Tổng giám đốc EVN trả lời phỏng vấn Tạp chí Năng lượng Việt Nam
11:32 | 07/02/2026
Nhân dịp đầu xuân Bính Ngọ, xin ông cho biết một vài nét nổi bật trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư phát triển của EVN để hoàn thành mục tiêu lớn của Tập đoàn là “đảm bảo cung ứng điện an toàn, ổn định, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội”? Ông đánh giá thế nào về các mục tiêu đã đạt được trong năm vừa qua của EVN?
Ông Nguyễn Anh Tuấn: Năm 2025, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng được sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt, sát sao của Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành và ủng hộ của các địa phương; cùng sự chủ động, chuẩn bị kỹ lưỡng của toàn Tập đoàn, EVN đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch 5 năm (2021-2025). Cụ thể là:
1. Đảm bảo cung ứng điện cho phát triển kinh tế, xã hội và đời sống sinh hoạt của nhân dân, cấp điện tuyệt đối an toàn cho các sự kiện chính trị lớn của đất nước (Lễ kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Đại lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công, Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam…).
Quy mô hệ thống điện tiếp tục được mở rộng, với tổng công suất nguồn điện toàn hệ thống đến cuối năm 2025 đạt khoảng 87.600 MW, đưa Việt Nam trở thành quốc gia có quy mô hệ thống điện đứng thứ hai trong khu vực ASEAN về công suất nguồn điện. Công suất phụ tải cực đại toàn hệ thống đạt 54.370 MW, tăng 11,1% so với năm 2024; sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống năm 2025 ước đạt 322,8 tỷ kWh. Trong điều kiện đó, EVN đã phối hợp chặt chẽ với đơn vị điều độ hệ thống điện quốc gia để điều hành linh hoạt các nguồn điện; đồng thời phối hợp với các đơn vị liên quan bảo đảm cung ứng nhiên liệu cho phát điện, đáp ứng yêu cầu phụ tải và tình hình vận hành thực tế của các nhà máy điện.
2. Công tác đầu tư xây dựng nguồn, lưới điện tiếp tục đạt kết quả tích cực và là năm thứ hai liên tiếp EVN thực hiện vượt kế hoạch đầu tư xây dựng, với giá trị giải ngân đạt 125.778 tỷ đồng, tăng 14,7% so với năm 2024. Nhiều công trình lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với hệ thống điện quốc gia đã được đưa vào vận hành, tiêu biểu như: Nhà máy Thủy điện Hòa Bình mở rộng, đường dây 500 kV Lào Cai - Vĩnh Yên, các dự án đường dây và cáp ngầm cấp điện cho Côn Đảo. Đồng thời, EVN đã khởi công và triển khai các dự án nguồn điện quan trọng như: Nhà máy Thủy điện Trị An mở rộng, Thủy điện Tích năng Bác Ái; tiếp tục triển khai dự án Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch 1, tổ chức lựa chọn nhà thầu EPC cho dự án LNG Quảng Trạch 2, chuẩn bị các bước đầu tư LNG Quảng Trạch 3. Trên lĩnh vực lưới điện, EVN và các đơn vị đã khởi công, đóng điện nhiều dự án lưới điện 110-500 kV nhằm tăng cường liên kết hệ thống, giải tỏa công suất các nguồn điện và đáp ứng nhu cầu phụ tải.
3. Công tác kinh doanh và dịch vụ khách hàng đạt nhiều kết quả nổi bật. Toàn bộ các dịch vụ điện được cung cấp trực tuyến ở mức độ 4 tại Cổng dịch vụ công Quốc gia; tỷ lệ giao dịch thanh toán tiền điện theo phương thức điện tử toàn EVN đạt 99,7%; thời gian cấp điện cho khách hàng tiếp tục được rút ngắn. Trong năm 2025, đồng bộ với việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã, các tổng công ty điện lực và công ty điện lực địa phương đã hoàn thành chuyển đổi mô hình đơn vị mới, bảo đảm hoạt động kinh doanh và dịch vụ khách hàng vận hành ổn định, thông suốt, không bị gián đoạn.
