RSS Feed for Khuyến khích doanh nghiệp phát triển lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) - Nhìn từ sự kiện TerraPower của Hoa Kỳ | Tạp chí Năng lượng Việt Nam Thứ sáu 08/05/2026 05:37
TRANG TTĐT CỦA TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Khuyến khích doanh nghiệp phát triển lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) - Nhìn từ sự kiện TerraPower của Hoa Kỳ

 - Sự phục hưng điện hạt nhân ở Hoa Kỳ đang mở ra cơ hội chưa từng có cho các doanh nghiệp gia nhập đường đua phát triển công nghệ lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR). Bối cảnh ấy có đem lại sự phát triển bền vững cho SMR?
Công nghệ lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) - Nhìn từ sự kiện TerraPower của Hoa Kỳ Công nghệ lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) - Nhìn từ sự kiện TerraPower của Hoa Kỳ

TerraPower đã đi vào lịch sử công nghệ hạt nhân Hoa Kỳ khi được Cơ quan Pháp quy Quốc gia Hoa Kỳ (NRC) chính thức cấp phép vào ngày 5/3/2026. Mặc dù không phải là lò SMR đầu tiên trên thế giới được cấp phép thương mại, nhưng với những gì đã diễn ra, TerraPower đã gợi mở rất nhiều vấn đề thảo luận, trao đổi và những bài học kinh nghiệm mà những quốc gia phát triển điện hạt nhân, trong đó có Việt Nam, có thể soi chiếu, học hỏi.

Đầu tư, hỗ trợ phát triển lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) - Nhìn từ sự kiện TerraPower của Hoa Kỳ Đầu tư, hỗ trợ phát triển lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) - Nhìn từ sự kiện TerraPower của Hoa Kỳ

Đằng sau mỗi bước tiến công nghệ hạt nhân luôn là một nền tảng chính sách vững chắc được chính phủ xây dựng và hậu thuẫn trên nhiều phương diện. Hoa Kỳ - quốc gia dẫn đầu thế giới về số lượng công nghệ lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) được thiết kế và phát triển, cũng không phải ngoại lệ. Câu hỏi đặt ra là: Nhờ đâu Hoa Kỳ luôn giữ được vị thế trong một thế giới công nghệ luôn chuyển động? Liệu quốc gia này chỉ thuần túy dựa vào những kinh nghiệm công nghệ tích lũy trong 7 thập niên phát triển công nghệ hạt nhân? Có phải quá trình phát triển đầy cạnh tranh với những quốc gia có nền tảng hạt nhân vững vàng như Nga, hay những quốc gia đầy tham vọng vươn lên như Trung Quốc cũng là yếu tố quan trọng thúc đẩy công nghệ hạt nhân Hoa Kỳ tiến tới mốc xa hơn?

Chính sách đầu tư ẩn cho lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) - Nhìn từ sự kiện TerraPower của Hoa Kỳ Chính sách đầu tư ẩn cho lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) - Nhìn từ sự kiện TerraPower của Hoa Kỳ

Mặc dù các chương trình đầu tư trực tiếp để phát triển lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ (SMR) trong vòng mấy thập kỷ đã thúc đẩy các lò phản ứng tiên tiến, nhưng nền tảng cho những công nghệ này đã được Hoa Kỳ chuẩn bị từ lâu hơn thế.

Lịch sử phát triển điện hạt nhân Hoa Kỳ từ khởi thủy không chỉ gắn liền với các phòng thí nghiệm quốc gia do Bộ Năng lượng (DOE) quản lý, mà còn liên quan chặt chẽ với các công ty tư nhân. Shippingport Atomic Power Station - nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Hoa Kỳ, được coi là điểm mốc quan trọng đánh dấu sự tham gia của giới tư nhân, Tập đoàn Westinghouse và Công ty Duquesne Light, vào công cuộc xây dựng, vận hành các nhà máy điện hạt nhân. Sau thành công ban đầu này, Westinghouse còn phát triển các công nghệ lò phản ứng nước áp lực như AP600, AP1000. Vào đầu những năm 2000, AP1000 trở thành công nghệ lò phản ứng thế hệ III+ đầu tiên ở Hoa Kỳ được Cơ quan Pháp quy Hạt nhân Quốc gia (NRC) cấp phép thiết kế hoàn chỉnh.

