RSS Feed for Than Thống Nhất: Hiệu quả từ đầu tư công nghệ, kỹ thuật | Tạp chí Năng lượng Việt Nam Chủ nhật 17/10/2021 11:02
TRANG TTĐT CỦA TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Than Thống Nhất: Hiệu quả từ đầu tư công nghệ, kỹ thuật

 - Bốn tháng đầu năm 2016, các chỉ tiêu sản xuất, kinh doanh chính đều đạt và vượt kế hoạch so với cùng kỳ năm 2015, Công ty Than Thống Nhất có được kết quả này là nhờ đầu tư các giải pháp về kỹ thuật, công nghệ.

Than Thống Nhất: Giải bài toán năng suất đào lò

Hệ thống xe Song loan đưa thợ lò mức + 25 xuống mức -140

Hiện tại là thời điểm đầy khó khăn và thách thức với ngành Than. Khai thác ngày càng xuống sâu, nguy cơ về bục nước, khí, hệ số bóc đất, cung độ vận tải, các loại thuế, phí đều tăng; áp lực về năng suất lao động, vốn đầu tư phát triển, nguồn nhân lực chất lượng cao, tuyển dụng và giữ chân thợ lò, an toàn lao động, môi trường... Bên cạnh chi phí, giá thành sản xuất tăng cao thì giá than, khoáng sản trên thị trường trong năm 2015, đầu năm 2016 sụt giảm mạnh, gây tác động lớn đến kết quả sản xuất, kinh doanh của Than Thống Nhất. Trong bối cảnh đó, Ban lãnh đạo Than Thống Nhất đã chủ động đề ra nhiều giải pháp cụ thểvề kỹ thuật, công nghệ, đầu tư theo từng giai đoạn, từng quý, tháng phù hợp với điều kiện thực tế.

Thứ nhất, về quản trị tài nguyên: Công ty giao cho Phòng Trắc địa - Địa chất chủ trì phối hợp với Công ty Địa chất mỏ, Công ty VITE tập trung thăm dò than để nâng cấp trữ lượng thuộc dự án khai thác hầm lò dưới mức -35 khu Lộ Trí phục vụ khai thác hiệu quả. Trong năm 2016 dự kiến khoan 2.480m, đồng thời thực hiện việc giảm tổn thất than khai thác từ 24,07% xuống 24%.

Thứ hai, về đẩy mạnh áp dụng công nghệ mới, đầu tư tăng sản lượng: Công ty giao Phòng Kỹ thuật Công nghệ mỏ chủ trì xin ý kiến Ban Đầu tư Tập đoàn để lựa chọn công nghệ chống giữ tại lò chợ phù hợp với điều kiện địa chất của từng phân vỉa. Phối hợp với Công ty Cổ phần Tư vấn đầu tư Mỏ và Công nghiệp (VIMCC) nghiên cứu áp dụng vật liệu chống giữ khi thi công đào lò, chống xén để phù hợp với điều kiện địa chất từng đường lò. Phối hợp với công ty Địa chất mỏ, Công ty VITE để tăng tỷ lệ xúc máy tại các gương đào lò chuẩn bị sản xuất, xây dựng cơ bản và chống xén. Tổ chức cơ giới hóa từng phần trong quá trình đào, chống lò, đồng thời đưa máy xúc và máy khoan thủy lực vào thi công những đường lò có diện tích lớn.

Công ty cũng kết hợp với Viện nghiên cứu Khoa học Công nghiệp Mỏ đưa chất phụ gia vào một số đượng (hỏi tác giả?) lò có áp lực lớn để giảm tỷ lệ mét lò chống xén; Phối hợp với VIMCC tiếp tục triển khai áp dụng vì chống neo vào một số đường lò có điều kiện địa chất phù hợp. Theo đó, Công ty thực hiện thi công 170m chống neo đã đăng ký với Tập đoàn; triển khai thủ tục đầu tư hai hệ thống thiết bị phục vụ chống lò bằng vì neo sika cốt thép; Phối hợp với VIMCC để lập thiết kế bản vẽ thi công một số đường lò chống neo.

