Hiệp hội năng lượng Việt Nam - VEA » Văn bản phản biện - kiến nghị

Kiến nghị của VEA về phát triển năng lượng bền vững, bảo vệ môi trường

14:18 |17/12/2018

 - 

Để cụ thể hóa các vấn đề được nêu ra tại Hội thảo quốc tế về “Phát triển năng lượng bền vững và bảo vệ môi trường tại Việt Nam” do Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA) tổ chức ngày 29/11/2018, tại Hà Nội. Sau khi cùng các chuyên gia, nhà khoa học họp bàn, xem xét, phân tích, cân nhắc các ý kiến, VEA đã hoàn thành văn bản số 95/HHNL-BC, ngày 12/12/2018 gửi tới Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, các bộ: Công Thương, Nội Vụ, Tài Nguyên và Môi trường...

Báo cáo hội thảo "Công nghệ nguồn, lưới điện trong hệ thống điện có tỷ lệ nguồn năng lượng tái tạo cao"
Hiệp hội Năng lượng Việt Nam kiến nghị áp dụng công nghệ Nhật Bản trong vận hành hồ thủy điện



Dưới đây là nguyên văn nội dung kiến nghị của VEA:

MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA

1/ Quyết định số 1885/QĐ-TTg ngày 27/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm cung cấp năng lượng của đất nước trong hơn 10 năm qua. Tuy nhiên, đến nay nhiều nội dung trong Chiến lược đã có nhiều thay đổi, cần được nghiên cứu điều chỉnh cho phù hợp, thể hiện trong các nội dung sau:

a) Ngành điện, ngành than, ngành dầu khí là ba trụ cột của năng lượng, của đất nước, làm động lực, làm cơ sở để phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam.

b) Ngành than Việt Nam nhiều năm qua đã có những bước phát triển mạnh mẽ, duy trì được tốc độ 40 triệu tấn than/năm, đảm bảo cung cấp than cho điện và các lĩnh vực kinh tế khác. Mặc dù ngành than đang gặp nhiều thách thức về kỹ thuật, hầu hết khai thác hầm lò, giảm khai thác các mỏ lộ thiên; có nhiều mỏ hầm lò ở dưới độ sâu 300m, điều kiện khai thác hết sức khó khăn. Tài nguyên và trữ lượng than ở khu vực Đông Bắc, Quảng Ninh chỉ còn trên 1 tỷ tấn, dự kiến sau năm 2050, tốc độ khai thác sẽ giảm dần.

Ngành than đã đưa ra mục tiêu chiến lược khai thác đến năm 2030 và tầm nhìn năm 2050. Tới năm 2030, sản lượng than đạt tới 50 - 55 triệu tấn/năm. Hiện tại đang đầu tư cơ giới hóa trong khai thác hầm lò, sử dụng công nghệ trong quản lý, điều hành sản xuất, tạo lên năng suất lao động cao hơn trước.

Ngành than đề xuất phương án nhập khẩu, khai thác than ở nước ngoài về phục vụ cho ngành điện.

Ngành than còn đóng góp khoảng 16% sản lượng điện vào hệ thống điện quốc gia.

- Ngành dầu khí: trong nhiều năm qua duy trì mức về khai thác dầu và khí đạt được 22 triệu tấn dầu, 10 tỷ m3 khí cung cấp cho điện. Hàng năm đạt và vượt kế hoạch Nhà nước; một trong những đơn vị dẫn đầu về đóng góp Ngân sách Nhà nước ở tỷ lệ cao góp phần tăng GDP.

Ngành dầu khí đang thực hiện quyết định số 41 của Bộ Chính trị, phấn đấu đạt mục tiêu tới năm 2030 và tầm nhìn năm 2050 trở thành một ngành kinh tế mũi nhọt ngang tầm với các nước khu vực. Mặc dù hiện nay và xét về lâu dài, công tác thăm dò để tìm mỏ mới đang gặp rất nhiều khó khăn, trong đó có vốn, công nghệ, hiệu quả cần được khắc phục; nhất là việc thăm dò ở vùng nước sâu, vùng xa bờ nhạy cảm về quốc phòng và chính trị. Trong nhiều năm qua, ngành dầu khí ngoài việc phát triển kinh tế còn đóng góp gìn giữ biển đảo tổ quốc.