Trong giai đoạn phục hưng của điện hạt nhân này, giới tư nhân vẫn tiếp tục trở thành một thành tố quan trọng của ngành công nghiệp hạt nhân Hoa Kỳ. Vậy đây có phải là điều đương nhiên? Chính phủ Hoa Kỳ đã ban hành những chính sách nào để khuyến khích tư nhân bước vào cuộc chạy đua phát triển các công nghệ SMR - một cuộc chạy đua tiềm ẩn rất nhiều rủi ro và thách thức?

Sự thăng giáng của thị trường đầu tư:

Thất bại ban đầu:

Quá trình chạy đua phát triển SMR của Hoa Kỳ không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Để có được một bức tranh phát triển SMR có nhiều gam màu tươi sáng như hiện nay, ngành năng lượng của quốc gia này đã phải trải qua một chặng đường đầy thăng trầm.

Trước hết, đó là sự thất bại của Babcock & Wilcox - một sự kiện cho thấy con đường phát triển SMR vô cùng nhiều rủi ro, dù đây chính là Công ty được DOE phê duyệt ngay từ vòng kêu gọi tài trợ đầu tiên của Chương trình Hỗ trợ kỹ thuật cấp phép SMR (SMR Licensing Technical Support LTS).

Khi đó, Babcock & Wilcox không đơn thương độc mã, mà hợp tác với Tập đoàn Bechtel để lập Liên doanh Generation mPower LLC, đảm trách việc thiết kế, lập hồ sơ xin cấp phép và xây dựng các lò phản ứng mPower của B&W. Phần việc của B&W là tập trung vào thiết kế và thử nghiệm lò phản ứng, cũng như nộp đơn xin chứng nhận thiết kế, còn phần việc của Bechtel là chịu trách nhiệm về thiết kế kỹ thuật các cấu trúc chính, hệ thống phụ trợ, mua sắm và xây dựng.

Để hỗ trợ cho thiết kế B&W mPower 180 MWe được cấp chứng nhận và cấp phép, một liên minh đã được thành lập, bao gồm 15 công ty điện lực Hoa Kỳ và một hội đồng tư vấn ngành gồm 29 công ty điện lực Hoa Kỳ và quốc tế. Liên minh này hỗ trợ về khung pháp lý, các yêu cầu thiết kế, cơ sở hạ tầng cấp phép và chia sẻ chi phí/rủi ro cần thiết nhằm thúc đẩy tiến trình thương mại hóa lò phản ứng B&W mPower với cột mốc trước năm 2022, triển khai được một, hoặc nhiều nhà máy trình diễn tại Hoa Kỳ.

Năm 2012, thiết kế lò phản ứng B&W mPower đã nhận được tài trợ của DOE với khoản đầu tư trong vòng 5 năm. Tuy nhiên, vào tháng 2/2014, CEO của công ty đã phải thông báo là không thể tìm được khách hàng cho công nghệ mới. Hai tháng sau, Babcock & Wilcox tiếp tục giảm đầu tư cho dự án do “không có năng lực tìm được thêm các khoản đầu tư đáng kể, hay khách hàng cho các hợp đồng kỹ thuật, mua sắm, xây dựng để có được những hỗ trợ tài chính cần thiết cho phát triển và triển khai các lò phản ứng mPower. Bước phát triển của dự án buộc phải chậm lại”.

