Hiệp hội năng lượng Việt Nam - VEA

Kiến nghị giải pháp phát triển bền vững ngành Năng lượng Việt Nam

13:24 |03/01/2020

 - 

Ngày 27/12/2019, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã về dự “Hội nghị tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2019 và triển khai kế hoạch năm 2020 ngành Công Thương”. Tại hội nghị, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam - Trần Viết Ngãi đã có bài tham luận nêu lên một số thành tựu và khó khăn, vướng mắc của ngành Điện Việt Nam trong thời gian qua; đồng thời đưa ra một số giải pháp, kiến nghị với Thủ tướng để hỗ trợ ngành năng lượng nói chung và ngành điện nói riêng tiếp tục phát triển bền vững, tạo động lực cho phát triển các ngành kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia trong tương lai tới. Tạp chí Năng lượng Việt Nam xin đăng nguyên văn nội dung bài tham luận nêu trên để bạn đọc cùng tham khảo.

Dự án điện gió ThangLong Wind cần có sự quan tâm của Đảng, Chính phủ


TRẦN VIẾT NGÃI - CHỦ TỊCH HIỆP HỘI NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Năng lượng vừa là ngành sản xuất, vừa là ngành kết cấu hạ tầng cho toàn bộ nền kinh tế - xã hội, là động lực cho quá trình phát triển của đất nước. Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong thời gian qua đã tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ ngành năng lượng, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Trong năm qua, ngành năng lượng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: Nhu cầu điện tăng trưởng cao, nước về các hồ thủy điện thấp, tình hình cung cấp nhiên liệu, nhất là cung cấp than cho các nhà máy nhiệt điện gặp khó khăn.

Tình hình Biển Đông có những diễn biến phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tìm kiếm, thăm dò dầu khí; trữ lượng, tiềm năng dầu khí ở vùng nước nông không còn nhiều; nhiều mỏ dầu khí chủ lực đang trong giai đoạn suy kiệt, sản lượng giảm mạnh.

Nhu cầu than trong nước tăng cao, trong khi năng lực sản xuất than của các mỏ đã đến giới hạn; điều kiện khai thác ngày càng khó khăn hơn do tài nguyên chủ yếu nằm ở tầng sâu hơn.

Tuy nhiên, với sự nỗ lực của các tập đoàn: Điện lực Việt Nam, Dầu khí Việt Nam, CN Than - Khoáng sản Việt Nam và các doanh nghiệp... ngành Năng lượng Việt Nam về cơ bản đã bảo đảm cung cấp đủ nhu cầu năng lượng cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Đến cuối năm 2019, tổng công suất nguồn điện Việt Nam đạt khoảng 54,880 MW, quy mô hệ thống điện Việt Nam đứng thứ 2 khu vực Asean và thứ 23 trên thế giới, tăng 40% so với năm 2015, năm 2019 đã đưa vào vận hành trên 5.000 MW công suất nguồn điện mặt trời, điện gió.

Trong năm 2019, sản lượng điện toàn hệ thống đạt 231,1 tỷ kWh, tăng 8,85% so với năm 2018; toàn ngành than khai thác khoảng 44 triệu tấn, tăng 10%; ngành dầu khí khai thác gần 25 triệu tấn dầu quy đổi, bao gồm 15 triệu tấn dầu thô, trong đó có 2 triệu tấn khai thác ở nước ngoài và 10 tỷ m3 khí đốt. Các tập đoàn chủ chốt trong ngành năng lượng đều hoàn thành vượt kế hoạch được giao.

Các khó khăn, vướng mắc của ngành điện và đề xuất, kiến nghị các giải pháp tháo gỡ, nhằm đảm bảo cung cấp đủ điện cho phát triển KT-XH năm 2020 tới năm 2030.

Một số thành tựu của ngành điện:

Thứ nhất: Đã cung cấp đủ điện cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội với chất lượng ngày càng được cải thiện.

Thứ hai: Nhu cầu điện tăng nhanh, thu hẹp dần khoảng cách với các nước trong khu vực và trên thế giới, cơ cấu tiêu thụ điện chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá; việc sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả đã được quan tâm.