Được Chính phủ giao, ngành dầu khí đã xây dựng một số nhà máy điện than, thủy điện đã và đang đóng góp khoảng 16% điện lượng cho hệ thống điện quốc gia.

- Ngành điện: xây dựng phát triển chiến lược điện lực Việt Nam tới năm 2030 và tầm nhìn năm 2050. Hiện tại, tổng công suất đặt của hệ thống tới năm 2018 là 47.750MW. Hệ thống lưới điện phát triển khắp 3 miền, trong đó lưới siêu cao áp 500kV đóng vai trò xương sống kết nối Bắc - Nam, kết nối vùng, lưới điện 220-110kV phát triển tới tất cả 63 tỉnh thành; Việt Nam đã liên kết trao đổi điện tới các nước láng giềng như: Trung Quốc, Lào, Campuchia.

Điện khí hóa nông thôn được chú trọng, đặc biệt khu vực phía Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ... đến nay 100% phường, xã có điện, 99,83% số dân có điện; chỉ số tiếp cận điện năng tăng 37 bậc, sếp thứ 27/190 nước trên thế giới; làm tốt dịch vụ chăm sóc khách hàng, minh bạch giá điện được WB đánh giá cao.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi đang còn nhiều rào cản. Để đảm bảo cung cấp đủ điện, than, dầu khí cho phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2030 và tầm nhìn tới năm 2050 còn một số thách thức cần vượt qua.

2/ Quy hoạch điện VII (điều chỉnh) được Chính phủ phê duyệt tại QĐ số 428/QĐ-TTg, dự kiến đến năm 2020 sản lượng điện đạt từ 265 đến 278 tỷ kWh và đến năm 2030 đạt khoảng 571 đến 700 tỷ kWh. Để đáp ứng nhu cầu trên tới năm 2020 công suất điện cần tới 60.000MW, năm 2025 cần 96.500MW và đến năm 2030 là 129.500MW. Như vậy, tổng công suất nguồn điện cần đưa vào vận hành từ nay đến năm 2030 bình quân tăng thêm khoảng 6.000 đến 7.000MW/năm.

Hiện tại (năm 2018) tổng công suất nguồn điện cả nước mới có 47.750MW, sản lượng điện mới có 192,1 tỷ kWh, 12 năm nữa, tới năm 2030 tổng công suất điện tăng gấp trên 3 lần mới đạt được mục tiêu 129.500MW và điện lượng 571.700 tỷ kWh. Vậy cần có những giải pháp đột phá mạnh mẽ mới đảm bảo được mục tiêu nêu trên.

Theo dự báo của Viện Năng lượng, tổng công suất đặt tới năm 2040 khoảng 215.400MW, điện lượng khoảng 940.600 tỷ kWh; tới năm 2050 là 285.800MW, điện lượng 1.183.600 tỷ kWh. Những số liệu này cần được đưa vào quy hoạch tổng sơ đồ điện VIII.

3/ Cần xác định tỷ lệ công suất từng loại nguồn điện, cơ cấu thật hợp lý, đảm bảo cân bằng cung cấp điện ổn định, bền vững.

- Cần căn cứ vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế cả nước, tăng trưởng kinh tế khu vực, tăng trưởng kinh tế địa phương trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn để làm căn cứ tính toán tốc độ và sản lượng phát triển điện năng tương ứng với tốc độ tăng trưởng nêu trên một cách hợp lý, với điều kiện điện lực phải đi trước một bước nên cần được ưu tiên trong quá trình phát triển.