Vào năm 2017, Bechtel tuyên bố rời dự án. Tờ Forbes lúc đó đã lý giải thất bại này khi liệt kê nhiều nguyên nhân nằm ngoài công nghệ, trong đó đáng chú ý là giá khí thiên nhiên giảm do sự bùng nổ của công nghệ fracking thủy lực đá phiến; thách thức liên quan đến quản lý một dự án công nghệ lớn giữa hai đối tác là các công ty lớn, có văn hóa làm việc khác nhau; những hoạt động coi sự kiện Fukushima như một thảm họa để kìm hãm sự phát triển của năng lượng hạt nhân; các nhà đầu tư có tiếng nói buộc B&W tái đánh giá dự án và cấu trúc toàn bộ doanh nghiệp.

Dự án đã phải dừng lại sau khi đầu tư khoảng 400 triệu USD mà không kêu gọi được thêm vốn đổ vào.

Thất bại của Babcock & Wilcox cho thấy, bên cạnh những thách thức về công nghệ, các công nghệ SMR còn phải vượt qua rất nhiều rào cản về thị trường, vốn cũng như quản trị các dự án. Để các công nghệ SMR trưởng thành, doanh nghiệp cũng cần được hỗ trợ rất nhiều.

Sự bùng nổ nhu cầu năng lượng của các công ty công nghệ:

Thị trường năng lượng những năm qua đã chứng kiến sự bùng nổ đầu tư vào SMR của các công ty công nghệ lớn. Sự phát triển quá nhanh của trí tuệ nhân tạo (AI), đặc biệt là các mô hình ngôn ngữ lớn (LLMs) như ChatGPT của OpenAI, Gemini của Google, đang làm chuyển đổi nhiều ngành công nghiệp phụ thuộc vào những cơ sở hạ tầng IT quy mô lớn để vận hành như viễn thông, bảo hiểm, hàng không, dịch vụ vận chuyển, năng lượng, dược phẩm, thương mại điện tử… Sự mở rộng với tốc độ chưa từng có của các trung tâm dữ liệu kèm theo sự gia tăng tiêu thụ năng lượng. Quá trình huấn luyện và suy luận của LLMs đều cần nhiều điện. Ví dụ người ta ước tính việc huấn luyện mô hình GPT-3 cần tới mức điện năng xấp xỉ 1.287 MWh.

Do vậy, vào năm 2020, các trung tâm dữ liệu mới chỉ chiếm khoảng 1% tổng lượng điện tiêu thụ toàn cầu, nhưng được dự báo là đến năm 2030 sẽ đạt mức tăng trưởng hằng năm vào khoảng 4 đến 5%. Trong khi đó, Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Berkeley (Hoa Kỳ) ước tính: Vào năm 2028, các trung tâm dữ liệu sẽ tiêu thụ khoảng 325 đến 580 TWh - nghĩa là lớn hơn cả nhu cầu tiêu thụ điện năng hằng năm của Tây Ban Nha (255 TWh).

Các nhà máy điện gió và mặt trời không thể lấp đầy cơn khát năng lượng của các gã khổng lồ công nghệ trong khi các doanh nghiệp này vẫn mong muốn giảm phát thải carbon. Và SMR xuất hiện như một giải pháp hứa hẹn về an toàn, hiệu quả kinh tế, tin cậy và linh hoạt.

Đây là lý do mà các quyết định đầu tư có thể định hình tương lai của SMR đã bùng nổ vào cuối năm 2024:

- Google đi tiên phong khi có một thỏa thuận đột phá, vào tháng 10/2024, với Kairos Power về việc sử dụng công nghệ lò KP-FHR của công ty này vào năm 2030. Tháng 5/2025, Google tiếp tục cam kết đầu tư vốn giai đoạn đầu cho Công ty Elementl Power triển khai ba dự án SMR tại ba địa điểm với tổng công suất 1,8 GW.

- Công ty con của Amazon, Amazon Web Services (AWS) vào tháng 10/ 2024 lên kế hoạch xây dựng các nhà máy gần các trung tâm dữ liệu của mình ở Virginia nhằm mục tiêu có được 5 GW vào năm 2040. Họ đầu tư 500 triệu USD vào công nghệ SMR 320-MW của X-Energy và ký kết một biên bản ghi nhớ với Dominion để thúc đẩy triển khai các dự án SMR này ở Virginia.