Thứ ba: Đầu tư phát triển điện duy trì ở mức cao, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng đầu tư toàn xã hội; Tập đoàn Điện lực Việt Nam phát triển mạnh, đóng vai trò trụ cột trong đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Thứ tư: Thị trường điện phát triển với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế; chính sách giá điện đã có nhiều chuyển biến tích cực, từng bước theo cơ chế thị trường.

Thứ năm: Công tác bảo vệ môi trường trong ngành năng lượng có chuyển biến tích cực, gắn kết với việc thực hiện các chiến lược phát triển bền vững và cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Các khó khăn, vướng mắc chính:

1/ Về công tác quy hoạch:

Luật Quy hoạch năm 2017 có hiệu lực từ ngày 1/1/2019 đã ảnh hưởng lớn đến công tác lập, thẩm định và bổ sung vào quy hoạch các dự án điện, dẫn đến kéo dài tiến độ thực hiện các công trình điện.

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 37/2019/NĐ-CP (Nghị định 37) ngày 7/5/2019 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quy hoạch. Tuy nhiên, quá trình thực hiện gặp một số vướng mắc chính như sau:

Quy định về chuyển tiếp: Nghị định 37 chưa quy định việc giải quyết chuyển tiếp điều chỉnh, bổ sung quy hoạch các dự án trong Quy hoạch điện VII (điều chỉnh) trước khi có Qy hoạch điện VIII và các Quy hoạch tỉnh được phê duyệt.

Về phạm vi: Nghị định 37 không quy định phạm vi dự án điện thuộc quy hoạch ngành (quy hoạch điện lực quốc gia) hoặc quy hoạch tỉnh.

Do chưa có quy định rõ ràng phạm vi dự án điện (nguồn điện theo quy mô công suất, lưới điện theo cấp điện áp) trong Quy hoạch điện lực Quốc gia, hoặc quy hoạch tỉnh dẫn đến khó khăn trong quá trình lập, thẩm định và trình phê duyệt điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cho các dự án này.

Về trình tự thủ tục bổ sung dự án vào quy hoạch: Theo quy định tại Luật Quy hoạch và Nghị định số 37, việc điều chỉnh cục bộ các dự án vào quy hoạch giống như lập mới sẽ rất phức tạp, qua nhiều bước, nhiều cấp, làm kéo dài thời gian chuẩn bị đầu tư.

2/ Vướng mắc trong qui định pháp luật về đầu tư xây dựng:

Các quy định hiện hành về đầug tư xây dựng (ĐTXD) còn thiếu tính thống nhất, chưa rõ ràng, chồng chéo, gây nhiều khó khăn và dẫn tới công tác chuẩn bị đầu tư bị kéo dài (vướng mắc giữa Luật đầu tư, Luật Xây dựng, Luật quản lý và sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp, Luật Đầu tư công...).

Công tác thẩm định thiết kế (TKCS, TKKT) và công tác thẩm định phê duyệt dự án đầu tư hiện nay thuộc 2 cơ quan khác nhau với các chức năng và nhiệm vụ khác nhau là Bộ Công Thương và Uỷ Ban Quản lý vốn Nhà nước tại Doanh nghiệp trong việc xem xét khía cạnh kỹ thuật và hiệu quả đầu tư của dự án.

Vướng mắc trong việc xác định thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư đối với dự án “công nghiệp điện” thuộc nhóm A, từ 2.300 đến 5.000 tỷ đồng, đầu tư xây dựng trên địa bàn nhiều tỉnh theo quy định của Luật đầu tư.

Vướng mắc trong quy định về điều kiện đặc thù, riêng biệt tại Điều 25 Luật đấu thầu và quy định về công trình đặc thù tại khoản 1 Điều 128 Luật xây dựng.

Trùng lặp trong việc xem xét bổ sung quy hoạch và xem xét quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm A, các dự án quan trọng quốc gia.

Vướng mắc trong việc lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường trong giai đoạn quyết định chủ trương đầu tư theo quy định của Luật bảo vệ môi trường.