Về dự báo cơ cầu nguồn điện tạm tính như sau:

+ Cơ cấu tới năm 2030 và sau năm 2030, tỷ trọng nhiệt điện than chiếm khoảng 60% - 70%.

+ Thủy điện 20% không thay đổi, xu hướng sẽ giảm dần do biến đổi khí hậu, hiện tượng enninô, hạn hán xẩy ra thường xuyên...

+ Điện khí (kể cả khí hóa lỏng LNG) chiếm khoảng 30% - 40%.

+ Năng lượng tái tạo 20% - 30%.

+ Điện nhập khẩu 15% - 20% (từ Trung Quốc, Lào, Campuchia...)

Các dự báo trên có thể điều chỉnh mềm theo quá trình phát triển và biến động kinh tế - xã hội của từng khu vực, từng địa phương và toàn quốc để lựa chọn quy mô, số lượng, mức đầu tư của từng dự án để đạt được mục tiêu như dự báo, kể cả các dự án của Tổng sơ đồ điện VII (điều chỉnh), còn lại và các dự án sẽ được đưa vào trong Tổng sơ đồ điện VIII.

Trong tổng cân bằng năng lượng yêu cầu có đủ công suất và điện lượng cho phát triển kinh tế - xã hội, cần phải có nguồn năng lượng dự phòng từ 20% đến 30% của hệ thống, như vậy mới đảm bảo an ninh năng lượng và bền vững.

a. Thách thức đối với nhiệt điện than có 2 vấn đề: nguồn cung cấp than và xử lý môi trường của các nhà máy nhiệt điện than.

- Giải pháp thực hiện: để đảm bảo nguồn cung cấp than được ổn định lâu dài và bền vững. Chính phủ cần có chiến lược thực hiện như sau:

+ Giao đầu mối chịu trách nhiệm cân đối nhu cầu than của từng nhà máy phát điện, trong tổng thể các nhà máy nhiệt điện cả nước từ nay cho tới năm 2030 và sau năm 2030. Trong đó gồm lượng than tiêu thụ thường xuyên và lượng than dự phòng, để cân đối tỷ lệ than trong nước sản xuất được và tỷ lệ than nhập khẩu.

+ Theo ngành than tới năm 2030 khai thác trong nước tối đa được từ 50 - 55 triệu tấn/năm, trong đó than cho điện khoảng 50% tới 60%.

Từ năm 2019, than nhập khẩu đã lên tới 50 triệu tấn/năm, năm 2020 là 60 triệu tấn/năm, tới năm 2025 là 70 triệu tấn/năm, năm 2030 là 80 - 100 triệu tấn/năm.

Như vậy, tỷ lệ than nhập khẩu sẽ rất cao, chiếm 60% đến 70%, do đó nghiên cứu việc khai thác than ở các nước trên thế giới một cách hợp lý nhất để đạt được độ chắc chắn cả về nguồn than và giá than. Giao cho ngành than thực hiện dưới sự hỗ trợ của Bộ Công Thương, tìm kiếm các mỏ than ở các nước như Úc, Indonexia, Trung Quốc, khu vực Viễn Đông miền Nam Liên bang Nga, Ucraina... để mua lại mỏ, hoặc mua mỏ mới để khai thác, như vậy mới có nguồn than ổn định; còn việc mua trên thị trường thì lúc được lúc không sẽ rất khó khăn. Ngoài TKV, Chính phủ nên giao cho PVN, EVN, Tổng công ty Đông Bắc có nhiệm vụ tổ chức khai thác nhập khẩu than chia sẻ gánh nặng với TKV để đảm bảo có nguồn than ổn định và lâu dài cung cấp các nhà máy nhiệt điện than.

Đề nghị Chính phủ cho triển khai quy hoạch hệ thống trung chuyển than, vận tải than, kho chứa than kể cả đường sắt, đường bộ, đường thủy để phục vụ cho việc nhập khẩu than trên cơ sở quy hoạch các trung tâm nhiệt điện than.

