Hiệp hội năng lượng Việt Nam - VEA

Báo cáo hội thảo "Công nghệ nguồn, lưới điện trong hệ thống điện có tỷ lệ nguồn năng lượng tái tạo cao"

06:58 |12/04/2017

 - 

Để cụ thể hóa các vấn đề được nêu ra tại Hội thảo quốc tế về “Công nghệ nguồn, lưới điện trong hệ thống điện có tỷ lệ nguồn năng lượng tái tạo cao” do Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA) phối hợp với Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tổng Công ty Điện lực thành phố Hồ Chí Minh và Hiệp hội Phát triển Công nghiệp ESS Hàn Quốc tổ chức tại Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh. Sau khi cùng các chuyên gia, nhà khoa học trong Hội đồng Khoa học Năng lượng - VEA họp bàn, xem xét, phân tích, cân nhắc các ý kiến, VEA đã hoàn thành văn bản số 36/HHNL-BC, về việc Báo cáo kết quả Hội thảo quốc tế về “Công nghệ nguồn, lưới điện trong hệ thống điện có tỷ lệ nguồn năng lượng tái tạo cao” gửi tới Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, các bộ Công Thương, Nội Vụ, Tài Nguyên và Môi trường...

Thủy điện La Ngâu, thêm một lần Chính phủ cần phải vào cuộc
Bộ Công Thương trả lời kiến nghị của VEA về hỗ trợ PVN
Kiến nghị tháo gỡ khó khăn cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
Kiến nghị hỗ trợ SX vật liệu không nung từ xỉ than nhiệt điện

Tại Quyết định số 2068/QĐ-TTg ngày 25 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã đưa ra các mục tiêu:

- Tỷ lệ điện năng sản xuất từ năng lượng tái tạo trong tổng điện năng sản xuất toàn quốc tăng từ khoảng 35% vào năm 2015 tăng lên khoảng 38% vào năm 2020; đạt khoảng 32% vào năm 2030 và khoảng 43% vào năm 2050.

- Trường hợp không tính đến nguồn thủy điện lớn, tỷ lệ điện năng sản xuất từ năng lượng tái tạo tăng từ 4,2% vào năm 2015 lên khoảng 12% năm 2020; đạt khoảng 20% năm 2030 và khoảng 37% vào năm 2050. Trong đó, điện năng sản xuất từ các nguồn năng lượng tái tạo mang tính bất định lớn; nhất là đối với nguồn điện gió, điện mặt trời phụ thuộc vào tốc độ gió và bức xạ mặt trời như sau:

+ Tỷ lệ điện năng sản xuất từ nguồn điện gió từ mức không đáng kể như hiện nay thì chỉ đạt khoảng 1,0% vào năm 2020, khoảng 2,7% vào năm 2030 và khoảng 5,0% vào năm 2050.

+ Tỷ lệ điện năng sản xuất từ nguồn năng lượng mặt trời như hiện nay đạt khoảng 0,5% vào năm 2020, khoảng 6% vào năm 2030 và khoảng 20% vào năm 2050.

Do đó, để đạt được mục tiêu chiến lược phát triển năng lượng tái tạo chính phủ đã phê duyệt thì cần phải có các giải pháp hết sức mạnh mẽ, có cơ chế chính sách hợp lí để khuyến khích các nhà đầu tư vào lĩnh vực này lúc đó mới đạt được mục tiêu đề ra.

Các nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo sử dụng nhiều công nghệ khác nhau:

- Điện mặt trời: Công nghệ điện năng lượng mặt trời tập trung (CSP); Công nghệ tế bào quang điện (PV). Trong mỗi loại lại cũng có các công nghệ khác nhau. Như công nghệ PV có công nghệ c-Si, công nghệ màng mỏng,…

- Điện gió: Công nghệ Tuabine gió trên đất liền, trên thềm lục địa; công Tuabine nghệ trục đứng và công nghệ trục ngang;...