- Microsoft vào tháng 9/2024 ký một thỏa thuận trong vòng 20 năm với Constellation Energy để tái khởi động lò phản ứng số 1 của Three Mile Island ở Pennsylvania, vốn ngừng vận hành từ năm 2019, để cung cấp hơn 800 MW điện sạch cho các trung tâm dữ liệu của Microsoft vào năm 2028; đồng thời tìm hiểu các công nghệ SMR và các lò phản ứng siêu nhỏ cho mạng lưới trung tâm dữ liệu toàn cầu của mình.

- Meta, Oracle và OpenAI… cũng đi theo trào lưu này. Thậm chí, Sam Altman, CEO của OpenAI, còn hậu thuẫn dự án SMR Aurora của Công ty Oklo, tương tự như cách Bill Gate hậu thuẫn Terra Power.

Tuy nhiên, những nỗ lực tự thân vẫn chưa đủ để các doanh nghiệp vượt qua thách thức, dẫu vô cùng sục sôi với ý tưởng phát triển công nghệ SMR và đưa các công nghệ này ra thị trường Hoa Kỳ, cũng như quốc tế.

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ Hoa Kỳ:

Trên thực tế, bất chấp những điểm mà người ta cho là vượt trội của SMR so với các lò phản ứng công suất lớn truyền thống như vốn đầu tư ban đầu nhỏ, đảm bảo an toàn hạt nhân, chi phí vận hành… việc thiết kế, phát triển các công nghệ SMR đã phải đối diện với nhiều thách thức cả về kỹ thuật lẫn nguồn vốn. Thất bại điển hình của Babcock & Wilcox cho thấy, sẽ còn một đường dài rất xa cho các doanh nghiệp để vươn đến đích đến là sở hữu được một công nghệ SMR thực sự trưởng thành và được cấp phép.

Vì vậy, Chính phủ Hoa Kỳ, thông qua Bộ Năng lượng (DOE), đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ cả về vốn, kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, cải cách quy định về cấp phép… DOE đã thiết kế rất linh hoạt các chương trình hỗ trợ ở nhiều cấp độ và khía cạnh khác nhau để các doanh nghiệp phát triển SMR có thể lựa chọn tùy theo nhu cầu của mình.

1. Tín dụng thuế đầu tư:

Trong khi thu hẹp những ưu đãi về tín dụng thuế đầu tư và tín dụng thuế sản xuất (Section 45Y production tax credit and the Section 48E investment tax credit) đối với một số lĩnh vực của năng lượng tái tạo như điện gió, điện mặt trời, Đạo luật One Big Beautiful Bill Act (OBBBA) đã mở ra một con đường ưu đãi dành cho các doanh nghiệp phát triển công nghệ hạt nhân tiên tiến, cũng như các doanh nghiệp đang vận hành các nhà máy điện hạt nhân. Ví dụ, các tín dụng thuế điện hạt nhân như tín dụng sản xuất điện hạt nhân không phát thải (Section 45U zero-emission nuclear power production credit) dành cho các doanh nghiệp đang vận hành các nhà máy điện hạt nhân vẫn còn nguyên hiệu lực. Các dự án điện hạt nhân vẫn được miễn thuế, mà không bị giới hạn về thời gian như đối với các dự án ứng dụng công nghệ trung hòa carbon (như 45Y PTC và 48E ITC).

2. Hỗ trợ tài chính của Chính phủ:

Không chỉ có tín dụng thuế, Chính phủ Hoa Kỳ còn hỗ trợ lĩnh vực điện hạt nhân ngày một gia tăng thông qua cải cách quy định, hỗ trợ tài chính công trực tiếp và thiết lập các sáng kiến an ninh quốc gia chiến lược.