Quá trình đàm phán bộ hợp đồng BOT và cấp giấy phép đầu tư bị kéo dài do liên quan đến nhiều bộ, ngành. Các vướng mắc chủ yếu đến từ các vấn đề chính sách ưu đãi, chuyển đổi ngoại tệ, chấm dứt sớm hợp đồng, ý kiến pháp lý… Thời gian xem xét, cho ý kiến của các cơ quan quản lý nhà nước đối với các vấn đề liên quan thường kéo dài.

3/ Về công tác đền bù giải phòng mặt bằng:

Quá trình thực hiện đền bù, giải phóng mặt bằng (GPMB) còn nhiều khó khăn vướng mắc do các văn bản quy phạm pháp luật chưa đầy đủ và chưa phù hợp, như quy định về đơn giá đền bù tại một số địa phương chưa phù hợp.

Khó khăn và kéo dài trong công xác định giá và lập phương án đền bù.

Việc quản lý đất đai còn một số hạn chế, bất cập dẫn đến tranh chấp, khiếu nại trong nhân dân.

Việc lập và bổ sung quy hoạch đất đai còn chưa cụ thể, chưa đủ chi tiết, dẫn đến việc bị chồng lấn với các quy hoạch khác.

Trình tự thủ tục kéo dài trong việc xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

Về phía người dân còn chưa hợp tác, ủng hộ do đơn giá bồi thường chưa sát với thực tế, hoặc có tình trạng kéo dài thời gian đàm phán, thỏa thuận để nâng giá đền bù cao hơn nhiều so với thực tế...

Quy định về thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất liên quan đến đất rừng, đất nông nghiệp làm cho công tác thỏa thuận mặt bằng các tuyến đường dây và các thủ tục chuyển đổi gặp nhiều khó khăn và thời gian thực hiện kéo dài.

Theo quy định hiện hành, đất nằm ngoài hành lang lưới điện, nhưng kẹp giữa 2 đường dây 500 kV trở lên được xem xét bồi thường, hỗ trợ. Tuy nhiên, hiện chưa có quy định cụ thể về việc hỗ trợ, bồi thường.

Hiện hầu hết các dự án điện gặp nhiều khó khăn về GPMB, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ thi công các công trình. Đây là một trong các nguyên nhân chính làm chậm tiến độ các dự án điện.

4/ Về thu xếp vốn đầu tư:

Khả năng đáp ứng đủ vốn cho phát triển điện là thách thức lớn. Chính phủ có tầm nhìn xa được xác định trong Quy hoạch điện VII (điều chỉnh) đưa ra mục tiêu tới năm 2030 đất nước phải đạt được 130.000 MW điện. Tổng vốn đầu tư bình quân khoảng 110 tỷ USD (bình quân mỗi năm đầu tư khoảng 11 tỷ USD). Như vậy, mỗi năm nguồn điện được bổ sung khoảng 7.000 MW mới đạt được mục tiêu trên. Do đó, yếu tố thu xếp vốn vô cùng quan trọng, nhưng trước mắt đang gặp nhiều vướng mắc.

Việc thu xếp vốn của các tập đoàn rất khó khăn, nhất là tại các dự án lớn, do Chính phủ tạm dừng chủ trương bảo lãnh vay vốn. Nếu không được Chính phủ bảo lãnh vay vốn, các dự án nhà máy điện sẽ không vay được vốn tín dụng xuất khẩu của các nước cung cấp thiết bị; phải chuyển sang vay vốn thương mại với lãi suất cao, thời gian vay ngắn, dẫn đến giảm hiệu quả đầu tư của các dự án.

Các nguồn vốn ưu đãi (ODA) nước ngoài để đầu tư các dự án điện rất hạn chế, thậm chí một số khoản vay đã có cam kết của các ngân hàng, tổ chức tài chính quốc tế, nhưng không được các cơ quan quản lý nhà nước chấp thuận.

Việc thu xếp các nguồn vốn trong nước cũng rất khó khăn, do tại hầu hết các ngân hàng trong nước đã vượt hạn mức tín dụng đối với chủ đầu tư và các đơn vị liên quan.