Bên cạnh đó, EVN tiếp tục ưu tiên triển khai các dự án cấp điện nông thôn, miền núi, hải đảo. Trong năm 2025, Tập đoàn đã đầu tư cấp điện cho hơn 5.000 hộ dân chưa có điện; đồng thời triển khai cấp điện cho 129 thôn, bản vùng sâu, vùng xa. Kết quả đến cuối năm 2025, 100% số xã trên cả nước đã có điện, tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện đạt 99,85%.
4. Về hiệu quả hoạt động, tổng doanh thu hợp nhất toàn Tập đoàn năm 2025 ước đạt 645.195 tỷ đồng, tăng 10,3%; hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty mẹ - EVN có lợi nhuận vượt chỉ tiêu được Bộ Tài chính giao, góp phần giảm lỗ lũy kế sản xuất, kinh doanh (giai đoạn 2022-2023). Các chỉ tiêu kỹ thuật, độ tin cậy cung cấp điện tiếp tục được cải thiện; tổn thất điện năng đạt chỉ tiêu kế hoạch, chỉ số SAIDI toàn Tập đoàn ước đạt 230 phút, vượt mục tiêu đề ra. Số sự cố nguồn và lưới điện đều giảm mạnh so với năm 2024, phản ánh nỗ lực nâng cao chất lượng quản lý kỹ thuật và vận hành hệ thống.
![]() |
Ông Nguyễn Anh Tuấn - Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam. |
Nhằm tăng cường hạ tầng truyền tải, đưa điện từ các nhà máy thủy điện và các nhà máy điện năng lượng tái tạo tới trung tâm phụ tải ở miền Bắc; đồng thời tạo hạ tầng sẵn sàng để nhập khẩu điện từ các nước láng giềng, EVN đã triển khai đầu tư và hoàn thành đoạn đường dây 500 kV kết nối với cụm điện gió Mon Soon (Lào) về Thạnh Mỹ (Quảng Nam cũ) và đường dây 500 kV từ Lào Cai tới Vĩnh Yên, cùng nhiều đường dây 220 kV quan trọng. Với nỗ lực vượt bậc của lãnh đạo Tập đoàn và các đơn vị thành viên, các công trình này đã được hoàn thành đúng tiến độ. Xin ông cho biết các trở ngại, khó khăn và những bài học quan trọng nhất dẫn tới những thành công đó?
Ông Nguyễn Anh Tuấn: Việc đầu tư, xây dựng các các dự án đường dây truyền tải điện trọng điểm như: Đường dây 500 kV kết nối cụm điện gió Mon Soon (Lào) - Thạnh Mỹ và đường dây 500 kV Lào Cai - Vĩnh Yên, cùng nhiều tuyến 220 kV quan trọng, đã được triển khai trong điều kiện đặc biệt khó khăn và thách thức. Tuyến công trình đi qua khu vực địa hình đồi núi cao, hiểm trở, địa chất phức tạp, chịu tác động mạnh của thời tiết khắc nghiệt; trong khi khối lượng giải phóng mặt bằng rất lớn, liên quan đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất, rừng và yêu cầu nghiêm ngặt về bảo đảm môi trường. Đặc biệt, các dự án đều đặt ra yêu cầu tiến độ hết sức gấp rút nhằm kịp thời giải tỏa công suất các nguồn điện và tạo hạ tầng sẵn sàng cho việc nhập khẩu điện.
Thành công của các công trình trước hết là nhờ sự chỉ đạo sát sao, quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ban Chỉ đạo Nhà nước các chương trình, công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành năng lượng, cùng với sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành và chính quyền địa phương. Về phía EVN, chúng tôi đã xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu, thực hiện phân cấp, phân quyền cho các ban quản lý dự án; đồng thời thường xuyên đi kiểm tra, giám sát, đôn đốc để kịp thời xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai. Công tác tổ chức thi công được triển khai với tinh thần khẩn trương, quyết liệt, áp dụng các phương án “4 tại chỗ”, “3 ca, 4 kíp”, “vượt nắng, thắng mưa”, “xuyên lễ, tết, ngày nghỉ”, qua đó bảo đảm tiến độ, chất lượng và an toàn công trình.