Chính phủ giao nhiệm vụ giải quyết bài toán than cho điện là cấp bách, giao nhiệm vụ cần có cơ chế, chính sách, mục tiêu, tiến độ cụ thể, đặc biệt hỗ trợ vốn để thực hiện.

Để khắc phục môi trường nhiệt điện than: xử lý tro xỉ, tro bay, từ năm 2010 tới năm 2017, Chính phủ đã ban hành một số quyết định sử dụng tro xỉ để làm vật liệu không nung, san lấp mặt bằng, làm móng cho đường giao thông, cho xây dựng nhà cửa nhưng đến nay hiệu quả thực hiện đạt rất thấp. Nay, Chính phủ cần ban hành những quyết định kèm theo những chế tài, xử lý nghiêm ngặt: một là để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư khai thác tận dụng tối đa tro xỉ, tro bay làm vận liệu không nung thay cho vật liệu nung; sử dụng tro xỉ làm nền móng cho đường giao thông và cho xây dựng nhà cửa, đồng thời giao các chủ đầu tư các nhà thầu xây dựng các công trình trong nước tận dụng tối đa các vật liệu nêu trên. Làm được như vậy thì sẽ khắc phục được tình trạng ùn ứ tro xỉ của các nhà máy nhiệt điện than.

Thế giới đang hội nghị toàn cầu chống biến đổi khí hậu COP 23,24, chống phát thải khí CO2 gây hiệu ứng nhà kính. Đối với nhà máy nhiệt điện than có ba loại khí phát thải: CO2, SO2, NOX. Từ trước tới nay, công nghệ lò hơi của các nhà máy nhiệt điện than sử dụng lò hơi công nghệ thấp (tầng sôi) nay cần đổi mới công nghệ lò hơi tiên tiến, lò hơi “siêu tới hạn” hoặc “siêu siêu tới hạn” của các nước G7 sản xuất (Anh, Mỹ, Đức...) các lò hơi đó có hiệu suất lò rất cao, đốt cháy hết than, khử được hầu hết các loại khí nêu trên không gây ô nhiễm môi trường. Nếu khử không hết thì lắp bộ khử bên ngoài nhà máy, như Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại 2.

Qua phân tích trên, với tỷ trọng 60% - 70%, nhiệt điện than của hệ thống điện không có gì quan ngại.

b. Nhiệt điện khí chiếm tỷ trọng khoảng 30% - 40% (hiện tại khoảng 19%). Khí đồng hành chỉ đạt trên dưới 10 tỷ m3/năm và xu hướng ngày càng ít dần để nâng tỷ trọng lên 30%-40%, cần phải nhập khí hóa lỏng LNG là nguồn khí dồi dào trên thế giới, tuy giá khí cao hơn giá nhiên liệu khác nhưng đảm bảo ổn định và môi trường trong sạch. Từ nay tới năm 2030 cần xây dựng thêm khoảng 20 tới 30.000MW điện khí LNG. Ngay từ bây giờ, Chính phủ, Bộ Công Thương cho quy hoạch các nhà máy điện khí, cơ sở hạ tầng để nhập khí hỏa lỏng LNG; nên giao cho PVN thực hiện nhiệm vụ này để khi các nhà máy điện khí mới xuất hiện thì việc chuẩn bị đã được đồng bộ, không để xảy ra các bất thường trong khai thác nguồn điện này.

Chính phủ giao cho PVN tìm kiếm đối tác để khai mỏ khí Cá Voi Xanh trong thời gian sớm nhất để làm tăng thêm nguồn điện khoảng 3000 đến 4000MW; PVN triển khai khí “Lô B” để phục vụ cho Trung tâm Điện lực Ô môn 3.600MW.