5/ Về biến đổi khí hậu:

Hạn hán xẩy ra liên tục, hiện tượng El nino dẫn đến hầu hết các hồ thủy điện bị cạn nước, các lưu vực lượng nước về thấp; việc kiểm soát lũ, vận hành hồ chứa, tiết kiệm nước chưa được vận hành chặt chẽ, dẫn đến năm 2019 sản lượng thủy điện giảm 16,3 tỷ kWh. Đây là một báo động lớn, tình trạng này còn kéo dài trong nhiều năm tới cần có giải pháp đặc hiệu để xử lý vấn đề này.

6/ Về khó khăn và tiềm ẩn rủi ro:

Các nguồn nhiệt điện truyền thống sử dụng than, khí giữ vai trò chủ đạo trong việc đảm bảo an ninh năng lượng điện tới năm 2030. Tuy nhiên, việc cung cấp than, khí cho phát điện đang gặp rất nhiều khó khăn:

Về cung cấp than: Dự kiến năm 2020 yêu cầu than khoảng 60 triệu tấn; năm 2025 khoảng 70 triệu tấn. Tới năm 2030 khoảng 100 triệu tấn. Trong khi khả năng cung cấp than trong nước chỉ đáp ứng 30 - 35 triệu tấn. Như vậy, nhu cầu than nhập khẩu trở lên cấp bách, trong khi phương án đầu tư xây dựng cảng trung chuyển than vẫn chưa được triển khai.

Về cung cấp khí: Nguồn cung cấp khí cho phát điện từ khí đốt là thành phần quan trọng với tỷ lệ tham gia trong cơ cấu nguồn phát là khoảng 13% về công suất, 18% về sản lượng. Tuy nhiên, những năm gần đây nguồn khí trong nước đã dần suy giảm, dự báo còn tiếp tục suy giảm trong thời gian tới.

Các dự án khí Lô B, Cá Voi Xanh tiến độ triển khai chậm so với dự kiến.

Các dự án điện sử dụng khí hóa lỏng LNG tại Sơn Mỹ (Bình Thuận); Cà Ná (Ninh Thuận); Tam Phước (Long An); Bạc Liêu… đang chuẩn bị đầu tư. Tuy nhiên, việc phát triển các dự án khí LNG rất phức tạp, cần phải đồng bộ giữa các khâu, trong khi Việt Nam chưa có kinh nghiệm. Trong Quy hoạch điện VIII, cần tính toán nhu cầu cần thiết trong mối quan hệ với các dự án nhiệt điện khí Lô B, Cá Voi Xanh, các nhà máy điện than. Tránh tình trạng đưa ra tràn lan, gây lãng phí nguồn lực.

Về cung cấp dầu: Trong các năm tới, do các nguồn điện than vào chậm, cần phải tăng cường huy động nguồn điện chạy dầu; nhu cầu dầu có thể lên đến 1-2 triệu tấn/năm. EVN cần tính toán kỹ về phương án nhập và tài chính, tránh trường hợp phải tăng giá điện đột xuất hoặc EVN thua lỗ do phải tăng cường phát điện từ dầu.

7. Về tiến độ các dự án:

Hầu hết các dự án chủ yếu là các dự án nhiệt điện than trong Quy hoạch điện VII (điều chỉnh) đều bị chậm tiến độ từ 2-4 năm trong các năm tới nếu không điều hành quyết liệt sẽ xẩy ra thiếu điện trầm trọng.

Đặc biệt, trong 5 năm tới (2019-2023), các nguồn điện dự kiến hoàn thành theo quy hoạch là 37.700 MW. Trong đó, có 30 dự án nhiệt điện than, khí với tổng công suất khoảng 28.800 MW. Đến nay chỉ có 8 dự án nhiệt điện, với tổng công suất 8.460 MW đã khởi công và đang triển khai xây dựng. Còn 22 dự án nhiệt điện với tổng công suất 20.000 MW chưa được khởi công xây dựng nên không thể hoàn thành trong 5 năm tới. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng hệ thống điện từ chỗ có dự phòng (khoảng 20%) trong các năm 2015-2017, đến nay hầu như không còn dự phòng và sang giai đoạn 2021-2025 khả năng xảy ra tình trạng thiếu hụt nguồn điện.