Một loạt sắc lệnh của liên bang vào tháng 5/2025 đã được ban hành để đơn giản hóa quá trình cấp phép của Ủy ban Pháp quy Hạt nhân Quốc gia (NRC), rút ngắn thời gian thực hiện đánh giá tác động môi trường, mở rộng các cách thử nghiệm lò phản ứng tiên tiến, ưu tiên sử dụng các lò phản ứng phục vụ nhu cầu quân sự và an ninh quốc gia. Các sắc lệnh này hướng trực tiếp tới nhiều cơ quan của chính phủ nhằm tái xây dựng chu trình nhiên liệu hạt nhân, mở rộng việc sản xuất uranium trong nước, thúc đẩy nguồn nhân lực hạt nhân, cho phép giảm các nút thắt và tăng cường năng lực ngành công nghiệp hạt nhân dài hạn.

Song song với đó, xây dựng các công cụ tài chính liên bang như Văn phòng tài chính cho sự thống trị của năng lượng (Office of Energy Dominance Financing - EDF) của DOE, tên gọi cũ là Văn phòng Chương trình cho vay (Loan Programs Office), tiếp tục cấp vốn và bảo lãnh các khoản cho vay lên tới hàng tỷ USD để các doanh nghiệp có thể mở rộng vòng đời nhà máy điện hạt nhân khởi động xây dựng các lò phản ứng, triển khai công nghệ SMR, mở rộng chuỗi cung ứng.

Các khoản cho vay của EDF đối với điện hạt nhân từ trước đến nay mới chỉ là hỗ trợ việc mở rộng vòng đời nhà máy. Ví dụ năm 2025 là khoản cho vay trị giá 1,52 tỷ USD cho Holtec International - nhà cung cấp thiết bị và hệ thống thiết bị ngành năng lượng Hoa Kỳ để đưa nhà máy điện hạt nhân trở lại vận hành sau khi đã dừng hoạt động vào năm 2022, dẫu việc chấp thuận hay không còn phụ thuộc vào quyết định của NRC. Tuy nhiên, theo trả lời của ông Judi Greenwald - Chủ tịch, kiêm Giám đốc Liên minh Đổi mới sáng tạo hạt nhân (Nuclear Innovation Alliance) trong phiên điều trần về Sự thống trị của năng lượng Mỹ: Bình minh của kỷ nguyên điện hạt nhân mới (American Energy Dominance: Dawn of the New Nuclear Era) vào tháng 1/2026, thì EDF là công cụ chính sách quan trọng trong quá trình thương mại hóa công nghệ SMR. Những nhà phát triển SMR ở giai đoạn đầu có thể gặp nhiều rủi ro về đầu tư do các nhà đầu tư tư nhân thường có xu hướng chỉ rót tiền khi thấy nhà máy đã thành hình, hoặc vận hành. Việc thiếu vốn ở giai đoạn đầu sẽ khiến công nghệ SMR sẽ không thể đạt tới sự trưởng thành công nghệ.

Vì vậy, EDF sẽ cung cấp các khoản vay và hỗ trợ tín dụng cho các dự án công nghệ SMR tiên phong (First-of-a-kind SMR projects), qua đó lấp đầy khoảng trống tài trợ giữa những dự án giai đoạn đầu và các dự án đã được thương mại hóa. Hỗ trợ tín dụng có thể là trực tiếp cho các dự án phát triển công nghệ giai đoạn đầu. Ví dụ như các dự án quá rủi ro theo đánh giá của các nhà đầu tư tài chính tư nhân, nhưng thực chất đã sẵn sàng chuẩn bị cho triển khai thương mại hóa. Thúc đẩy được quá trình này sẽ đưa EDF trở thành một trong những công cụ quan trọng nhất để thương mại hóa công nghệ SMR và là chất xúc tác cho một nền công nghiệp hạt nhân tiên tiến.

