Vietsovpetro tái lập mốc sản lượng trên 3 triệu tấn năm 2025 và giải pháp cho mục tiêu 2026
08:31 | 05/01/2026
Trong bối cảnh ngành năng lượng toàn cầu đang chuyển mình mạnh mẽ từ nhiên liệu hóa thạch sang năng lượng tái tạo và xanh sạch, các doanh nghiệp trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí trên thế giới nói chung, cũng như Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và Liên doanh Việt - Nga (Vietsovpetro) nói riêng, đứng trước nhiều thách thức lẫn cơ hội. Sự thích ứng và tái cấu trúc nguồn nhân lực trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững và thành công của doanh nghiệp dầu khí trong tương lai. |
Chính sách nhân viên và chế độ phúc lợi dành cho người lao động không chỉ là những quyền lợi cơ bản mà còn là một trong những yếu tố cốt lõi quyết định đến sự thành công và phát triển bền vững của doanh nghiệp. Trong môi trường kinh doanh đầy cạnh tranh như hiện nay, các chế độ phúc lợi và chính sách đãi ngộ hấp dẫn sẽ tạo động lực cho cán bộ công nhân viên (CBCNV) nâng cao năng suất lao động và giữ chân nhân tài. Tại Liên doanh Việt - Nga Vietsovpetro (VSP), chính sách nhân viên và chế độ phúc lợi không chỉ tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật Việt Nam mà còn vượt trội hơn, thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến quyền lợi và sự phát triển toàn diện của người lao động. |
Thăm dò, gia tăng trữ lượng - Trụ cột cho phát triển lâu dài:
Trong bối cảnh dư địa thăm dò ngày càng hạn chế, rủi ro địa chất cao và số lượng giếng thăm dò - thẩm lượng tại Lô 09-1 không đạt kế hoạch, công tác thăm dò năm 2025 vẫn ghi nhận những kết quả tích cực. Tổng gia tăng trữ lượng dầu đạt 2.304 nghìn tấn, tương đương 134% kế hoạch năm. Cụ thể:
- Lô 09-1 - khu vực có mật độ giếng khoan thăm dò dày (7 km2/1 giếng khoan) - vẫn đạt gia tăng trữ lượng 2.060 nghìn tấn (137% kế hoạch) mặc dù chỉ hoàn thành 3/4 giếng thăm dò - thẩm lượng.
- Lô 09-3/12 (55% VSP) hoàn thành 1/1 giếng thăm dò - thẩm lượng, gia tăng 244 nghìn tấn (109% kế hoạch).
Đáng chú ý, các phát hiện dòng dầu thương mại tại giếng khoan thăm dò - thẩm lượng BH-231 và R-82 không chỉ mang ý nghĩa gia tăng trữ lượng trước mắt, mà còn tạo nền tảng quan trọng cho phát triển mỏ và đưa các khu vực này vào khai thác bằng các giàn khai thác mới trong thời gian tới, góp phần duy trì ổn định sản lượng trung và dài hạn, tiếp tục khẳng định vai trò then chốt của công tác thăm dò trong việc bù đắp suy giảm sản lượng tự nhiên.
Khai thác, phát triển mỏ - Chủ động thích ứng, tối ưu hiệu quả:
Trong bối cảnh các mỏ chủ lực sau 4 thập kỷ khai thác đã bước vào giai đoạn suy giảm sản lượng mạnh với hệ số suy giảm tự nhiên 15-17%/năm, công tác khai thác năm 2025 đối mặt với nhiều thách thức lớn. Đặc biệt, khó khăn trong công tác bố trí giàn khoan đã khiến giàn KNT (Lô 09-2/09) đưa vào khai thác chậm 3 tháng, ảnh hưởng đến kết quả thực hiện kế hoạch.
Tuy nhiên, với tinh thần đoàn kết - bản lĩnh - trí tuệ - vượt khó, Vietsovpetro đã chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp địa chất - kỹ thuật - công nghệ và quản trị mỏ, qua đó đưa tổng sản lượng khai thác dầu và condensate toàn Vietsovpetro năm 2025 đạt 3.012 nghìn tấn, vượt 5% kế hoạch năm 2025 và tăng tưởng 2% so với thực hiện năm 2024. Cụ thể:
- Lô 09-1 đạt 2.850,168 nghìn tấn, đạt 100% kế hoạch quản trị và không suy giảm so với năm 2024.
- Lô 09-3/12 đạt 112,300 nghìn tấn, đạt 100% kế hoạch và tăng tưởng 20% so với năm 2024.
- Lô 09-2/09 đạt 49,950 nghìn tấn, tương đương 77% kế hoạch, do khó khăn trong việc sắp xếp giàn khoan.