Một yếu tố hết sức quan trọng khác là sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân địa phương, cùng với sự tham gia, hỗ trợ của các lực lượng quân đội, công an và các tổ chức đoàn thể, góp phần quyết định giúp các dự án hoàn thành đúng tiến độ đề ra.
Một trong các mục tiêu lớn, quan trọng năm nay của Tập đoàn là “Đẩy mạnh chuyển đổi số, đưa EVN trở thành doanh nghiệp số vào năm 2025”. Xin ông cho biết những thách thức và thành tựu của công tác chuyển đổi số của EVN trong năm 2025?
Ông Nguyễn Anh Tuấn: Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Tập đoàn Điện lực Việt Nam lần thứ IV (nhiệm kỳ 2025-2023) đã xác định 1 trong 3 khâu đột phá của là “Đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”, nhằm mục tiêu xây dựng EVN trở thành Tập đoàn có công nghệ hiện đại, chuyển đổi số toàn diện, cung cấp dịch vụ điện cho khách hàng với chất lượng ngày càng cao. Tập đoàn đã xác định các giải pháp trọng tâm là:
Thứ nhất: Tuyên truyền nâng cao nhận thức, xác định quyết tâm mạnh mẽ, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tạo xung lực mới, khí thế mới trong toàn Tập đoàn về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong tất cả các khâu quản lý, sản xuất, kinh doanh.
Thứ hai: Tăng cường đầu tư, nâng cấp, hoàn thiện hạ tầng, thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Nghiên cứu, học tập kinh nghiệm của các công ty điện lực trên thế giới, ứng dụng mạnh mẽ các công nghệ tiên tiến trong đầu tư xây dựng, quản lý vận hành, sản xuất, kinh doanh và quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), các mô hình học sâu (Deep learning). Phát triển, mở rộng danh mục sản phẩm thiết bị điện sản xuất trong nước nhằm thay thế nhập khẩu.
Thứ ba: Đào tạo, phát triển nhân lực khoa học công nghệ, chuyển đổi số. Tăng cường hợp tác quốc tế trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết 03/NQ-CP của Chính phủ, EVN thành lập các ban chỉ đạo, ban hành Quy chế làm việc, văn bản giao nhiệm vụ cho các đơn vị với 5 nhóm nhiệm vụ và 57 nhiệm vụ trọng tâm. Trong đó tập trung vào ba trụ cột chính:
1. Chuyển đổi hệ thống công nghệ thông tin đồng bộ với mô hình hành chính và chính quyền mới.
2. Kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cơ sở dữ liệu Quốc gia và Chính phủ, đảm bảo dịch vụ công trực tuyến toàn trình.
3. Phối hợp xóa vùng lõm điện để phổ cập hạ tầng số đến thôn, bản. Đến nay, EVN đã cơ bản hoàn thành xây dựng các cơ sở dữ liệu nền tảng cốt lõi.
Năm 2025, hoạt động khoa học công nghệ tại EVN và các đơn vị tiếp tục được đẩy mạnh với việc tổ chức nghiệm thu 10 đề tài, xét duyệt 10 đề tài cấp Tập đoàn cùng hàng chục đề tài cấp cơ sở tại các tổng công ty. Hoạt động sáng kiến cũng đã công nhận hơn 60 sáng kiến cấp EVN và hơn 1500 sáng kiến cấp cơ sở tại đơn vị.
EVN cũng đã phối hợp với Hội Điện lực Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị khoa học và công nghệ điện lực toàn quốc và Triển lãm Techshow năm 2025 với hơn 400 đại biểu và khoảng 3.000 lượt người tham gia.
Trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo, EVN đã khẳng định năng lực chuyên môn trên trường quốc tế thông qua việc tham gia trình bày và chủ trì 1 phiên kỹ thuật tại Hội thảo IEEE về môi trường và kỹ thuật điện năm 2025.