Về thủy điện vừa và nhỏ, ngoài những dự án nằm trong vùng lõi, vừa qua Bộ Công Thương đã loại ra, thì nên cho khảo sát lại những dự án nào không gây ra chặt phá rừng, ảnh hưởng tới lũ lụt, tới đời sống nhân dân, có hiệu quả về phát điện thì nên cho đầu tư xây dựng để tăng thêm nguồn điện.

c. Để thực hiện thành công các mục tiêu trong Tổng sơ đồ điện VII (điều chỉnh) tới năm 2030, Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, các tập đoàn kinh tế lớn của nhà nước: rà soát lại các dự án điện, khí, than, đặc biệt là điện, nêu rõ dự án nào chậm tiến độ, lý do gì cần được khắc phục, dự án nào chưa khởi động, dự án nào đang xây dựng dở dang, dự án nào đang nằm trên giấy... từ đó cần có kế hoạch, giải pháp, giao nhiệm vụ cụ thể thời gian thực hiện, tháo gỡ khó khăn để đảm bảo mục tiêu đề ra.

Ngoài yếu tố về kinh tế - kỹ thuật, về vốn, thì một yếu tố quan trọng đó là vai trò lãnh đạo, chỉ đạo từ Chính phủ, các bộ, ngành, các chủ đầu tư, các địa phương, các nhà thầu hết sức quan trọng. Kinh nghiệm từ bài học xây dựng đường dây siêu cao áp 500kV Bắc - Nam dài trên 1.500km, xây dựng hoàn thành trong 2 năm để làm bài học cho các dự án năng lượng sau này.

d. Chiến lược, mục tiêu, tỷ lệ các nguồn năng lượng tái tạo khoảng 5% vào năm 2020 và 11% vào năm 2050. Tuy nhiên, sau hơn 10 năm, các dự án NLTT xuất hiện còn rất ít, khi có QĐ số 2068/QĐ-TTg của Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển năng lượng tái tạo tại Việt Nam năm 2030 và tầm nhìn năm 2050, tỷ lệ NLTT năm 2020 đạt 31% và năm 2050 đạt 44%, gấp nhiều lần so với quyết định phê duyệt trước đây. Hiện tại, nhiều dự án về điện gió, điện mặt trời của nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đã được Chính phủ phê duyệt lên đến hàng chục nghìn MW, nhưng trên thực tế việc triển khai xây dựng còn rất ít. Gần đây xuất hiện dự án điện gió Kê Gà ngoài khơi tỉnh Bình Thuận do Tập đoàn Enterprize đầu tư 11,9 tỷ USD, với công suất 3.400MW, dự án này có khả năng hiện thực rất cao, Chính phủ nên hỗ trợ, sớm phê duyệt dự án đầu tư và bổ sung vào Tổng sơ đồ điện VII (điều chỉnh). Nên hiểu rằng, năng lượng truyền thống vẫn là năng lượng chiếm vai trò chủ đạo trong hệ thống năng lượng quốc gia. Công tác vận hành khai thác có hiệu quả của nguồn NLTT; EVN cần nghiên cứu công nghệ, kinh nhiệm của các nước tiên tiến trên thế giới, nhất là các nước có nhiều nguồn NLTT.

ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

1/ Kiến nghị Thủ tướng Chính phủ:

a) Giao Bộ Công Thương tổ chức xây dựng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 thay thế cho Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1885/QĐ-TTg ngày 27/12/2007.

b) Chỉ đạo các bộ, cơ quan liên quan hoàn thiện khung chính sách cho phát triển nguồn năng lượng tái tạo, trong đó có một số nội dung sau:

- Xây dựng một khuôn khổ chính sách ổn định, lâu dài cho năng lượng tái tạo, để tăng sự tự tin cho nhà đầu tư và cho phép việc phát triển nhanh nguồn năng lượng này.

- Bỏ trợ cấp nhiên liệu hóa thạch và ban hành giá phát thải khí CO2 trên cơ sở các tổ chức, cá nhân sử dụng nhiên liệu hóa thạch cho mục đích năng lượng phải trả phí phát thải, để đảm bảo bình đẳng cho năng lượng tái tạo.