3. Hỗ trợ về kỹ thuật và nhân lực:

Cũng phải nói thêm rằng, các chương trình tài trợ khác mà DOE triển khai nhiều năm trước đã hỗ trợ các công ty phát triển SMR không chỉ ở mức chia sẻ kinh phí, mà còn tạo cơ hội hợp tác với đội ngũ chuyên gia ở các phòng thí nghiệm quốc gia của DOE, bao gồm:

- Chương trình các cơ hội của ngành công nghiệp Mỹ trong phát triển công nghệ hạt nhân tiên tiến (U.S. Industry Opportunities for Advanced Nuclear Technology Development, DE-FOA-0001817).

- Chương trình nghiên cứu và phát triển SMR tiên tiến (Advanced SMR R&D Program).

- Chương trình trình diễn lò phản ứng tiên tiến (Advanced Reactor Demonstration Program ARDP).

- Chương trình sự sẵn sàng của nhiên liệu có độ giàu uranium thấp (HALEU Availability Program).

- Chương trình triển khai nội địa hóa ban đầu các công nghệ SMR thế hệ III+ (The initial domestic deployment of Generation III+ (Gen III+) small modular reactor (SMR) technologies)...

Sự kết nối liên tục các chương trình hỗ trợ kỹ thuật này đã giúp Hoa Kỳ phát triển được hệ sinh thái SMR; đồng thời thúc đẩy năng lực hạt nhân tiên tiến.

Hầu hết các dự án phát triển công nghệ SMR hiện nay của Hoa Kỳ đều nhận được những khoản tài trợ quý báu từ các chương trình này. Ví dụ với chương trình Các cơ hội của ngành công nghiệp Mỹ trong phát triển công nghệ hạt nhân tiên tiến, trong đợt mở tài trợ đầu tiên vào năm 2018, đã có một số dự án được hỗ trợ như:

- “Thiết kế và phát triển hồ sơ xin cấp phép cho TRISO-X: một cơ sở sản xuất nhiên liệu uranium có độ làm giàu thấp” trị giá khoảng 4,5 triệu USD cho X Energy, LLC.

- Dự án “Pha 1 dự án sẵn sàng trình diễn hạt nhân tiên phong NuScale” cho NuScale Power với khoản tài trợ 40 triệu USD.

- Dự án “Kết hợp mô hình hóa đa quy mô với chiếu xạ vi nang để mở rộng việc triển khai các nhiên liệu tiên tiến” cho General Atomics với tài trợ trị giá 2,2 triệu USD.

- Dự án “Thiết lập một mô thức sản xuất tiên tiến tích hợp và điều hướng khoa học dữ liệu cho các hệ lò phản ứng tiên tiến” cho BWXT Nuclear Energy với khoản tài trợ 5,4 triệu USD…

Bài học rút ra từ nỗ lực của tư nhân và Chính phủ Hoa Kỳ:

Dẫu sự nhập cuộc của giới tư nhân là một truyền thống của quá trình phát triển điện hạt nhân Hoa Kỳ, nhưng trong giai đoạn này, nó đã trở nên vượt trội đến mức định hình cả sự phát triển của SMR. Nhu cầu năng lượng sạch, không phát thải carbon và tin cậy đã đưa các ông lớn công nghệ đặt cược vào SMR, đem đến những thúc đẩy mới cho các công nghệ tiên tiến này.

Trước hết, có thể thấy ngoài nhu cầu tự thân về năng lượng, thì yếu tố quan trọng làm nền tảng cho sự bùng nổ SMRs là sự chủ động hợp tác giữa khối tư nhân và khối học thuật, qua đó tạo ra một gạch nối giữa giai đoạn trầm lắng những năm 2010, cũng như giai đoạn bùng nổ những năm 2020. Thất bại của Babcock & Wilcox đã đem lại gợi ý cho việc triển khai những hành động có thể góp phần giảm thiểu rủi ro, bắt đầu từ việc xem xét lại thất bại. Giới nghiên cứu và ngành công nghệ hạt nhân Hoa Kỳ đã nỗ lực tìm hướng đi khi từ năm 2013, Liên minh Nghiên cứu và giáo dục lò phản ứng SMR (SmrREC) do Đại học KH&CN Missouri khởi xướng, Tập đoàn Ameren và Westinghouse là thành viên thành lập, đã lập dự án khảo sát về tính kinh tế của việc triển khai nhiều lò phản ứng SMR ở Hoa Kỳ. Liên minh SmrREC xây dựng một mô hình toàn diện về nhu cầu kinh doanh, sản xuất và chuỗi cung ứng cho một nền công nghiệp hạt nhân mới mà SMR là trọng tâm.