- Điện sinh khối có các công nghệ ngưng hơi, đồng phát, đồng đốt,...

Khi các nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo được tích hợp vào hệ thống điện với số lượng lớn, sẽ có những thách thức về kỹ thuật như sau:

- Khi tỷ lệ của năng lượng tái tạo trong hệ thống điện tăng, các doanh nghiệp ngành điện phải đáp ứng những thách thức trong việc cân bằng hệ thống khi các nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo thay đổi, để duy trì sự cân bằng và ổn định trong hệ thống điện theo quy định về kỹ thuật và pháp lý.

- Các công ty điện lực phải đầu tư phát triển lưới điện nhiều hơn, phải đảm bảo cân bằng về cả nguồn và lưới điện (cả lưới truyền tải, trung áp và hạ áp) để thích ứng mục tiêu chính sách về tỷ lệ năng lượng tái tạo trong 10 - 20 năm tới; sự thay đổi này không chỉ liên quan đến phần cứng (nguồn điện, đường dây, trạm biến áp,...), mà còn về phần mềm trong hoạt động điều khiển hệ thống điện và thị trường điện.

- Hiện đã có nhiều phương pháp để các doanh nghiệp ngành điện lựa chọn để thực hiện phát triển hệ thống điện, bảo đảm cân bằng theo sự biến đổi công suất của các nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo. Trong đó có giải pháp sử dụng hệ thống lưu trữ năng lượng (ESS). Công nghệ lưu trữ năng lượng có thể giúp để tích hợp tốt hơn các hệ thống điện và có thể đóng một vai trò rất quan trọng trong hệ thống năng lượng, thể hiện qua các mặt:

+ Cải thiện sự ổn định, tính linh hoạt, độ tin cậy và khả năng phục hồi của lưới điện.

+ Cải thiện hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên năng lượng.

+ Giúp tích hợp với tỷ lệ cao hơn các nguồn năng lượng tái tạo biến đổi và khách hàng sử dụng điện cuối cùng.

+ Hỗ trợ sản xuất các hộ tiêu thụ có nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo sản xuất điện năng nhiều hơn.

+ Tăng tỷ lệ tiếp cận năng lượng.

Qua những nội dung trên, Hiệp hội Năng lượng Việt Nam nhận thấy:

- Trong phát triển nguồn năng lượng tái tạo, việc điều hành hệ thống điện có các nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo bất định (gió, mặt trời) sẽ gặp nhiều khó khăn, thách thức; trường hợp nguồn năng lượng tái tạo thay đổi chiếm tỷ lệ cao sẽ dẫn đến sự không chắc chắn, khó khăn trong việc cân bằng cung cầu trong hệ thống điện. Để đạt được độ linh hoạt cao hơn, đòi hỏi cần có những thay đổi trong quản lý lưới điện, trong các quy tắc thị trường điện, các mô hình kinh doanh, quy hoạch hệ thống và phát triển lưới điện.

- Các doanh nghiệp ngành điện hiện nay vẫn coi sự thay đổi của nguồn năng lượng tái tạo là một vấn đề lớn, nhưng qua thực tế của một số quốc gia, trong đó có Hàn Quốc, cùng với sự phát triển về điều hành hệ thống, phát triển công nghệ lưu trữ năng lượng,... sẽ đảm bảo cân bằng, ổn định hệ thống điện khi nguồn năng lượng tái tạo chiếm tỷ trọng cao.

