Dầu khí

Ngành Dầu khí Việt Nam trước thách thức an ninh năng lượng quốc gia

12:00 |23/01/2013

 - 

Ngày nay, vị thế và vai trò của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đã được khẳng định ở tầm cao mới. Hệ thống công nghiệp dầu khí đã cơ bản hoàn chỉnh, đồng bộ từ khâu: tìm kiếm thăm dò, khai thác - phát triển công nghiệp khí - điện - chế biến và dịch vụ dầu khí. Hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, hàng năm đóng góp trung bình 25-30% tổng thu ngân sách nhà nước... Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, ngành Dầu khí Việt Nam đang đứng trước nhiều khó khăn thách thức lớn: sản lượng khai thác dầu khí bắt đầu sụt giảm, các mỏ mới chưa thể sớm đưa vào khai thác, sự can thiệp của nước ngoài ở Biển Đông còn nhiều phức tạp, việc tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí ở nước ngoài ngày càng khó khăn... Đề cập tới những thành quả đạt được, cơ hội, thách thức đặt ra và mục tiêu nhiệm vụ trong những năm sắp tới, Tổng giám đốc Petrovietnam Đỗ Văn Hậu có bài viết dành riêng cho NangluongVietnam.  

>> Petrovietnam hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2012
>> Khẳng định vị thế của ngành Dầu khí Việt Nam trên trường quốc tế
>> Petrovietnam khẳng định vai trò tập đoàn kinh tế mạnh
>> Ba giải pháp thực hiện Chiến lược phát triển ngành Dầu khí Việt Nam đến năm 2020
>> Một số mục tiêu và giải pháp tái cơ cấu Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
>> Hiện trạng và quy hoạch phát triển nguồn dầu, khí

TS. ĐỖ VĂN HẬU, Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam

Vị trí, vai trò của Petrovietnam đối với nền kinh tế, an ninh biển đảo của đất nước

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo sâu sát và quyết liệt của Chính phủ, của các Bộ/ngành Trung ương và sự ủng hộ, hỗ trợ tích cực các địa phương... Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã luôn ý thức được vị trí và trách nhiệm của mình trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đã nỗ lực cố gắng vượt qua những khó khăn, thách thức để thực hiện tốt mọi nhiệm vụ được giao, tập trung xây dựng và phát triển ngành Dầu khí Việt Nam trở thành ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng đất nước, có nhiều đóng góp to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

Vị thế và vai trò của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã được khẳng định ở tầm cao mới, kể cả ở trong nước và ở nước ngoài. Petrovietnam đã xây dựng được hệ thống công nghiệp dầu khí hoàn chỉnh, đồng bộ từ khâu: tìm kiếm thăm dò, khai thác - phát triển công nghiệp khí - điện - chế biến và dịch vụ dầu khí. Hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, hàng năm đóng góp trung bình 25-30% tổng thu ngân sách nhà nước.

Tổng giám đốc Petrovietnam Đỗ Văn Hậu phát biểu tại lễ khánh thành Cụm dự án khí - điện - đạm Cà Mau

Từ kết quả triển khai đầu tư các công trình dầu khí của Tập đoàn thời gian qua đã hình thành nên các khu công nghiệp tập trung tại: Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Cà Mau, Dung Quất (Quảng Ngãi), Đà Nẵng, Nghi Sơn (Thanh Hoá)...

Ngoài việc, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an ninh năng lượng cho đất nước thông qua các sản phẩm của Tập đoàn như: khí, điện, đạm, xăng dầu…, việc đưa vào vận hành các dự án trên đã thu hút nhiều doanh nghiệp kinh tế khác trong nước cùng phát triển; thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tăng ngân sách, giải quyết nhiều việc làm cho lao động ở các địa phương và các vùng lận cận nơi Petrovietnam triển khai dự án.