Về mặt quản trị chiến lược, Tập đoàn đã quyết liệt đôn đốc các đơn vị thực hiện nhiệm vụ; đồng thời đang tập trung xây dựng Định hướng phát triển khoa học côn nghệ và đổi mới sáng tạo (giai đoạn 2026-2030), sửa đổi Quy định về quản lý hoạt động khoa học công nghệ với mục tiêu thúc đẩy hoạt động khoa học công nghệ trong EVN.
Đến nay EVN cơ bản hoàn thành các mục tiêu đề ra, cụ thể là tại Quyết định số 64/QĐ-BCĐCĐS ngày 3/2/2025 của Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại Doanh nghiệp đã phê duyệt kết quả chuyển đổi số của EVN là “Mức 4” với tỷ lệ điểm đạt được là 81,89%, tiết kiệm chi phí ước khoảng trên 3.000 tỷ đồng/năm, dẫn đầu trong 19 tập đoàn, tổng công ty thuộc Ủy ban (trước đây).
Năm 2025 sản xuất điện toàn quốc ước sơ bộ tăng trưởng thấp hơn năm 2024, chỉ khoảng 5%. Mặc dù chịu tác động ảnh hưởng từ các cơn bão và lũ lụt bất thường vừa qua, nhiều khu vực lưới điện bị hư hỏng, nhưng việc đảm bảo cung cấp điện vẫn được các đơn vị duy trì tốt, nhanh chóng cấp lại điện cho vùng bị ảnh hưởng. Xin ông cho biết những nhân tố chủ yếu tác động tới giảm nhịp tăng sản xuất điện năm nay thấp hơn kỳ vọng?
Ông Nguyễn Anh Tuấn: Sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống năm 2025 ước đạt khoảng 322,8 tỷ kWh, tăng 4,6% so với năm 2024. Mức tăng trưởng này vẫn đáp ứng đầy đủ nhu cầu điện cho phát triển kinh tế, xã hội và đời sống nhân dân; đồng thời bảo đảm an toàn, ổn định trong vận hành hệ thống điện quốc gia.
So với mức tăng trưởng cao của năm 2024 (9,94%), tốc độ tăng trưởng sản xuất điện năm 2025 thấp hơn. Tuy nhiên, mức tăng 4,6% là xấp xỉ với mức tăng trưởng trung bình của giai đoạn 2021-2024 (khoảng 5,73%). Việc sản xuất điện năm 2025 đạt khoảng 92,9% so với kế hoạch xuất phát từ tổng hòa nhiều yếu tố khách quan và cơ cấu, không chỉ do tác động của thiên tai. Cụ thể, có một số nguyên nhân chính như sau:
Thứ nhất: Tăng trưởng điện thương phẩm năm 2025 có xu hướng chậm lại. Điện thương phẩm toàn EVN năm 2025 ước đạt 287,9 tỷ kWh, tăng 4,9% so với năm 2024, thấp hơn mức tăng 9,1% của năm 2024. Trong đó, hai thành phần phụ tải chiếm tỷ trọng lớn nhất đều giảm tốc độ tăng trưởng: Phụ tải công nghiệp - xây dựng (chiếm khoảng 53%) tăng 7,22%, thấp hơn mức 10,2% của năm 2024. Đặc biệt, phụ tải quản lý - tiêu dùng dân cư (chiếm khoảng 34%) tăng trưởng 1,10%, trong khi năm 2024 tăng 7,0%. Nếu thành phần phụ tải quản lý - tiêu dùng dân cư tăng trưởng tương đương với năm 2024, thì điện thương phẩm toàn EVN năm 2025 sẽ tăng trưởng 7,21%.
Thứ hai: Theo dự báo của các cơ quan khí tượng trong nước, mặc dù nền nhiệt năm 2025 nhìn chung vẫn cao hơn trung bình nhiều năm, song mức độ nắng nóng trong mùa hè không gay gắt và kéo dài như năm 2024; đồng thời mùa đông đến muộn và nền nhiệt ấm hơn, không có nhiều đợt rét đậm, rét hại kéo dài. Các yếu tố này làm cho nhu cầu sử dụng điện, đặc biệt là điện sinh hoạt, không tăng đột biến (như năm 2024), qua đó góp phần làm chậm tốc độ tăng điện thương phẩm và điện sản xuất toàn hệ thống.