- Việc tổ chức hội thảo quốc tế về “Công nghệ nguồn, lưới điện trong hệ thống điện có tỷ lệ nguồn năng lượng tái tạo cao” là cần thiết. Trong Hội thảo, các chuyên gia của Việt Nam và Hàn Quốc trình bầy các công nghệ nguồn, lưới điện nhằm bảo đảm tích hợp quy mô lớn các nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo, kinh nghiệm của Hàn Quốc và các quốc gia trên thế giới trong các lĩnh vực này. Kết quả Hội thảo sẽ góp phần thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Tại các buổi Hội thảo, các chuyên gia của Việt Nam và Hàn Quốc đã có 14 bài trình bày, được chia làm 4 phần:

Phần I, về Chiến lược phát triển nguồn năng lượng tái tạo tại Việt Nam và các Công nghệ chủ yếu sử dụng năng lượng tái tạo để phát triển điện, khai thác tiềm năng dồi dào của Việt Nam: Đại diện Hiệp hội Năng lượng Việt Nam trình bày về nguồn điện gió, điện mặt trời trong Chiến lược phát triển Năng lượng tái tạo tại Việt Nam; các công nghệ nguồn điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối, đề xuất công nghệ ưu tiên áp dụng tại Việt Nam.

Phần II, về ngành điện lực Việt Nam: Đại diện EVN trình bày về hiện trạng và dự kiến phát triển ngành điện lực Việt Nam (ngày 16/3); Đại diện Tổng Công ty Điện lực TP Hồ Chí Minh trình bày về hiện trạng và dự kiến phát triển hệ thống lưới điện thành phố Hồ Chí Minh (ngày 18/3).

Phần III, về Công nghệ Hệ thống lưu trữ năng lượng ESS (Energy Storage System) các chuyên gia Hàn Quốc trình bày các chuyên đề về:

- Công nghệ Hệ thống lưu trữ năng lượng ESS (Energy Storage System) liên kết với nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo.

- Hệ thống quản lý ắc quy BMS (Bettery Management System) và ứng dụng công nghệ ắc quy Bitiums cho Hệ thống lưu trữ năng lượng ESS.

- Chức năng và hoạt động của Hệ thống quản lý điện năng (PMS-Power Management System) và Hệ thống quản lý năng lượng (EMS - Energy Management Systems) trong Hệ thống lưu trữ năng lượng ESS.

Tiềm năng các nguồn năng lượng tái tạo của Việt Nam

Tiềm năng các nguồn thủy điện: Việt Nam có thể phát triển khoảng 95 - 100 tỷ kWh nguồn thủy điện, trong đó thủy điện vừa và lớn (công suất lớn hơn 30 MW) khoảng 70 tỷ kWh; nguồn thủy điện nhỏ khoảng 25 - 30 tỷ kWh.

Tiềm năng các nguồn điện gió: Các tỉnh, thành phố ven biển và các tỉnh cao nguyên của Việt Nam có tiềm năng phát triển điện gió; ước tính điện gió trên đất liền có thể phát triển khoảng 40 - 50 nghìn MW công suất điện gió. Nếu tính thêm tiềm năng điện gió ngoài khơi, Việt Nam có thể phát triển khoảng trên 100 nghìn MW công suất điện gió.

Tiềm năng các nguồn điện mặt trời: Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới như Việt Nam, nguồn năng lượng mặt trời sử dụng hầu như quanh năm; số giờ nắng trung bình hàng năm khoảng 1500 giờ tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng và lên đến 2700 giờ tại các tỉnh Nam Trung bộ và các tỉnh ở Miền Nam. Mật độ năng lượng mặt trời biến đổi trong khoảng 3.000 đến 5.000 kCal/m2.ngày.

Tiềm năng các nguồn năng lượng sinh khối: Tiềm năng nguồn năng lượng sinh khối của Việt Nam khoảng gần 60 triệu TOE (tấn dầu tương đương) năm 2015, tăng lên 61,5 triệu TOE năm 2020; khoảng 70 triệu TOE năm 2030 và gần 90 triệu TOE năm 2050.