Song song với việc thực hiện các nhiệm vụ SXKD, Petrovietnam luôn chủ động tổ chức thực hiện kịp thời các chủ trương của Đảng và Chính phủ đối phó với những biến động phức tạp của nền kinh tế đất nước. Đặc biệt, từ cuối năm 2007 đến nay, tình hình lạm phát/giảm phát luôn có những diễn biến phức tạp, Tập đoàn đã triển khai xây dựng và tổ chức các Chương trình hành động phù hợp với thực tế ở từng thời điểm để cùng cả nước vượt qua những khó khăn, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội.

Bên cạnh đó, Tập đoàn đã luôn phối hợp chặt chẽ với Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Bộ Công An và các Bộ/ngành liên quan khác trong việc triển khai các nhiệm vụ trên Biển Đông và hải đảo; phối hợp với Bộ Ngoại giao hoàn thành báo cáo Quốc gia về ranh giới ngoài thềm lục địa Việt Nam để trình Ủy ban thềm lục địa Liên hợp quốc; phối hợp với Bộ tư lệnh Hải quân triển khai dự án xây lắp, sửa chữa và nâng cấp các công trình dầu khí trong khu vực quần đảo Trường Sa, xây dựng hệ thống chiếu sáng, dự án sản xuất năng lượng sạch và nước sạch tại quần đảo Trường Sa; tự tổ chức khảo sát địa chấn trên thềm lục địa Việt Nam - trước đây chúng ta phải thuê các tàu nước ngoài thực hiện.

Petrovietnam đã xây dựng được hệ thống công nghiệp dầu khí hoàn chỉnh, đồng bộ từ khâu: tìm kiếm thăm dò, khai thác - phát triển công nghiệp khí - điện - chế biến và dịch vụ dầu khí. Hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, hàng năm đóng góp trung bình 25-30% tổng thu ngân sách nhà nước.

Năm lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính: Cơ hội và thách thức

Định hướng phát triển của Petrovietnam trong những năm tới là tập trung phát triển vào 5 lĩnh vực kinh doanh chính: thăm dò-khai thác dầu khí, lọc hóa dầu, công nghiệp khí, công nghiệp điện và dịch vụ kỹ thuật dầu khí chất lượng cao, trong đó lĩnh vực tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí là cốt lõi.

Mục tiêu phát triển cụ thể: phấn đấu giai đoạn 2011-2020 gia tăng trữ lượng dầu khí đạt 35-45 triệu tấn quy dầu/năm; khai thác dầu khí đến năm 2015 đạt 31 triệu tấn quy dầu/năm và đến năm 2020 đạt 44 triệu tấn quy dầu/năm; công suất lọc dầu đạt 16-20 triệu tấn/năm vào năm 2020 và 30 triệu tấn/năm vào năm 2030; Cung cấp khí cho tiêu thụ công nghiệp và dân sinh trong nước đạt khoảng 14 tỷ m3/năm vào năm 2015, 18-20 tỷ m3 vào năm 2020; Phấn đấu đến năm 2015 tổng công suất các nhà máy điện của Tập đoàn là trên 4.800 MW; đến năm 2020 là 11.000 MW; Đến năm 2020 đáp ứng 60-70% nhu cầu dịch vụ dầu khí trong nước...

Để thực hiện thành công các mục tiêu phát triển của 5 lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính của Tập đoàn nêu trên, dự báo trong thời gian tới Tập đoàn sẽ gặp những cơ hội và thách thức như sau:

Cơ hội:

Mộ là: Sự ổn định của đất nước và uy tín của Việt Nam nói chung, cũng như của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam nói riêng trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao là điều kiện rất quan trọng để Petrovietnam có thể huy động mọi nguồn lực cả trong và ngoài nước cho sự phát triển nhanh, bền vững.