- Ban hành các yêu cầu phát triển bền vững và tiêu chuẩn của các dự án nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.

- Sửa đổi, bổ sung các cơ chế hỗ trợ các dự án nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo; trong đó giá bán điện đối với các dạng năng lượng không đồng nhất mà phụ thuộc vào quy mô (giá mua điện giảm khi tăng quy mô); phụ thuộc vào từng khu vực (như khu vực có tốc độ gió bình quân cao; cường độ bức xạ năng lượng mặt trời cao có giá điện thấp hơn khu vực, có tốc độ gió bình quân thấp; cường độ bức xạ năng lượng mặt trời thấp,...).

- Thực hiện đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư phát triển dự án đối với các dự án có quy mô lớn và được nhiều nhà đầu tư quan tâm.

- Ưu tiên phát triển các dự án tại các khu vực có khả năng thiếu điện. Khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời phân tán và các dự án điện mặt trời tại các khu vực khả thi về đấu nối, đặc biệt hỗ trợ và khuyến khích khách hàng sử dụng điện (sinh hoạt, khu công nghiệp, thương mại dịch vụ) đầu tư phát triển các dự án điện mặt trời áp mái, đặc biệt tại khu vực miền Nam, miền Trung.

c) Chỉ đạo các địa phương phối hợp với các chủ đầu tư để triển khai sớm các dự án nhiệt điện than trong Quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, nhằm đảm bảo cung cấp đủ điện cho phát triển kinh tế - xã hội, không để xảy ra trào lưu không cho phép phát triển nhiệt điện than tại các địa phương.

d) Thực hiện bảo lãnh Chính phủ đối với các dự án năng lượng có hiệu quả và có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

đ) Giao Bộ Công Thương chủ trì xây dựng đề án cung ứng than (tuyến, phương tiện vận chuyển, cảng, kho bãi trung chuyển than,...) nhằm đảm bảo cung ứng hiệu quả và đầy đủ than cho phát điện trong trung và dài hạn.

e) Giao Bộ Công Thương chủ trì xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư xây dựng kho cảng LNG trong trung hạn.

g) Chỉ đạo Bộ Tài chính rà soát, điều chỉnh hoặc trình cấp có thẩm quyền điều chỉnh lại các chính sách, thuế, phí cho hợp lý, tạo điều kiện cho ngành than phát triển ổn định.

h) Giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu đầu tư khai thác than tại nước ngoài để đảm bảo nguồn cung chắc chắn và tin cậy trong dài hạn.

2. Kiến nghị Bộ Công Thương:

- Chỉ đạo các ngành, địa phương tăng cường thực hiện các giải pháp sử dụng năng lượng an toàn, tiết kiệm và hiệu quả và quản lý nhu cầu (DSM). Trong các năm tới, ưu tiên cho khu vực miền Nam.

- Chỉ đạo các chủ đầu tư đảm bảo tiến độ đưa vào vận hành các công trình nguồn điện đã được phê duyệt quy hoạch; đặc biệt các nguồn điện khu vực phía Nam như các dự án nhiệt điện: Long Phú 1, Sông Hậu 1, BOT Duyên Hải 2; Đảm bảo tiến độ phát điện trở lại nhà máy thủy điện Xekaman 3 tại Lào.

- Chỉ đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đảm bảo cung cấp đủ khí cho phát điện; thực hiện các giải pháp để bổ sung kịp thời nguồn khí mới, bù đắp cho các nguồn khí hiện hữu tại khu vực Đông Nam bộ và Tây Nam bộ đang bị suy giảm.

- Đề xuất, trình Thủ tướng Chính phủ cơ chế về khung giá mua điện từ các dự án thủy điện tại Lào để đẩy nhanh việc đàm phán với phía Lào (các chủ đầu tư các nguồn điện, EDL) nhằm thu gom các nguồn điện tại Nam Lào vào các đường dây đấu nối để nhập khẩu về Việt Nam qua các ĐZ 220kV hiện hữu.