Sau đó, những nhà phát triển công nghệ và khách hàng tiềm năng của SMR như Bechtel, BWX Technologies, Dominion, Duke Energy, Energy Northwest, Fluor, GE Hitachi Nuclear Energy, Holtec, NuScale, Ontario Power… còn thành lập một liên minh khác là SMR Start để đầu tư thúc đẩy sự phát triển của SMR, hỗ trợ vượt qua những khó khăn ban đầu ở thị trường năng lượng bằng việc thiết lập các đối tác công - tư (PPP) đã thành công với những công nghệ như điện gió, mặt trời. Tổ chức này đại diện cho các công ty trong những hoạt động liên quan đến NRC, Quốc hội Hoa Kỳ…

Thứ hai, giới tư nhân đã ảnh hưởng theo nhiều cách với công nghệ SMR. Ở góc độ tích cực, họ đã tác động đến cả tương lai của công nghệ SMR. Thay vì chờ đợi hưởng thụ những công nghệ đã được kiểm chứng, các doanh nghiệp đã bước chân cả vào giai đoạn bình minh của một công nghệ mới. Vượt qua yếu tố công nghệ, sự hợp tác mang tính chiến lược giữa các doanh nghiệp lớn và các nhà phát triển lò phản ứng tiên tiến như một chất xúc tác thúc đẩy quá trình này theo hướng trước nay chưa từng có. Ví dụ công ty hóa chất đa quốc gia Dow Chemical hợp tác với X-energy để sử dụng 4 lò phản ứng làm mát bằng khí nhiệt độ cao XE-100 tại các cơ sở của mình ở Gulf Coast và Texas, nhằm sử dụng nhiệt và điện năng cho quá trình sản xuất.

Thậm chí, sự hợp tác ở tầm quốc tế của các doanh nghiệp đa quốc gia đã định hình cả thị trường SMR toàn cầu khi các quốc gia - nơi phát triển công nghệ, tiến hành các dự án trình diễn cùng phối hợp về năng lực công nghiệp, vốn và pháp quy để thúc đẩy thời gian đưa công nghệ mới vào thực tế. Một trong những ví dụ đó là việc cấp phép liên quốc gia của một số dự án SMR, hoặc thỏa thuận đầu tư chiến lược 500 tỷ USD giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản, mà trong đó Nhật Bản cam kết rót hàng trăm tỷ USD vào các dự án AP1000, AP300 của Westinghouse và dự án SMR BWRX-300 của GE-Hitachi. Khung hợp tác này bao gồm các cam kết về kỹ thuật, cơ sở hạ tầng lưới điện và phát triển chuỗi cung ứng hạt nhân tiến, đưa nó trở thành một trong những chương trình đầu tư năng lượng hạt nhân song phương lớn nhất từ trước đến nay.

Ở chiều ngược lại, cũng có nhiều ý kiến lo ngại về ảnh hưởng của tư nhân lên quá trình phát triển SMR ngay ở giai đoạn đầu - khi công nghệ chưa thực sự trưởng thành và khả năng xử lý nhiên liệu sau sử dụng vẫn còn để ngỏ. Ví dụ, think-tank Carnegie Endowment lo ngại sự giám sát của chính phủ với loại hình công nghệ mới này sẽ không còn chặt chẽ như trước kia trong khi về lịch sử, vai trò giám sát, điều phối của chính phủ thông qua NRC đã được chú trọng để bảo vệ cộng đồng khỏi các sự cố có thể xảy ra. Trước đây, NRC luôn đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn hạt nhân, nhưng sự can thiệp gần đây của chính quyền Tổng thống Trump vào cơ cấu nhân sự và cắt giảm thời gian cấp phép đã làm dấy lên lo ngại về các thách thức phía trước.