Thứ ba: Thiên tai diễn biến phức tạp trong năm 2025 cũng ảnh hưởng nhất định đến nhu cầu sử dụng điện. Nhiều đợt bão, lũ lụt xảy ra tại một số khu vực đã gây hư hỏng lưới điện và làm gián đoạn phụ tải trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, ngành điện đã chủ động triển khai các phương án phòng, chống thiên tai, khôi phục cấp điện nhanh chóng cho các khu vực bị ảnh hưởng. Các tác động này chủ yếu mang tính cục bộ, ngắn hạn, không phải là nguyên nhân chính làm giảm tăng trưởng sản xuất điện trong dài hạn.
Thứ tư: Điện tự sản xuất, tự tiêu thụ của khách hàng tăng trưởng mạnh. Năm 2025, sản lượng điện tự sản xuất, tự tiêu thụ từ các nguồn điện tại chỗ của khách hàng chiếm tỷ trọng ngày càng lớn, ước lượng ở mức vài phần trăm trong tổng cơ cấu cung ứng điện. Phần sản lượng điện này góp phần đáp ứng nhu cầu của phụ tải, nhưng không phản ánh đầy đủ trong chỉ tiêu sản xuất điện toàn quốc, qua đó làm tốc độ tăng trưởng điện sản xuất từ hệ thống thấp hơn so với năm trước.
Thứ năm: Cơ cấu nguồn và phương thức vận hành hệ thống điện có sự thay đổi theo hướng hiệu quả hơn. Tỷ trọng các nguồn năng lượng tái tạo và nguồn điện phân tán tiếp tục gia tăng, trong đó điện mặt trời mái nhà tại doanh nghiệp và hộ dân góp phần đáp ứng nhu cầu điện ngay tại nơi sử dụng và làm giảm áp lực huy động nguồn điện từ hệ thống. Mặt khác, công tác điều độ hệ thống được tối ưu theo hướng hiệu quả - tiết kiệm - an toàn, hạn chế việc huy động và phát điện không cần thiết.
Tổng hợp các yếu tố nêu trên cho thấy, mức tăng trưởng sản xuất điện năm 2025 thấp hơn năm 2024 là kết quả của sự thay đổi về nhu cầu phụ tải, điều kiện thời tiết, cơ cấu nguồn và phương thức vận hành hệ thống, phản ánh xu hướng sử dụng điện ngày càng hiệu quả và bền vững; đồng thời vẫn bảo đảm tốt nhiệm vụ cung cấp điện cho phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Cuối cùng, cho phép tôi xin trích dẫn nhận xét của TS. Ngô Trí Long - nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu giá (Bộ Tài chính) trên Báo Điện tử Chính phủ ngày 5/1/2026, như sau: “Việc tăng trưởng điện thương phẩm thấp hơn tăng trưởng GDP trong năm 2025 không phải là dấu hiệu bất thường, mà ngược lại, phản ánh sự thay đổi tích cực trong cơ cấu tăng trưởng và hiệu quả sử dụng năng lượng của nền kinh tế Việt Nam. Đây cũng là xu hướng phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững, giảm dần phụ thuộc vào mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào tiêu hao năng lượng”.
Xin ông cho biết những định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và ưu tiên lớn của EVN trong năm 2026? Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, ông có điều gì muốn chia sẻ và gửi gắm tới Người lao động EVN trong bối cảnh ngành điện đang đứng trước nhiều yêu cầu đổi mới và thách thức mới?
Ông Nguyễn Anh Tuấn: Năm 2026 được dự báo tiếp tục là năm có nhiều khó khăn, thách thức, với yêu cầu cao hơn đối với ngành điện trong bối cảnh nền kinh tế phát triển, nhu cầu điện tăng. Trên cơ sở đó, EVN xác định nhiệm vụ trọng tâm và ưu tiên hàng đầu là bảo đảm cung cấp điện an toàn, ổn định, tin cậy cho phát triển kinh tế, xã hội và đời sống nhân dân, thực hiện các chỉ đạo của Bộ Công Thương (tại Quyết định số 3477/QĐ-BCT về phương thức vận hành hệ thống điện quốc gia năm 2026).