Công tác phát triển mỏ tiếp tục ghi dấu ấn với việc đưa giàn BK-24 vào vận hành sớm hơn kế hoạch 65 ngày và mỏ Kình Ngư Trắng - Kình Ngư Trắng Nam (KNT-KTN) sớm hơn kế hoạch (1 ngày), góp phần quan trọng trong việc ổn định sản lượng và tối ưu hiệu quả đầu tư.
Đóng góp quan trọng cho kết quả sản lượng là công tác kiểm soát, tối ưu quỹ giếng chuyển tiếp và đẩy mạnh các giải pháp địa kỹ thuật (GTM), đặc biệt là các giải pháp không dùng giàn khoan. Công tác GTM và tăng cường - tối ưu quỹ giếng chuyển tiếp đóng góp 306 nghìn tấn dầu gia tăng, trong đó các giải pháp khoan mới và không dùng giàn vượt 14÷16% kế hoạch.
Năm 2026 - Mục tiêu cao hơn, khát vọng hơn:
Bước sang năm 2026, Vietsovpetro đặt ra mục tiêu tiêu kép về gia tăng trữ lượng và sản lượng khai thác cao hơn, với khối lượng công việc lớn và phạm vi hoạt động rộng hơn.
Gia tăng trữ lượng: Gia tăng trữ lượng dự kiến 4.159 nghìn tấn, vượt 141% so với kế hoạch năm 2025, trong đó:
- Lô 09-1: 1.800 nghìn tấn, vượt 20% kế hoạch năm 2025.
- Lô 09-3/12 (55% VSP): 252 nghìn tấn, vượt 12,5 % so với kế hoạch năm 2025.
- Lô 09-2/09 (40% VSP): 438 nghìn tấn.
- Lô 16-1/15 (56,7 % VSP): 1669 nghìn tấn.
Sản lượng khai thác: Tổng sản lượng khai thác ước đạt 3.176 nghìn tấn, vượt hơn 10% so với kế hoạch năm 2025, trong đó:
- Lô 09-1: 2.825 nghìn tấn (bao gồm nhiệm vụ cơ sở là 2.675 nghìn tấn và 3 nhiệm vụ bổ sung với tổng sản lượng tăng thêm 150 nghìn tấn), vượt 5% kế hoạch năm 2025.
- Lô 09-3/12 (55% VSP): 131 nghìn tấn, vượt 17% kế hoạch năm 2025.
- Đặc biệt, Lô 09-2/09 (40% VSP): 220 nghìn tấn vượt 244% kế hoạch năm 2025.
Dự kiến thực hiện 105 giải pháp GTM, tăng 17% so với năm 2025; tổng mét khoan đạt gần 154 nghìn mét, tăng 22% so với năm 2025; giàn RC-12 và BK-26 (Lô 09-1) dự kiến đón dòng dầu đầu tiên trong tháng 12/2026.
Địa bàn hoạt động mở rộng với việc triển khai thêm các hoạt động thăm dò - khai thác tại Lô 04-3, bên cạnh các lô hiện hữu, đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với công tác logistics và điều hành sản xuất.
Giải pháp hoàn thành mục tiêu kép năm 2026 và tạo tiền đề phát triển bền vững:
Thăm dò và khai thác dầu khí là nhiệm vụ cốt lõi và thường xuyên của Vietsovpetro, gắn liền với sứ mệnh bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Trong bối cảnh các mỏ hiện hữu suy giảm sản lượng mạnh, điều kiện địa chất ngày càng phức tạp, việc duy trì sản lượng khai thác trên 3 triệu tấn, đồng thời gia tăng trữ lượng lớn trong các năm tới là thách thức không nhỏ đối với đội ngũ địa chất - khai thác - công nghệ mỏ. Để hoàn thành mục tiêu kép về gia tăng trữ lượng và sản lượng khai thác năm 2026 và các năm tiếp theo, Vietsovpetro cần tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn:
Giải pháp ngắn hạn (năm 2026): Tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp mang tính trực tiếp và khả thi cao:
Thứ nhất, trong công tác gia tăng trữ lượng:
- Khoan 8 giếng thăm dò - thẩm lượng (5 giếng Lô 09-1 và 3 giếng lô ngoài); rà soát, tận dụng tối đa quỹ giếng hiện hữu để bắn mìn bổ sung; chuẩn bị sẵn các giếng bổ sung thay thế nhằm quản trị rủi ro địa chất.