Công nghệ phát điện sử dụng nguồn năng lượng tái tạo

Hội thảo đã phân tích các công nghệ nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo, trên cơ sở đó đề xuất công nghệ phù hợp đối với Việt Nam, kết quả tóm tắt như sau:

Công nghệ thủy điện

Ngoài các dự án thủy điện có công nghệ truyền thống sử dụng các tuarbin phản lực, xung lực và bóng đèn phụ thuộc vào chiều cao cột nước; ngoài các dự án thủy điện có công suất lớn từ 50MW trở lên hiện đã chiếm 17.000MW, chúng ta cần phát triển khai thác thêm khoảng 6.000MW thủy điện vừa và nhỏ, hiện nay trong số đó đã có trên 400 dự án bị loại ra, trong số này cho rà soát lại nếu dự án nào có tính khả thi cao thì nên cho tiếp tục đầu tư xây dựng. Trong hệ thống điện có tỷ lệ nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo cao, nhất là các nguồn điện thay đổi lớn theo điều kiện tự nhiên (gió, mặt trời), công nghệ thủy điện tích năng, ngoài việc thực hiện nhiệm vụ điều tiết biểu đồ phụ tải còn có thêm nhiệm vụ vận hành theo khả năng phát của nguồn năng lượng tái tạo. Ngoài phát triển thủy điện theo công nghệ truyền thống, Việt Nam cần sớm đưa vào vận hành các nhà máy thủy điện tích năng.

Công nghệ điện gió

Sự phát triển của khoa học và công nghệ cho phép công nghệ điện gió phát triển không ngừng theo hướng tăng chiều cao của cột tuarbin gió (lên đến 250 mét) đối với tuarbin gió trên đất liền và tăng chiều sâu (lên đến 200 mét nước biển) đối với tuarbin gió ngoài khơi. Công nghệ phát triển cũng cho phép khai thác hiệu quả nguồn điện gió tại khu vực có tốc độ gió trung bình thấp (3 - 4 m/s) và cho phép nâng cao hệ số công suất, sản lượng nguồn điện gió.

Các dự án điện gió của Việt Nam đã đưa vào vận hành có công suất mỗi tuarbin khoảng 1,5 - 2,0 MW, chiều cao của các cột tuarbin gió khoảng 100 – 120 mét; trong thời gian tới cần nghiên cứu phát triển các cột đỡ tuarbin gió có chiều cao lớn hơn để có công suất lớn hơn và tận dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên gió.

Công nghệ điện mặt trời

Công nghệ pin quang điện (PV): Tùy thuộc vào chất liệu cơ bản sử dụng, công nghệ PV có 3 thế hệ công nghệ. Công nghệ thế hệ đầu tiên (sử dụng công nghệ tinh thể silicon) và thứ hai (công nghệ màng mỏng) hiện đang chiếm lĩnh thị trường; thế hệ thứ ba (tế bào quang hữu cơ) đang trong giai đoạn trình diễn, chưa được thương mại hóa rộng rãi. Hiệu suất các tấm pin quang điện đã lên đến 25%.

Công nghệ nhiệt điện năng lượng mặt trời tập trung (CSP): CSP là công nghệ phát điện sử dụng gương để tập trung ánh sáng mặt trời, làm nóng chất lỏng được sử dụng để sản xuất hơi nước. Hơi nước được sử dụng để chạy tua bin hơi nước và tạo ra năng lượng tương tự như các nhà máy nhiệt điện thông thường sử dụng chu trình hơi nước. Công nghệ CSP đang được phát triển tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhiều dự án có giá bán điện rất cạnh tranh, như nhà máy điện mặt trời đang được xây dựng ở Dubai có giá điện rất thấp, khoảng 666 đ/kWh (tương đương 3 Uscents/kWh).

Việt Nam cần ưu tiên phát triển nguồn điện mặt trời sử dụng công nghệ PV, giai đoạn đầu cần nhập khẩu các thiết bị, để tránh nhập công nghệ lạc hậu, cần ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật, như: Hiệu suất tối thiểu, tuổi thọ của các tấm panel pin mặt trời,...

Ngoài ra, Việt Nam cũng cần nghiên cứu các địa điểm có thể phát triển các nhà máy nhiệt điện năng lượng mặt trời tập trung.