- Chỉ đạo EVN thực hiện các giải pháp và đàm phán nhằm tăng cường nhập khẩu điện từ Trung Quốc.

- Phê duyệt hoặc trình cấp có thẩm quyền phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Qui hoạch và chỉ đạo tập trung đầu tư công trình lưới điện 220 - 110kV để đấu nối truyền tải các nguồn điện năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời).

- Tạo điều kiện để phát triển các dự án điện gió, điện mặt trời, ưu tiên phát triển các dự án gần trung tâm phụ tải, thuận tiện đấu nối.

- Giải quyết hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền giải quyết các vướng mắc và có cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo tiến độ Chuỗi dự án khí Lô B, khí Cá Voi Xanh và các dự án nguồn điện đồng bộ.

- Tiếp tục nghiên cứu các địa điểm có tiềm năng để đầu tư phát triển các Trung tâm Điện lực để bổ sung thêm nguồn điện cung cấp cho Hệ thống điện quốc gia, trong đó có cả tìm kiếm địa điểm phù hợp để đầu tư hệ thống kho, cảng và nhà máy điện khí, sử dụng nguồn khí hóa lỏng (LNG) nhập khẩu tại khu vực phía Nam.

- Chỉ đạo Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố khẩn trương tổ chức lập, thẩm định, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Quy hoạch tiềm năng phát triển nguồn năng lượng tái tạo cấp tỉnh. Tổ chức lập, thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tiềm năng phát triển nguồn năng lượng tái tạo quốc gia.

- Đôn đốc các bộ, cơ quan có liên quan xây dựng hoặc công bố để áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn có liên quan đến các công trình phát triển và sử dụng nguồn năng lượng tái tạo thuộc thẩm quyền của bộ, cơ quan này.

- Nghiên cứu ban hành/ hoặc chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam ban hành các cơ chế, chính sách để phát triển đồng bộ hệ thống truyền tải, phân phối điện và các công cụ đảm bảo sự vận hành ổn định hệ thống điện khi nguồn điện gió, điện mặt trời có tỷ lệ cao; phát triển hệ thống lưu trữ năng lượng (ESS), thủy điện tích năng, song song, đồng bộ với phát triển NLTT.

- Nghiên cứu, ban hành/ hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành quy định về cơ chế đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư phát triển các dự án năng lượng tái tạo.

- Chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tổng Công ty Truyền tải điện Quốc gia đẩy nhanh tiến độ đầu tư các công trình lưới điện để bảo đảm truyền tải hết công suất phát của các nhà máy điện và các dự án năng lượng tái tạo trên địa bàn các tỉnh sẽ hoà vào Hệ thống điện quốc gia trong các năm tới.

- Chỉ đạo nghiên cứu phát triển các dự án điện gió, điện mặt trời quy mô lớn tại khu vực phía Nam, đưa vào vận hành từ năm 2019 - 2023, nhằm đáp ứng nhu cầu điện cho khu vực này khi nhiều nhà máy nhiệt điện đang xây dựng đưa vào chậm so với tiến độ đã được phê duyệt.

3. Kiến nghị chung:

- Những dự án được phê duyệt trong Tổng sơ đồ điện VII (điều chỉnh) là những dự án quan trọng, để có đủ vốn triển khai xây dựng dự án, Chính phủ nên cho bảo lãnh vay vốn để các chủ đầu tư có đủ vốn thực hiện.

- Theo điều 52 Luật Xây dựng (số 50/2014/QH13), đối với các dự án nhóm A, trước khi lập báo cáo khả thi thì phải lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi. Hiện nay các dự án đã được phê duyệt trong quy hoạch điện lưới quốc gia đều là những dự án quan trọng của nhà nước, do vậy cho phép bỏ qua giai đoạn báo cáo nghiên cứu tiền khả thi.