Cuối cùng, bất chấp sự nhập cuộc hào hứng làm thay đổi diện mạo thị trường SMR của các gã khổng lồ công nghệ, không có gì có thể thay thế được vai trò hỗ trợ của Chính phủ Hoa Kỳ. Liên tiếp các chương trình hỗ trợ cả về vốn, nhân lực và kỹ thuật của Chính phủ đã tạo điều kiện giải quyết các thách thức công nghệ và tận dụng kinh nghiệm quý báu trong các phòng thí nghiệm quốc gia Hoa Kỳ. Việc đúc rút kinh nghiệm từ chương trình trước để thiết kế linh hoạt cho chương trình sau, tạo độ mở hết cỡ cho các liên minh học thuật - tư nhân hình thành, giúp giải quyết được nhiều bài toán công nghệ vô cùng thách thức, qua đó đưa Hoa Kỳ lên vị trí dẫn đầu về phát triển SMR.

Tạm kết:

Sự gia nhập ngày càng sâu của các công ty đa quốc gia đã đem lại một đặc điểm mới cho thị trường SMR. Ngay ở thuở công nghệ SMR còn chưa trưởng thành, sự xuất hiện của nhiều liên minh xuyên biên giới - từ hợp tác của Hoa Kỳ với các nhà phát triển lò phản ứng Anh, Hàn Quốc, đến những mối quan hệ đối tác đa quốc gia giữa nhà cung cấp công nghệ và quốc gia tiếp nhận công nghệ trong hỗ trợ cung cấp nhiên liệu hạt nhân, cùng cấp phép và tiêu chuẩn hóa công nghệ SMR - cho chúng ta thấy thị trường SMR đang ngày một trở thành một hệ sinh thái mang tính quốc tế hơn là các chương trình của từng quốc gia riêng biệt.

Bối cảnh ấy đang đặt nhiều thách thức hơn lên công việc thẩm định, cấp phép và giám sát của các cơ quan pháp quy quốc gia. Các tổ chức này sẽ thích ứng ra sao với những điều kiện mới?

Đón đọc kỳ tới…

THANH NHÀN


Tài liệu tham khảo:

1. “First U.S. Commercial Nuclear Plant Opens”. Cơ sở dữ liệu nghiên cứu EBSCO.

https://www.ebsco.com/research-starters/power-and-energy/first-us-commercial-nuclear-plant-opens#summary-of-event

2. “Bechtel And BWXT Quietly Terminate mPower Reactor Project”. Forbes.

https://www.forbes.com/sites/rodadams/2017/03/13/bechtel-and-bwxt-quietly-terminate-mpower-reactor-project/#selection-1737.0-1746.0

3. “The potential role of small modular reactors (SMRs) in addressing the increasing power demand of the artificial intelligence industry: A scenario-based analysis”. Nuclear Engineering and Technology.

4. “Inside the Nuclear Renaissance: Policy Shifts, Tech Demand, and the Rise of SMRs”. Adam Banack. Công ty luật MIntz

https://www.mintz.com/insights-center/viewpoints/2151/2026-03-04-inside-nuclear-renaissance-policy-shifts-tech-demand-and

5. Small Modular Reactors. World Nuclear News

https://world-nuclear.org/information-library/nuclear-power-reactors/small-modular-reactors/small-modular-reactors

6. “The Social Costs of an AI-Led Nuclear Energy Renaissance”. Jayita Sarkar. Tổ chức Carnegie Endowment for International Peace.

https://carnegieendowment.org/research/2025/10/the-social-costs-of-an-ai-led-nuclear-energy-renaissance

Có thể bạn quan tâm

Các bài đã đăng

[Xem thêm]
Phiên bản di động