Thời gian xây dựng các nhà máy điện mặt trời sử dụng công nghệ PV rất nhanh (khoảng 6 tháng); do đó, đây là giải pháp có hiệu quả để bảo đảm cung cấp điện trong trường hợp cấp bách khi các nguồn điện đang và dự kiến xây dựng vào chậm hoặc trong trường hợp nhu cầu phụ tải tăng nhanh hơn dự báo. Ngoài ra, cần quan tâm năng lượng mặt trời cho vùng sâu, vùng xa, các đảo, các nhà cao tầng phát điện độc lập không nối lưới và sử dụng công nghệ lưu điện ESS thì rất hiệu quả.

Công nghệ sản xuất điện từ nguồn sinh khối

Đã được Hiệp hội Năng lượng Việt Nam báo cáo chi tiết trong Hội thảo quốc tế “Phát triển năng lượng sinh khối tại Việt Nam - Hiện trạng và các giải pháp”.

Công nghệ lưới điện

Ứng dụng công nghệ lưới điện thông minh để kết nối, vận hành ổn định các nguồn năng lượng tái tạo nhằm tạo điều kiện khai thác có hiệu quả, góp phần khuyến khích phát triển, tăng tỷ lệ nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo, góp phần bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Sử dụng công nghệ lưu trữ năng lượng nhằm tích hợp các nguồn điện phân tán, các nguồn năng lượng mới, tái tạo đấu nối vào hệ thống điện bằng cấp điện áp trung áp và hạ áp; cho phép cân bằng cung – cầu điện năng ngay ở cấp độ người sử dụng điện.

Công nghệ lưu trữ năng lượng (ESS)

Bao gồm các bộ phận chính: Hệ thống ắc quy dùng để lưu trữ năng lượng; Hệ thống Quản lý Pin (BMS - Bettery Management System): Thực hiện chức năng quản lý quá trình sạc và xả của hệ thống ắc quy; Hệ thống điều hòa năng lượng (PCS-Power Conditioning System): Thực hiện chức năng chuyển đổi giữa điện xoay chiều (AC) của lưới điện và điện một chiều (DC) của hệ thống ắc quy; Hệ thống quản lý năng lượng (PMS-Power Management System): Thực hiện chức năng điều chỉnh dòng tích hoặc xả của hệ thống ắc quy nhằm giảm tối thiểu tổn thất truyền tải, khắc phục tình trạng nghẽn mạch, bảo đảm cân bằng cung cầu tại mức phụ tải cao nhất và nâng cao chất lượng dung cấp điện và làm mịn biểu đồ phụ tải.

Lợi ích phát triển năng lượng tái tạo và hệ thống lưu trữ năng lượng ESS

Hội thảo đã phân tích việc phát triển nguồn năng lượng tái tạo và các lợi ích chính mang lại như sau:

Lợi ích phát triển nguồn năng lượng tái tạo

Góp phần đảm bảo an ninh năng lượng: Việt Nam từ quốc gia xuất khẩu tinh đã chuyển sang nhập khẩu tinh về năng lượng trong năm tới; việc phát triển nguồn năng lượng tái tạo sẽ hạn chế năng lượng nhập khẩu, nâng cao an ninh năng lượng quốc gia.

Góp phần tăng trưởng kinh tế bền vững: Năng lượng tái tạo có thể góp phần trong tăng trưởng kinh tế bền vững, đặc biệt là ở cấp quốc gia, bằng cách khai thác các nguồn lực địa phương và tạo ra ngành công nghiệp mới và tạo việc làm.

Góp phần bảo vệ môi trường bền vững: Năng lượng tái tạo là một nguồn năng lượng bền vững, không thải ra các chất ô nhiễm gây thiệt hại cho môi trường và có thể được khai thác mà không gây tổn hại đến các hệ sinh thái.

Góp phần cung cấp năng lượng cho khu vực nông thôn, miền núi và hải đảo; vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn: Phát triển, cung cấp điện và năng lượng sạch cho người dân nông thôn và vùng khó khăn có tác động đến các vấn đề xã hội quan trọng như đói nghèo, công bằng xã hội, sức khỏe phụ nữ và cơ hội, phát triển kinh tế và đô thị hóa.