Hai là: Bộ máy lãnh đạo Tập đoàn đoàn kết tốt, có uy tín cao, năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

Ba là: Tập đoàn đã tích luỹ thêm được nhiều kinh nghiệm về quản lý và điều hành; bổ sung được nhiều cán bộ trẻ có năng lực; đội ngũ cán bộ và công nhân kỹ thuật đã có nhiều kinh nghiệm từ việc thực hiện đầu tư, vận hành các dự án/công trình lớn, công nghệ cao.

Bốn là: Sau hơn 6 năm trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), việc mở rộng các hợp tác song phương của Việt Nam sẽ tạo thêm môi trường và thị trường cho Petrovietnam mở rộng sản xuất, xuất khẩu.

Năm là: Vấn đề an ninh năng lượng của các quốc gia và lợi nhuận cao từ hoạt động dầu khí mang lại sẽ tiếp tục thu hút đầu tư vào lĩnh vực dầu khí từ khâu thượng nguồn tới trung nguồn, hạ nguồn và dịch vụ - thương mại v.v...

Thách thức:

Thứ nhất: Ở trong nước, từ năm 2013 - 2015 nhiều cam kết WTO đến thời hạn thực thi, nhất là các cam kết về mở cửa lĩnh vực dịch vụ, tài chính, bán lẻ... tạo ra thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp trong nước, trong đó có Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.

Thứ hai: Trong thời gian tới, hàng loạt các dự án lớn, có mức đầu tư cao của Petrovietnam trong giai đoạn triển khai thực hiện, nên sức ép về thu xếp vốn là rất lớn. Bên cạnh đó, tiềm năng dầu khí trong nước có hạn, sự can thiệp của nước ngoài ở Biển Đông còn nhiều phức tạp; việc tìm kiếm, triển khai các dự án tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí ở nước ngoài ngày càng khó khăn, do phải cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn/công ty dầu khí trên thế giới.

Thứ ba: Giá cả của nhiều loại thiết bị, vật tư, nhiên liệu chủ yếu và dịch vụ liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư có những diễn biến phức tạp sẽ gây áp lực đến chi phí và mặt bằng giá trong nước, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư, cũng như khả năng cạnh tranh của các đơn vị trong Petrovietnam.

Thứ tư: Hệ thống các cơ chế, chính sách của Nhà nước liên quan đến hoạt động của các tập đoàn kinh tế còn tiếp tục hoàn chỉnh, Petrovietnam sẽ không tránh khỏi sự cạnh tranh giữa sản phẩm sản xuất từ công nghệ hiện đại (rõ nét nhất là sản phẩm điện, đạm) với sản phẩm được sản xuất từ công nghệ cũ, với chất lượng thấp và giá thành sản phẩm rẻ.

Petrovietnam sẽ đầu tư tăng công suất lọc dầu và công suất sản xuất nhiên liệu sinh học với mục tiêu đáp ứng khoảng 80% nhu cầu sản phẩm xăng dầu trong nước.

Nghiên cứu, sử dụng và nhập khẩu LNGphục vụ nhu cầu sản xuất điện

Năng lượng có vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Nhận thức rõ tầm quan trọng, Chính phủ đã xây dựng chiến lược phát triển các ngành năng lượng, trong đó có Tổng sơ đồ điện VII, làm cơ sở để phát triển các nguồn điện, cũng như các nguồn năng lượng sơ cấp cho phù hợp với các kịch bản phát triển kinh tế Việt Nam. Theo Tổng sơ đồ điện VII, cơ cấu các nguồn phát điện từ nay đến năm 2020, có xét đến năm 2030 của Việt Nam dự kiến như sau:

Đến năm 2020: Tổng công suất các nhà máy điện khoảng 75.000MW, trong đó: thuỷ điện chiếm 23,1%; thuỷ điện tích năng: 2,4%; nhiệt điện than: 48%; nhiệt điện khí đốt: 16,5% (trong đó sử dụng khí hóa lỏng - LNG 2,6%); nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo 5,6%; điện hạt nhân 1,3% và nhập khẩu điện 3,1%.