Một số giải pháp đảm bảo cung ứng điện đến năm 2030

Để đảm bảo cung ứng điện đến năm 2030, thời gian tới cần thực hiện các giải pháp sau:

Một là: Các chủ đầu tư phải đảm bảo tiến độ các dự án nguồn điện lớn trong giai đoạn 2021-2025 và sau năm 2025 được phê duyệt trong Quy hoạch điện VII.

Hai là: Tăng cường nhập khẩu điện từ Trung Quốc và Lào, đồng thời bổ sung quy hoạch các công trình lưới điện 220 kV liên quan đến mua điện nhập khẩu.

Ba là: Đôn đốc, đảm bảo tiến độ của khí Cá Voi Xanh và cụm nhiệt điện miền Trung, vận hành các năm 2023-2024.

Bốn là: Tăng cường năng lực khai thác, tăng khả năng cấp than cho sản xuất điện. Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ giao các cơ quan chức năng xem xét, nghiên cứu việc các đơn vị phát điện được nhập khẩu trực tiếp, nhằm đảm bảo đủ than cho các nhà máy điện.

Năm là: PVN tiếp tục chủ động tìm kiếm các nguồn khí mới để bổ sung cho các nguồn khí hiện hữu tại khu vực Đông Nam bộ và Tây Nam bộ.

Sáu là: Tăng cường thực hiện các giải pháp kiểm soát nhu cầu phụ tải như: Tăng cường tiết kiệm điện, triển khai mạnh mẽ các chương trình kiểm toán năng lượng, tăng cường thực hiện chương trình quản lý nhu cầu điện (DSM), ưu tiên tại khu vực miền Nam.

Bảy là: Đẩy mạnh công tác giải phóng mặt bằng các dự án điện. Có biện pháp quyết liệt theo quy định của pháp luật để giải quyết dứt điểm những khó khăn trong giải phóng mặt bằng các dự án điện, đặc biệt là các dự án nguồn điện trọng điểm, các dự án lưới điện truyền tải quan trọng phục vụ giải tỏa công suất các trung tâm điện lực.

Tám là: Thực hiện giá năng lượng theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, bảo đảm kết hợp hài hoà giữa các mục tiêu chính trị - kinh tế - xã hội.

Giá điện cần điều chỉnh thích hợp để khuyến khích thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước bởi lẽ: Bất kỳ nhà đầu tư nào khi đầu tư vào dự án điện đều nhìn vào tỷ suất lợi nhuận, thời gian thu hồi vốn.

Các dự án điện như nhiệt điện than, khí là những dự án có công nghệ, kỹ thuật phức tạp, máy móc thiết bị đòi hỏi chất lượng cao, thời gian xây dựng kéo dài, lợi nhuận thu được không cao. Do đó, nếu không có giá điện thỏa đáng thì không thể thu hút được các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Giá điện là yếu tố quyết định cho việc đầu tư vào nguồn và lưới điện, các nước đang phát triển trên thế giới giai đoạn đầu đều áp dụng giá điện cao để thu hút đầu tư, sau khi đất nước phát triển ổn định giá điện sẽ được điều chỉnh giảm xuống.

Việt Nam có nền kinh tế đa dạng nhiều ngành nghề, lĩnh vực cần lấy chỗ dễ bù chỗ khó, chỗ lãi bù chỗ lỗ, chỗ lợi nhuận cao bù chỗ lợi nhuận thấp để điều chỉnh mặt bằng giá chung của Nhà nước, từ đó ưu tiên cho điều chỉnh giá điện ở mức độ ngang giá khu vực, mới đủ tiền cho việc vay vốn, huy động vốn, kêu gọi nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư các dự án điện như đã nêu trên.

Một số đề xuất, kiến nghị

Nhằm khắc phục các hạn chế, bất cập, vượt qua các khó khăn, vướng mắc để bảo đảm phát triển bền vững, cung cấp đủ điện cho đất nước, Hiệp hội Năng lượng Việt Nam kiến nghị Thủ tướng Chính phủ quan tâm giải quyết một số nội dung cấp bách sau:

1/ Chỉ đạo các bộ, ngành rà soát tổng hợp để kiến nghị Quốc hội sửa đổi bổ sung các luật như: Luật Dầu khí, Luật Điện lực, Luật Khoáng sản, Luật Năng lượng Nguyên tử, Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và các luật liên quan đến nội dung và phạm vi điều chỉnh đến ngành năng lượng. Nhất là trong các lĩnh vực xây dựng cơ bản và tài chính, xây dựng bổ sung các nghị định hướng dẫn thống nhất, tránh mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật, giữa các cơ quan ban hành để tránh chồng chéo; phù hợp với thực tiễn phát triển, đồng bộ trong các khâu, thực hiện và đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án năng lượng.