Tối đa hoá giá trị của nguồn tài nguyên trong nước và từng địa phương: Điều cần thiết là đề ra các chính sách để hỗ trợ chi phí phát triển có hiệu quả các nguồn lực của các địa phương, đáp ứng cho nhu cầu tại chỗ, mang lại hiệu quả chung trong việc sử dụng nguồn tài nguyên.

Về hiệu quả kinh tế: Sản xuất điện từ năng lượng tái tạo trên thế giới đã có thể cạnh tranh với điện năng sản xuất từ nhiên liệu hóa thạch.

Lợi ích phát triển hệ thống lưu trữ năng lượng ESS: Hệ thống ESS hiện đang được ứng dụng và mang lại lợi ích trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm:

Trong khâu phát điện, ESS có các ứng dụng: (i) Lưu trữ năng lượng trong giờ thấp điểm để phát điện trong thời gian cao điểm (ii) Dự phòng để cấp điện trong trường hợp khẩn cấp (iii) Hỗ trợ điều chỉnh tần số, giúp duy trì trạng thái cân bằng tần số trong điều kiện lưới làm việc bình thường và đột xuất khi có thay đổi lớn về phụ tải điện, điều chỉnh phụ tải (iv) Hỗ trợ khởi động đen.

Trong khâu truyền tải và phân phối, ESS giúp: (i) Ổn định hệ thống điện; (ii) Điều chỉnh điện áp: Hỗ trợ điện áp ổn định của các đường dây điện cần ổn định điện áp. (iii) Giảm quá tải đường dây, điều này dẫn đến trì hoãn đầu tư bổ sung các công trình lưới điện truyền tải, phân phối.

Dịch vụ cung cấp năng lượng: (i) Quản lý năng lượng, cho phép khách hàng sử dụng điện chuyển thời gian sử dụng năng lượng từ hệ thống, do đó giảm tiền mua điện. (ii) Nâng cao chất lượng điện cung cấp điện cho khách hàng. (iii) Nâng cao độ tin cậy về cung cấp điện.

Nguồn năng lượng tái tạo, công nghệ ESS có các mặt hiệu quả là (i) Giảm thiểu truyền tải: Giảm thiểu hạn chế cung cấp điện do thiếu năng lực truyền tải. (ii) Chuyển thời gian: Thực hiện tích năng lượng phát từ các nguồn năng lượng tái tạo trong thời gian ngoài cao điểm (bổ sung bằng điện năng mua từ lưới điện khi không có gió) và phóng điện trong khoảng thời gian cao điểm. (iii) Hỗ trợ tần số lưới: Lưu trữ năng lượng hỗ trợ tần số lưới điện trong trường hợp phát điện từ nguồn năng lượng tái tạo giảm đột ngột. (iv) Hạn chế dao động: Tần số phát điện của trại gió có thể được ổn định nhờ hệ thống ESS.

Kết luận

Việt Nam có tiềm năng khá lớn về nguồn năng lượng tái tạo; đến thời điểm hiện tại, chủ yếu tập trung khai thác nguồn thủy điện; nguồn điện gió và điện mặt trời có quy mô nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng.

Chính phủ Việt Nam đã đặt các mục tiêu phát triển nguồn năng lượng tái tạo đến năm 2030, định hướng đến năm 2050 tại Quyết định số 2068/QĐ-TTg ngày 25 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển nguồn năng lượng tái tạo.

Một số cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển các nguồn năng lượng tái tạo đã được ban hành, như: Cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió tại Việt Nam; Cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án phát điện sử dụng năng lượng sinh khối tại Việt Nam; Cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án phát điện sử dụng chất thải rắn tại Việt Nam,... Tuy nhiên, phát triển nguồn năng lượng tái tạo còn thấp hơn nhiều so với mục tiêu chiến lược đã đề ra.