Định hướng đến năm 2030: Tổng công suất các nhà máy điện khoảng 146.800MW, trong đó: thuỷ điện chiếm 11,8%, thuỷ điện tích năng: 3,9%; nhiệt điện than: 51,6%; nhiệt điện khí đốt: 11,8% (trong đó sử dụng LNG 4,1%); nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo 9,4%; điện hạt nhân 6,6% và nhập khẩu điện 4,9%.

Xem xét cơ cấu năng lượng này, trong bối cảnh thu xếp nguồn than nhập khẩu cho các dự án điện triển khai hiện nay đã gặp rất nhiều khó khăn - cho thấy vấn đề nhập khẩu khối lượng than lớn (trên 100 triệu tấn/năm vào năm 2030) là một thách thức không nhỏ. Vì vậy, chủ trương nhập khẩu khí hoá lỏng để phục vụ nhu cầu sản xuất điện trong nước của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam là cần thiết, trước hết nhằm đảm cơ cấu nhiệt điện chạy LNG như Chính phủ đã đề ra, sau đó có thể xem đây giải pháp bổ sung/thay thế nhằm giảm thiểu và hạn chế các rủi ro do phụ thuộc quá lớn vào nguồn than nhập khẩu.

Chủ trương này là phù hợp với quy hoạch phát triển ngành Công nghiệp khí Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, phù hợp với quan điểm phát triển bền vững, thông qua việc đa dạng hóa nguồn nhiên liệu sử dụng cho phát điện, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và gia tăng tỷ lệ các nguồn năng lượng thân thiện với môi trường.

Ngoài ra, việc triển khai dự án còn cho phép Việt Nam có thể từng bước sớm tham gia vào thị trường mua bán khí thế giới, đảm bảo khả năng thu xếp nguồn cung khí dài hạn và ổn định cho thị trường.

Thực hiện chủ trương này, ngay từ năm 2010, Petrovietnam đã chỉ đạo Tổng Công ty khí Việt Nam (PVGas) phối hợp với các bộ, ngành liên quan lập các báo liên quan bao gồm: báo cáo lựa chọn địa điểm, báo cáo chuỗi khí điện Sơn Mỹ, báo cáo tiền khả thi dự án kho và cảng nhập LNG, nghiên cứu về nguồn cung LNG v.v… Qua nghiên cứu cho thấy, để nhập khẩu được LNG phục vụ nhu cầu sản xuất điện cần triển khai đồng bộ chuỗi dự án các dự khí - điện, bao gồm: dự án kho cảng nhập LNG, Trung tâm điện lực, Hệ thống truyền tải điện, Hệ thống đường ống khí… Song song với những công việc trên, việc thu xếp nguồn cung cấp LNG với khối lượng lớn trong thời gian dài hạn cũng sẽ là một thách thức không nhỏ cho tổng thể các dự án.

Nhận thức được tính quy mô và phức tạp, cũng như các yêu cầu về mối liên quan chặt chẽ, ràng buộc và đồng bộ với nhau của tổng thể các dự án, trong thời gian qua Petrovietnam đã chủ động phối hợp với Bộ Công Thương (đơn vị chủ trì ) cùng với các chủ đầu tư khác (trung tâm nhiệt điện và đường dây truyền tải), lập và báo cáo Chính phủ phê duyệt Đề án nhập khẩu đưa LNG vào sử dụng tại Việt Nam.

Về giá thành LNG, theo ước tính của Bộ Công Thương, năm 2015 là 15,4 USD/triệu BTU, năm 2020 là 16,4 USD/triệu BTU, đến năm 2030 là 17,6USD/triệu BTU, dự báo giá LNG còn tiếp tục tăng trong tương lai. Do vậy, trong quá trình triển khai dự án cần đánh giá thêm về rủi ro giá nhập khẩu LNG gắn với thời gian hoạt động của dự án trung tâm điện - khí để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả đầu tư của dự án.