- Bộ định mức đơn giá vật liệu, xây dựng, nhân công, ca máy, thiết bị đã ban hành từ lâu nay không còn phù hợp do giá cả thị trường thay đổi, biện pháp thi công thay đổi... Đề nghị Bộ Xây dựng lập lại bộ đơn giá định mức mới để các nhà đầu tư lập tổng dự toán, tổng mức đầu tư sát thực tế hơn.

- Về vốn: hiện tại rất nhiều các dự án xây dựng các nhà máy điện, đường dây và trạm các dự án về than, lọc hóa dầu... đều thiếu vốn nghiêm trọng không đảm bảo tiến độ đề ra. Bộ Công Thương cho biết vốn cho ngành điện thực hiện Tổng sơ đồ điện VII, giai đoạn từ 2016 đến năm 2020 cần 148 tỷ USD, suy ra từ năm 2020 đến năm 2030 cần khoảng 296 tỷ USD, đây là những con số rất lớn cần có giải pháp đặc biệt mới tháo gỡ được.

- Giá năng lượng: năng lượng là môi trường đầu tư khó khăn, khốc liệt đòi hỏi công nghệ, kỹ thuật cao, thiết bị hầu hết nhập khẩu từ nước ngoài, hàng năm cần tới càng chục tỷ USD chủ yếu là vốn vay, giá năng lượng còn thấp, nên không thu hút được các nhà đầu tư trong và ngoài nước, khó sinh lời, thu hồi vốn chậm, thiếu hấp dẫn các nhà đầu tư. Hiện có nhiều dự án BOT về điện kéo dài nhiều năm vẫn chưa triển khai, bởi tình trạng trên; cho nên các dự án về điện nằm trong Tổng sơ đồ điện VII (điều chỉnh) tập trung vào EVN, PVN, TKV... thực hiện là chủ yếu. Đề nghị Chính phủ có chính sách điều chỉnh giá năng lượng, giá điện hiện tại đang ở mức thấp, trên 7 scenst/kWh, trong khi giá khu vực trên 11 scenst/kWh.

- Hiện tại thuế phí của ngành than còn rất lớn, chiếm 16% giá thành tiêu thụ than, cần có chính sách giảm thuế và phí, khu vực than hầm lò là 4%, than lộ thiên 6%.

Cần có cơ chế đặc thù đối với đối tượng làm nghề nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm, như công nhân hầm lò về tiền lương, BHXH, thâm niên, nhà ở...

- Những dự án về NLTT, điện gió, điện mặt trời chưa được Chính phủ phê duyệt, trong đó có dự án điện gió Kê Gà ngoài khơi tỉnh Bình Thuận cần được Chính phủ phê duyệt sớm, bổ sung vào Tổng sơ đồ điện VII (điều chỉnh) để các nhà đầu tư sớm có cơ sở thực hiện, đảm bảo các dự án trở thành hiện thực.

- Từ trước đến nay, các thiết bị năng lượng, nhất là các dự án nhiệt điện than đều phải nhập khẩu 100%, tỷ lệ nội địa hóa rất thấp, mặc dù Chính phủ đã ra chủ trương nội địa hóa từ lâu. Nay, để thực hiện Cách mạng công nghiệp 4.0, đề nghị Chính phủ cho lập các trung tâm nghiên cứu, thiết kế, chế tạo thiết bị năng lượng như: tấm pin mặt trời, hệ thống Inverst, hệ thống lưu điện, trụ gió, tua bin gió... và nội địa hóa ít nhất 50% đến 60% thiết bị phụ kiện trong các nhà máy nhiệt điện than. Việc này, cần có giải pháp và triển khai sớm, tạo nên sự đột phá, góp phần vào phát triển ngành năng lượng Việt Nam trong giai đoạn mới.

VP HIỆP HỘI NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM



®   Khi đăng lại tin, bài, hay trích dẫn số liệu phải ghi rõ nguồn: TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM và dẫn link tới bài gốc trên NangluongVietnam.vn

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3