2/ Giao các bộ, cơ quan liên quan rà soát, điều chỉnh và sớm ban hành các quy hoạch liên quan đến phát triển năng lượng (theo Luật Quy hoạch 2017), nhất là Quy hoạch tổng thể về năng lượng Quốc gia; Quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia; Quy hoạch hạ tầng dự trữ, cung ứng xăng dầu, khí đốt Quốc gia; Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản (trong đó có than)...

3/ Ban hành Chỉ thị tăng cường áp dụng các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (giai đoạn 2020-2025) với chỉ tiêu tiết kiệm điện năm 2020 bằng 2%, tới năm 2025 là 5% điện thương phẩm; nếu giảm 2% mỗi năm tiết kiệm được 5 tỷ kWh, làm lợi cho Nhà nước được hàng nghìn tỷ đồng.

4/ Giải quyết, chỉ đạo các bộ, cơ quan liên quan giải quyết, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thu xếp đủ vốn cho các dự án điện:

Một là: Thực hiện bảo lãnh Chính phủ vốn vay, hoặc trái phiếu doanh nghiệp đối với các dự án năng lượng có hiệu quả và có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Hai là: Cho phép các ngân hàng thương mại trong nước cho các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam vay vốn để đầu tư các dự án nguồn và lưới điện được phép vượt các quy định về giới hạn tỷ lệ an toàn tín dụng khi cho vay.

Ba là: Chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam thực hiện lộ trình thoái vốn, cổ phần hóa các doanh nghiệp thành viên đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhằm thu hồi vốn, đáp ứng yêu cầu bổ sung vốn chủ sở hữu và bổ sung vốn cho đầu tư các dự án đầu tư xây dựng.

5/ Giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan thực hiện các giải pháp nhằm đảm bảo cung cấp đủ điện trong giai đoạn 2020-2025, trong đó có một số nội dung chính:

Thứ nhất: Chỉ đạo chủ đầu tư các dự án nguồn điện được phê duyệt trong Quy hoạch điện VII (điều chỉnh), nhất là các dự án khu vực miền Nam (Sông Hậu 1, Long Phú 1, Duyên Hải 2), đẩy nhanh tiến độ để sớm đưa vào vận hành.

Thứ hai: Đề nghị Thủ tướng sớm phê duyệt bổ sung quy hoạch dự án ThangLong Wind điện gió ngoài khơi (công suất 3.400 MWW) của Tập đoàn Enterprize Enegy - Đây là dự án năng lượng tái tạo có hiệu quả cao, giai đoạn đầu dự kiến khởi công năm 2020 hoàn thành 2023, bổ sung 4 tỷ kWh, sau đó mỗi năm bổ sung 4 tỷ kWh; đến năm 2027 hoàn thành 3.400MW cung cấp 20 tỷ kWh giờ cho hệ thống điện Việt Nam. Số giờ phát điện trong năm 6.000 giờ, ổn định 24/24, tổng vốn đầu tư 11,9 tỷ USD, mọi việc chủ đầu tư đã thu xếp xong, cần được Thủ tướng quan tâm giải quyết.

Thứ ba: Nhiệt điện than hiện tại chỉ chiếm 36,1% (tương đương khoảng 20.000 MW công suất trong hệ thống điện quốc gia) so với các nước trên thế giới là con số nhỏ bé, của họ lên tới hàng trăm nghìn MW, nước ít nhất 200.000 MW đến 400.000 MW, nước nhiều lên đến 700.000 MW. Hơn nữa sử dụng công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm môi trường. Do vậy, hiện tại một số nước trên thế giới hạn chế phát triển nhiệt điện than với công nghệ lạc hậu, còn hiện nay nhiệt điện than đã dùng công nghệ hiện đại, sử dụng lò hơi siêu tới hạn và trên siêu tới hạn đã hạn chế được tình trạng ô nhiễm môi trường.