Qua nghiên cứu cho thấy, để nhập khẩu được LNG phục vụ nhu cầu sản xuất điện cần triển khai đồng bộ chuỗi dự án các dự khí - điện, bao gồm: dự án kho cảng nhập LNG, Trung tâm điện lực, Hệ thống truyền tải điện, Hệ thống đường ống khí…

Định hướng phát triển trong năm 2013 và những năm tới

Năm 2013, dự báo kinh tế thế giới tiếp tục khó khăn, diễn biến phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro; thương mại toàn cầu phục hồi chậm. Ở trong nước, bên cạnh những kết quả đạt được, nền kinh tế vẫn còn rất nhiều khó khăn. Để góp phần quan trọng cùng cả nước vượt qua những khó khăn, thách thức, nâng cao chất lượng tăng trưởng gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, đi đôi với việc tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm nền kinh tế phát triển bền vững và thực hiện thành công các mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011- 2015 và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011- 2020 của đất nước... trong năm 2013, Tập đoàn sẽ tập trung mọi nguồn lực, thực hiện đồng bộ các giải pháp để phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu, nhiệm vụ Chính phủ giao.

Cụ thể: gia tăng trữ lượng dầu khí 35-40 triệu tấn qui dầu; tổng sản lượng khai thác dầu khí là 25,20 triệu tấn quy dầu (trong đó, khai thác dầu thô là 16,0 triệu tấn, khai thác khí là 9,20 tỷ m3); vận hành an toàn và hiệu quả Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Nhà máy Đạm Phú Mỹ, Nhà máy Đạm Cà Mau, Nhà máy chế biến Condensate Dinh Cố, Nhà máy Polypropylen Dung Quất, các nhà máy điện Cà Mau 1, 2, Nhơn Trạch 1, 2, phấn đấu: sản xuất đạm là 1,52 triệu tấn, sản xuất xăng dầu các loại là 5,67 triệu tấn, sản xuất điện là 13,85 tỷ kWh.

Để đảm bảo phát triển bền vững cho những năm tiếp theo, Petrovietnam đã xây dựng và xác định mục tiêu phát triển đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 của như sau:

Mục tiêu tổng quát là: "Xây dựng Petrovietnam trở thành Tập đoàn kinh tế mạnh của Việt Nam và khu vực, góp phần quan trọng trong thực hiện vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước".

Các mục tiêu cụ thể:

Một là: Về tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí: Gia tăng trữ lượng giai đoạn 2011-2020 là 35-45 triệu tấn quy dầu/năm, giai đoạn 2021-2030 là 35-45 triệu tấn qui dầu/năm. Khai thác dầu khí đến năm 2020 đạt 44 triệu tấn quy dầu/năm, đến năm 2030 duy trì ổn định mức 44 triệu tấn.

Hai là: Về chế biến và phân phối sản phẩm dầu khí: Đầu tư duy trì công suất lọc dầu và công suất sản xuất nhiên liệu sinh học để tổng công suất lọc dầu và công suất sản xuất nhiên liệu sinh học của Petrovietnam đáp ứng khoảng 80% nhu cầu sản phẩm xăng dầu trong nước. Nâng cấp Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, xây dựng các Nhà máy Lọc dầu Nghi Sơn, Long Sơn. Công suất lọc dầu đạt 16-20 triệu tấn/năm vào năm 2020 và 30 triệu tấn/năm vào năm 2030. Tập trung xây dựng các tổ hợp hoá dầu kết hợp với lọc dầu và nguồn nguyên liệu khí. Nâng tổng công suất sản xuất các loại phân bón chính của Petrovietnam chiếm khoảng 70-75% nhu cầu trong nước, góp phần đảm bảo an ninh lương thực. Xây dựng hệ thống phân phối sản phẩm dầu khí; xây dựng các kho chứa tàng trữ dầu thô bảo đảm bảo nguồn nguyên liệu vận hành các nhà máy lọc dầu.

