAEA (đáp ứng các quy định chung về an toàn).
Giai đoạn 2: Triển khai thực tế. Việc triển khai thực tế cần có sự đồng hành của doanh nghiệp (Nhà nước, tư nhân), trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính an toàn, kinh tế và khả năng triển khai, năng lực chế tạo thiết bị trong nước v.v... Rất nhiều nhiệm vụ đặt ra, nhiều thách thức để có thể thực hiện thành công phát triển SMR tại Việt Nam.
Trong trường hợp nhập khẩu công nghệ SMR từ đối tác, nhiệm vụ triển khai sẽ khác so với trên. Và phụ thuộc nhiều vào đối tác của chúng ta. Việt Nam có thể cùng đối tác triển khai SMR hiệu quả tại Việt Nam, cũng như từng bước tham gia vào chuỗi cung cấp thiết bị cho SMR (bắt đầu từ thiết bị phụ trợ).
Nếu có đề nghị hợp tác từ doanh nghiệp, Viện sẵn sàng hợp tác. Tuy nhiên, mọi việc sẽ bắt đầu từ nghiên cứu công nghệ, thiết kế, phân tích và đánh giá an toàn. Sau đó là khả năng triển khai thực tế dựa trên năng lực về triển khai dự án hạt nhân, quản lý dự án, sản xuất thiết bị, chế tạo công nghiệp... của Việt Nam.
Hiện nay, có nhiều chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài có nguyện vọng tham gia phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam. Theo ông, Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam có kế hoạch mời họ tham gia cùng thực hiện các nhiệm vụ của Viện liên quan đến điện hạt nhân hay không? Thuận lợi và khó khăn của việc đó là gì?
TS. Trần Chí Thành: Như ở trên đã trao đổi, nguồn nhân lực, đội ngũ cán bộ đầu đàn, hiểu sâu chuyên môn là rất quan trọng để Việt Nam triển khai thành công chương trình ĐHN (Vietnam Nuclear Power Program - VNPP). Viện NLNTVN luôn luôn có mong muốn thu hút tuyển dụng được đội ngũ cán bộ giỏi chuyên môn về làm việc, hoặc đội ngũ cán bộ trẻ có năng lực về đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực ĐHN (đào tạo đội ngũ cán bộ đầu đàn). Tuy nhiên, việc triển khai tuỳ thuộc vào cơ chế của Nhà nước cho phép và nguồn kinh phí để thu hút, giữ đội ngũ cán bộ giỏi ở lại nghiên cứu. Cho đến thời điểm hiện nay thì Viện NLNTVN cũng chưa có kế hoạch cụ thể việc mời chuyên gia, cán bộ nghiên cứu giỏi tham gia các nhiệm vụ của Viện. Với một số nhiệm vụ nhỏ đang được triển khai (trong khuôn khổ cơ chế cho phép), Viện vẫn mời và hợp tác với một số cán bộ chuyên môn giỏi của các đơn vị khác trong nước. Việc mời cán bộ chuyên gia nước ngoài về làm việc cần kinh phí lớn, và cũng tùy thuộc vào nhiệm vụ gì đang được triển khai thực hiện. Chúng ta cũng chỉ mới bắt đầu triển khai chương trình phát triển ĐHN.
Có thể thấy rằng, đối với Viện NLNTVN - một đơn vị sự nghiệp khoa học, việc thu hút cán bộ, mời cán bộ chuyên môn giỏi về làm việc… đang khó khăn do thiếu cơ chế thu hút, cơ chế, quy định tài chính hiện hành chưa cho phép, cũng như nguồn kinh phí hiện nay đang hạn hẹp và lương thấp. Bản thân tôi cũng rất khó khăn để giữ đội ngũ cán bộ giỏi khi một số đơn vị khác mời và thu hút tuyển dụng cán bộ bằng việc trả lương cao.
Tôi cũng hy vọng, sắp tới các khó khăn này sẽ được sớm giải quyết để thúc đẩy khoa học - công nghệ, theo đúng tinh thần định hướng của Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Vâng, xin cảm ơn Viện trưởng./.
BBT TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