Trong nhiều năm qua và hiện tại nhiệt điện than ở Việt Nam đang đóng vai trò chủ lực, do vậy, những dự án được Chính phủ bố trí trong Quy hoạch điện VII (điều chỉnh) và được xây dựng tại các địa phương thì đề nghị những địa phương được bố trí dự án không nên phản đối để đảm bảo mục tiêu đến năm 2030 cả nước đạt được công suất 130.000 MW điện.

Thứ tư: Kiên quyết thu hồi những dự án chậm tiến độ, giao chủ đầu tư khác thực hiện.

6/ Chỉ đạo, thực hiện các giải pháp đáp ứng nhu cầu than, đảm bảo chất lượng và số lượng ổn định lâu dài cho sản xuất điện:

Thứ nhất: Giao Bộ Công Thương lập đề án xây dựng và quy trình vận hành kho dự trữ quốc gia về than; tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách nhập khẩu than, đầu tư ra nước ngoài khai thác than.

Thứ hai: Sớm có chỉ đạo về phương án xây dựng cảng trung chuyển than nhập khẩu, các trung tâm quản lý than, kho bãi chứa và pha trộn than, phát triển đội tàu vận chuyển nội địa/ven biển chuyên dụng phù hợp cho việc vận chuyển, bốc dỡ than từ kho về các nhà máy nhiệt điện than.

7/ Giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan thực hiện các giải pháp bảo đảm cung cấp đủ dầu mỏ, khí đốt: Chỉ đạo chủ đầu tư các dự án đưa khí từ Lô B và mỏ Cá Voi Xanh và các dự án điện đồng bộ sớm hoàn thiện các thủ tục, đẩy nhanh tiến độ xây dựng để có thể đưa vào sử dụng từ năm 2023 - 2024.

8/ Chính phủ đưa ra quyết định tổ chức đấu thầu điện mặt trời là hết sức kịp thời, bởi vì điện mặt trời cần lưu ý chất lượng tấm pin mặt trời, nếu chất lượng kém, giá rẻ, tuổi thọ ngắn thì trong ít năm tới trở thành phế thải gây ô nhiễm môi trường. Kinh nghiệm các nước trên thế giới, vì do điện mặt trời, điện gió không ổn định trong quá trình phát điện nối vào hệ thống điện quốc gia nên được xây dựng hệ thống lưu điện (hoặc dùng một nguồn điện LNG, thủy điện tích năng, lưu điện để đảm bảo tần số, điện áp, phụ tải ổn định, khi nối vào hệ thống điện quốc gia).

9/ Việt Nam có bờ biển dài 3.200 km có tiềm năng về điện gió ngoài khơi. Hiện nay nhiều nước trên thế giới đẩy mạnh phát triển điện gió ngoài khơi, đề nghị Chính phủ có chủ trương cho phép nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư điện gió ngoài khơi - Đây nguồn năng lượng tái tạo chủ lực, bởi vì có hiệu quả vượt trội, số giờ vận hành cao, điện lượng phát ra lớn không thua kém các dự án nhiệt điện than, khí có thể là nguồn năng lượng tái tạo chủ chốt thay thế được năng lượng truyền thống./.




TÒA SOẠN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Phòng 406-407-408, Tòa nhà Văn phòng, số 87 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.
Email: toasoan@nangluongvietnam.vn

Liên hệ Thư ký Tòa soạn: Mai Văn Thắng (Hotline: 0969998822)

Liên hệ Giám đốc Trung tâm Đối ngoại: Lê Mỹ (Hotline: 0949723223)

Liên hệ Trung tâm Quảng cáo: Nguyễn Tiến Sỹ (Hotline: 0969998811) - Phan Thanh Dũng (Hotline: 0942632014)

Trang TTĐT của Tạp chí Năng lượng Việt Nam hoạt động theo Giấy phép số: 66/GP-TTĐT, cấp ngày 30/3/2018
của Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử - Bộ Thông tin - Truyền thông.

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3