Phấn đấu tổng công suất các nhà máy điện của Petrovietnam đến năm 2020 là 11.000 MW; đến 2030 là trên 14.000 MW. Nghiên cứu đầu tư phát triển năng lượng tái tạo trên cơ sở đảm bảo hiệu quả kinh tế.

Ba là: Về công nghiệp khí: Cung cấp khí cho tiêu thụ công nghiệp (riêng điện chiếm 70-80%) và dân sinh trong nước; tích cực đầu tư, phát triển theo hướng đa dạng hoá thị trường tiêu thụ, với qui mô sản lượng (cả sản xuất và nhập khẩu) 8-20 tỷ m3 vào năm 2020 và duy trì đến năm 2030.

Về phát triển cơ sở hạ tầng công nghiệp khí, phát triển công nghiệp khí đồng bộ, trong đó tập trung xây dựng hệ thống hạ tầng cơ sở công nghiệp khí quốc gia: hoàn chỉnh hạ tầng công nghiệp khí khu vực phía Nam, hình thành hạ tầng công nghiệp khí khu vực phía Bắc và miền Trung; từng bước triển khai xây dựng hệ thống mạng nối đường ống dẫn khí liên vùng, liên khu vực.

Về sản xuất LPG, đầu tư các dự án sản xuất LPG trong nước (từ các nhà máy GPP và nhà máy lọc dầu), mở rộng công suất các kho chứa LPG hiện có và xây dựng mới để đáp ứng nhu cầu trong nước với quy mô khoảng 2 triệu tấn vào năm 2015 và 3- 4 triệu tấn vào năm 2025.

Về nhập khẩu khí: nhập khẩu LPG, LNG một cách hiệu quả trên cơ sở cung, cầu khí trong nước.

Bốn là: Về công nghiệp điện: Phấn đấu tổng công suất các nhà máy điện của Petrovietnam đến năm 2020 là 11.000 MW; đến 2030 là trên 14.000 MW. Nghiên cứu đầu tư phát triển năng lượng tái tạo trên cơ sở đảm bảo hiệu quả kinh tế.

Năm là: Về dịch vụ kỹ thuật dầu khí: Đến năm 2020 đáp ứng 60-70% nhu cầu dịch vụ dầu khí trong nước, đến năm 2030 cơ bản đáp ứng được nhu cầu dịch vụ trong nước.

NangluongVietnam.vn

CÁC BÀI VIẾT BẠN ĐỌC QUAN TÂM

Nên đề cập về Đảng như thế nào trong Hiến pháp?
Cuộc chiến tranh lạnh phiên bản 2 Trung - Nhật bắt đầu
Mỹ tuyên bố bảo vệ đồng minh:Trung Quốc 'hạ giọng'
Chính sách đối ngoại Obama 2.0: Giữa 'bơ' và 'súng'
"Dư luận băn khoăn tự phê bình như hòa cả làng"
Chủ tịch nước: 'Biển Đông là vấn đề Việt Nam luôn quan tâm'




TÒA SOẠN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Phòng 406-407-408, Tòa nhà Văn phòng, số 87 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.
Email: toasoan@nangluongvietnam.vn

Liên hệ Thư ký Tòa soạn: Mai Văn Thắng (Hotline: 0969998822)

Liên hệ Giám đốc Trung tâm Đối ngoại: Lê Mỹ (Hotline: 0949723223)

Liên hệ Trung tâm Quảng cáo: Nguyễn Tiến Sỹ (Hotline: 0969998811) - Phan Thanh Dũng (Hotline: 0942632014)

Trang TTĐT của Tạp chí Năng lượng Việt Nam hoạt động theo Giấy phép số: 66/GP-TTĐT, cấp ngày 30/3/2018
của Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử - Bộ Thông tin - Truyền thông.

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3