Thứ hai, trong công tác khai thác dầu và condensate:
- Quản lý khai thác và vận hành mỏ chủ động: Tăng cường kiểm soát quỹ giếng để kịp thời tối ưu chế độ khai thác, bơm ép và can thiệp giếng; tối ưu lịch khoan và sửa giếng để đưa giếng có tiềm năng tốt vào khai thác sớm đồng thời giảm thời gian vận chuyển và phụ thuộc thời tiết; tối ưu công tác bảo dưỡng, sửa chữa, OTM nhằm giảm tối thiểu thời gian dừng giàn, dừng giếng; đảm bảo tiến độ đưa giàn RC-12, BK-26 đón dòng dầu đầu tiên đúng/sớm hơn kế hoạch.
- Đẩy mạnh GTM: Thực hiện tổng cộng 105 giải pháp GTM, trọng tâm là Lô 09-1 với 83 giải pháp; tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ thực hiện các giải pháp GTM không dùng giàn khoan để tăng hiệu quả và giảm chi phí; liên tục cập nhật, tối ưu vị trí và quỹ đạo giếng khoan đan dày trên cơ sở kết quả các giếng khoan mới; bắn mìn chọn lọc tại các khu vực đa vỉa, có ranh giới dầu nước phức tạp.
Giải pháp trung hạn (2026÷2030): Tập trung vào các giải pháp mang tính nền tảng nhằm duy trì sản lượng ổn định và kéo dài đời mỏ:
- Tận thăm dò tại các lô dầu khí hiện hữu: Tiếp tục rà soát, đánh giá lại tiềm năng dầu khí tại các khu vực rìa cấu tạo, các đối tượng nhỏ, phức tạp; kết hợp khoan thăm dò - khai thác từ các công trình hiện hữu để rút ngắn thời gian đưa vào khai thác; rà soát lại quỹ giếng hiện hữu để bắn mìn bổ sung nhằm gia tăng trữ lượng.
- Ứng dụng các công nghệ tiên tiến: Triển khai mở rộng các giải pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu (EOR); mở rộng áp dụng khoan ngang, khoan á ngang kết hợp nứt vỉa thủy lực nhiều giai đoạn tại các đối tượng có tính thấm chứa kém.
- Tối ưu hệ thống công trình và vận hành mỏ: Từng bước cải hoán, nâng cấp các công trình biển đã lão hóa; áp dụng các giải pháp số hóa trong quản lý khai thác, bảo dưỡng và sửa chữa nhằm giảm thời gian dừng giàn/dừng giếng, nâng cao độ tin cậy vận hành.
Dài hạn (sau 2030): Định hướng các giải pháp mang tính chiến lược nhằm đảm bảo phát triển bền vững:
- Mở rộng vùng hoạt động thăm dò - khai thác: Tích cực tham gia các lô dầu khí mới trong và ngoài nước, tận dụng tối đa kinh nghiệm, nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng sẵn có để gia tăng trữ lượng và sản lượng ngoài Lô 09-1.
- Đa dạng hóa lĩnh vực hoạt động: Tham gia các lĩnh vực năng lượng mới như điện gió, nhiệt điện, thu giữ và lưu trữ CO₂.
- Phát triển nguồn nhân lực và công nghệ: Tiếp tục đào tạo đội ngũ chuyên gia địa chất - khai thác - công nghệ mỏ có trình độ cao; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và ứng dụng các công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Vietsovpetro trong giai đoạn mới.
Quyết tâm vượt khó, vững bước phát triển bền vững:
Năm 2026 được xác định là năm bản lề với những mục tiêu cao hơn và yêu cầu lớn hơn. Để hiện thực hóa mục tiêu kép về gia tăng trữ lượng và sản lượng khai thác, Vietsovpetro tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, giữ vững sự đồng lòng, đẩy mạnh đổi mới tư duy, áp dụng hiệu quả các giải pháp kỹ thuật - công nghệ tiên tiến và tăng cường năng lực quản trị mỏ.
Trên nền tảng 45 năm xây dựng và phát triển, sức mạnh của Vietsovpetro được hun đúc từ đội ngũ địa chất - khai thác - công nghệ mỏ - vận hành có trình độ chuyên môn sâu, giàu kinh nghiệm, dày bản lĩnh, tinh thần trách nhiệm cao và sáng tạo. Dưới sự chỉ đạo linh hoạt, quyết liệt của Ban lãnh đạo cùng sự đồng lòng của tập thể lao động quốc tế, Vietsovpetro tin tưởng sẽ hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu được giao, tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột trong việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và đóng góp vào sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp - năng lượng Việt Nam./.
VŨ MAI KHANH; NGUYÊN LÂM ANH; HỒ NAM CHUNG; LÊ HỒNG QUÂN