Trong lĩnh vực sản xuất điện, EVN sẽ tập trung chỉ đạo các đơn vị phát điện vận hành an toàn, hiệu quả, phối hợp chặt chẽ với NSMO trong điều hành hệ thống. Các nhà máy thủy điện sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên nước, hạn chế suy giảm công suất khả dụng trong mùa khô; các nhà máy nhiệt điện triển khai đồng bộ công tác bảo dưỡng, sửa chữa, chuẩn bị đầy đủ vật tư, thiết bị và phương án xử lý sự cố, nâng cao độ tin cậy vận hành, hạn chế tối đa sự cố chủ quan. Song song với đó, Tập đoàn tiếp tục theo dõi sát tình hình cung ứng than, khí, phối hợp hiệu quả với các đơn vị cung cấp nhiên liệu và chuẩn bị các phương án dự phòng để đáp ứng nhu cầu vận hành hệ thống điện.
Đối với khâu phân phối và kinh doanh điện, các tổng công ty điện lực và công ty điện lực các địa phương sẽ chuẩn bị đầy đủ phương án cung cấp điện an toàn, liên tục cho các dịp lễ, tết và các sự kiện chính trị - xã hội lớn, đặc biệt là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031. EVN tiếp tục hoàn thiện công tác dự báo phụ tải, quản lý nhu cầu điện, đẩy mạnh các chương trình tiết kiệm điện, sử dụng năng lượng hiệu quả và điều chỉnh phụ tải trong trường hợp cần thiết. Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia tập trung vận hành an toàn, tin cậy hệ thống lưới điện, đặc biệt là lưới truyền tải 500 kV Bắc - Trung - Nam, chủ động các giải pháp giảm thiểu sự cố.
Cùng với đó, đầu tư xây dựng tiếp tục là nhiệm vụ then chốt, với yêu cầu bảo đảm tiến độ và chất lượng các công trình nguồn và lưới điện. EVN đặt mục tiêu hoàn thành phát điện thương mại Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch 1, tiếp tục triển khai đúng tiến độ các dự án nguồn điện trọng điểm, phấn đấu khởi công nhiều dự án mới; đồng thời tập trung hoàn thành và khởi công hàng trăm dự án lưới điện 110-500 kV, ưu tiên các dự án nâng cao năng lực truyền tải, giải tỏa nguồn điện, liên kết - nhập khẩu điện và bảo đảm cung cấp điện cho các khu vực trọng điểm. Công tác nâng cao chất lượng đầu tư được thực hiện đồng bộ thông qua sắp xếp thứ tự ưu tiên dự án, chống lãng phí, nâng cao hiệu quả đấu thầu, thu xếp vốn và tăng cường phối hợp với chính quyền địa phương.
Bên cạnh nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, EVN tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp, hướng tới các chuẩn mực quản trị tiên tiến, minh bạch, hiệu lực và hiệu quả. Cùng với đó là tăng cường tiết kiệm, chống lãng phí, bảo đảm cân bằng tài chính, nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, đẩy mạnh chuyển đổi số, tự động hóa, đổi mới sáng tạo và thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường. Công tác truyền thông, kiểm tra, giám sát, phòng chống tham nhũng, thực thi văn hóa doanh nghiệp và các phong trào thi đua tiếp tục được chú trọng, gắn với trách nhiệm người đứng đầu.
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, tôi trân trọng ghi nhận và cảm ơn những nỗ lực, cống hiến của toàn thể cán bộ, công nhân viên, người lao động EVN trong thời gian qua. Trước những yêu cầu đổi mới và thách thức mới, tôi mong muốn mỗi cán bộ, người lao động trong Tập đoàn tiếp tục phát huy truyền thống 71 năm của ngành Điện Việt Nam, nêu cao tinh thần trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo và đoàn kết, quyết tâm phấn đấu hoàn thành và vượt các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2026, góp phần xây dựng Tập đoàn Điện lực Việt Nam phát triển vững mạnh, toàn diện, đáp ứng yêu cầu cung cấp điện cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Vâng, xin cảm ơn ông!
BBT TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