Bộ Công Thương và các cơ quan quản lý nhà nước cần tiếp tục nghiên cứu, đề xuất, trình cấp có thẩm quyền ban hành cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển các dự án nguồn năng lượng tái tạo còn dồi dào.

Kiến nghị

Trên cơ sở kết quả Hội thảo quốc tế về “Công nghệ nguồn, lưới điện trong hệ thống điện có tỷ lệ nguồn năng lượng tái tạo cao”, Hiệp hội Năng lượng Việt Nam kiến nghị Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, cơ quan liên quan một số nội dung sau:

Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ liên quan hoàn thiện khung chính sách cho phát triển nguồn năng lượng tái tạo, trong đó có một số nội dung sau:

- Xây dựng một khuôn khổ chính sách ổn định, lâu dài cho năng lượng tái tạo, để tăng sự tự tin cho nhà đầu tư và cho phép việc phát triển nhanh nguồn năng lượng tái tạo.

- Bỏ trợ cấp nhiên liệu hóa thạch và ban hành giá phát thải khí CO2 trên cơ sở cá tổ chức, cá nhân sử dụng nhiên liệu hóa thạch cho mục đích năng lượng phải trả phí phát thải để đảm bảo một sân chơi bình đẳng cho năng lượng tái tạo.

- Ban hành các yêu cầu phát triển bền vững và tiêu chuẩn của các dự án nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.

- Sớm ban hành cơ chế hỗ trợ các dự án năng lượng mặt trời; điều chỉnh cơ chế khuyến khích phát triển và sử dụng năng lượng tái tạo đã ban hành, nhằm khuyến khích và đẩy nhanh phát triển nguồn năng lượng này.

- Các Bộ cần khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 2068/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Bộ Công Thương:

- Sớm ban hành cơ chế thanh toán bù trừ (Net Metering) nhằm giải quyết các vướng mắc tại một số dự án điện mặt trời đã và sẽ đưa vào vận hành và khuyến khích phát triển nhanh nguồn điện mặt trời tại các hộ gia đình, văn phòng và các trung tâm thương mại, các nhà cao tầng, các vùng sâu, vùng xa, các hải đảo...

- Chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam:

+ Khẩn trương thực hiện các dự án điện năng lượng mặt trời thí điểm tại khu vực miền Nam nhằm giảm công suất truyền tải điện qua đường dây 500 kV.

+ Phối hợp với Hiệp hội Năng lượng Việt Nam triển khai thực hiện dự án hệ thống lưu trữ năng lượng ESS thí điểm sử dụng 5 triệu USD vốn tài trợ của Chính phủ Hàn Quốc.

+ Phối hợp với Hiệp hội Năng lượng Việt Nam và Tập đoàn DOOSAN Hàn quốc nghiên cứu cải tạo nhà máy Nhiệt điện Ninh Bình có công suất 100MW đã quá cũ từ sử dụng than sang sử dụng nhiên liệu sinh khối.

- Chỉ đạo nghiên cứu phát triển các dự án năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng sinh khối với quy mô lớn tại khu vực phía Nam, bao gồm cả công nghệ PV và CSP; đưa vào vận hành từ năm 2018 - 2019 nhằm đáp ứng nhu cầu điện cho khu vực này khi nhiều nhà máy nhiệt điện đang xây dựng đưa vào chậm so với tiến độ đã được phê duyệt.

NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM



TÒA SOẠN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Phòng 406-407-408, Tòa nhà Văn phòng, số 87 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.22113344 - Fax: 024.35147193
Email: toasoan@nangluongvietnam.vn
Hotline: 0969998811 - 0969998822 - 0942632014 Trang TTĐT của Tạp chí Năng lượng Việt Nam hoạt động theo Giấy phép số: 66/GP-TTĐT, cấp ngày 30/3/2018
của Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử - Bộ Thông tin & Truyền thông.

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3