» Năng lượng nguyên tử

Điện hạt nhân Việt Nam: An toàn là ưu tiên số 1

09:07 |30/12/2014

 - 

Theo nhận định của giới chuyên gia điện hạt nhân quốc tế: Trong tương lai, 20% nhu cầu điện năng của Việt Nam sẽ do các nhà máy điện hạt nhân cung cấp. Mục tiêu này không phải là tham vọng quá sức của Việt Nam. Tuy nhiên, để hiện thực hóa điều này vấn đề cần làm thông tỏ trong dư luận chính là sự an toàn của các nhà máy điện hạt nhân.

“Việt Nam không thiếu nhân tài để phát triển điện hạt nhân”

Mô hình Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận.

An toàn cho nhà máy điện hạt nhân luôn là ưu tiên số 1 được đặt ra tại tất cả các quốc gia khi triển khai một dự án điện hạt nhân. Ở Việt Nam, vấn đề này càng đặc biệt được quan tâm bởi chúng ta mới đang triển khai những dự án điện hạt nhân đầu tiên.

Cũng giống như bất kỳ một dự án điện hạt nhân nào trên thế giới, trước khi được triển khai Dự án Ðiện hạt nhân Ninh Thuận, Chính phủ cùng các bộ, ngành liên quan đã tiến hành nghiên cứu, thẩm tra, đánh giá độ an toàn hết sức nghiêm ngặt. Sau khi có kết quả nghiên cứu, phân tích độ an toàn sẽ được đưa ra bảo vệ cấp Hội đồng Khoa học Nhà nước, nếu được thông qua, báo cáo tiếp tục được trình Hội đồng Nghiệm thu Nhà nước. Khi được Hội đồng Nghiệm thu Nhà nước chấp thuận dự án mới được phê duyệt và triển khai các bước tiếp theo. Trong tất cả các công đoạn, quy trình nghiên cứu triển khai đề án điện hạt nhân của Việt Nam đều có sự tham gia của hai đơn vị tư vấn là Nga và Nhật Bản (hai quốc gia hàng đầu thế giới về phát triển điện hạt nhân). Và Việt Nam đã ký hiệp định liên chính phủ với Liên bang Nga và Nhật Bản về hợp tác xây dựng nhà máy điện hạt nhân số 1 và số 2 tại Ninh Thuận.

Sau vụ tai nạn tại nhà máy điện Chernobyl của Nga cách đây ¼ thế kỷ và sự cố tại Nhà máy Ðiện hạt nhân Fukushima của Nhật Bản mới đây, các quốc gia trên thế giới đã dành quan tâm lớn và thường xuyên hơn cho vấn đề an toàn ở cơ sở điện hạt nhân. Tại Việt Nam, mặc dù đã nảy sinh nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề phát triển dự án điện hạt nhân nhưng sau khi nghe các báo cáo, giải trình, Quốc hội cũng đã có nghị quyết đồng ý với chủ trương nghiên cứu, đầu tư Dự án Ðiện hạt nhân Ninh Thuận.

Theo quy hoạch phát triển điện lực quốc gia, nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và 2 được khởi công vào năm 2014, hoàn thành năm 2022. Hai tổ máy số 1 của hai nhà máy điện hạt nhân vận hành vào cuối năm 2020.

Theo TS. Vương Hữu Tấn - Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử: Công nghệ của Nga là an toàn nhất trong việc xây dựng nhà điện hạt nhân hiện nay và Nga đã được lựa chọn làm đối tác để đề án xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam tại Ninh Thuận. Sức bền chịu địa chấn của nhà máy điện hạt nhân Việt Nam đầu tiên được dự trù ở mức 8 độ. Trong khi đó, động đất mạnh nhất ở Việt Nam chỉ ở mức 6 độ. Khu vực bố trí nhà máy điện hạt nhân ở phía hướng ra biển sẽ được chắn bởi con đập cao 15 mét. Trong lịch sử từ xưa tới nay, chiều cao của sóng thần ở vùng Ninh Thuận chưa bao giờ vượt quá 8 mét.

Rút kinh nghiệm từ sự cố Fukushima của Nhật Bản, các nhà máy điện hạt nhân hiện đại của Nga được thiết kế chịu tác động địa chấn cường độ cao nhất. Hai nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận được xây dựng trên cơ sở các lò phản ứng nước nhẹ thế hệ thứ 3 và 3+, có hệ số an toàn rất cao.

TS.Alexander Kukshinov, Trưởng phòng quan hệ quốc tế của Công ty Atomstroyexport (Nga) khẳng định: Sau sự cố nhà máy điện hạt nhân Fukushima, những cuộc thử nghiệm ứng suất của lò phản ứng nước nhẹ đã đảm bảo mức độ an toàn theo thiết kế của các nhà máy điện hạt nhân Nga, chứng tỏ khả năng chống chịu các tác động bên ngoài mang tính thảm họa.

Nguồn: Tapchitaichinh



TÒA SOẠN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Phòng 406-407-408, Tòa nhà Văn phòng, số 87 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.22113344 - Fax: 024.35147193
Email: toasoan@nangluongvietnam.vn
Hotline: 0969998811 - 0969998822 - 0942632014 Trang TTĐT của Tạp chí Năng lượng Việt Nam hoạt động theo Giấy phép số: 66/GP-TTĐT, cấp ngày 30/3/2018
của Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử - Bộ Thông tin & Truyền thông.

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3