Đối với công tác cơ điện, vận tải: Công ty giao cho Phòng cơ điện - vận tải chủ trì kết hợp với các phân xưởng trong Công ty trong tháng 1/2016 hoàn chỉnh việc thay thế 7 tủ điện 6kV tại trạm phân phối 6kV MB +41 khu Lộ Trí. Thực hiện nâng cấp hệ thống đường dây cung cấp điện 6kV từ trạm 35kV đến MB +13, +25, +110. Trong quý II triển khai lắp đặt hệ thống khí nén tập trung tại khu Yên Ngựa, đồng thời thu toàn bộ thiết bị khoan điện. Quý III thay mới 01 tuyến băng B1000/40 thay thế cho băng 4A khu Lộ Trí do Phân xưởng STLT quản lý; thay 03 bơm nước SHB-250 tại hầm bơm trung tâm mức -35 khu Lộ Trí; lắp 2 máy nén khí mới có lưu lượng Q = 60m3/phút tại khu Lộ Trí. Quý IV phối hợp với phòng Đầu tư - môi trường mỏ tổ chức vận hành hệ thống đầu tàu 8T và toa xe chở người tại lò bằng đưa vào sử dụng tại mức -140 khu Lộ Trí. Thu hồi toàn bộ thiết bị ngập nước trong những ngày mưa lớn của năm 2015 tại các phân xưởng Đào lò 2, Khai thác 7, Thông gió - Thoát nước - Vận tải Lộ Trí 2, đồng thời lập phương án sửa chữa phục hồi thiết bị sau thu hồi.

Riêng công tác thông gió mỏ:Công ty giao Phòng Thông gió - Thoát nước mỏ chủ trì phối hợp với Trung tâm An toàn Mỏ; Đoàn chuyên gia Nhật Bản thực hiện việc bảo trì, hiệu chuẩn đảm bảo duy trì hoạt động ổn định cho 02 hệ thống cảnh báo khí (CH4, CO) tập trung tự động KSP-2C, hệ thống cảnh báo khí Metan Nhật Bản khu Lộ Trí và hệ thống KSG-10 khu Yên Ngựa nhằm khai thác tối đa chức năng và hiệu suất làm việc của 3 hệ thống phục vụ cho công tác cảnh báo và kiểm soát khí trong hầm lò. Phối hợp với Trung tâm An toàn Mỏ, Trung tâm cấp cứu Mỏ lập và hoàn thiện thủ tục trình Bộ Công Thương xếp hạng mỏ cho 2 khu vực Lộ Trí và Yên Ngựa năm 2016 và năm 2017.

Công ty cũng chỉ đạo các phòng, ban, phân xưởng trong Công ty tổ chức thực hiện giám sát quản lý tốt công tác thông gió, thoát nước, khoan thăm dò và phòng ngừa sự cố bục nước trong hầm lò. Xây dựng phương án sửa chữa, thay mới các hạng mục công trình phục vụ công tác thông gió, thoát nước, chống ngập úng mỏ. Thực hiện các giải pháp thông gió hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác này phục vụ khai thác, đồng thời các phân tầng mức -35 lộ vỉa và phân tầng -140 đến -35 khu Lộ Trí… Cùng với đó, Than Thống Nhất đã duy trì cải tạo mở rộng hệ thống đường nước cứu hỏa trong mỏ hầm lò. Khảo sát, lập phương án thực hiện khoan thăm dò nhằm phòng ngừa sự cố bục nước.

Đối với công tác sàng tuyển, vận chuyển than: Giao cho Phòng Kiểm tra chất lượng sản phẩm, Phòng Điều khiển sản xuất giám sát nghiệm thu số lượng, chất lượng than của từng phân xưởng và toàn Công ty; giám sát kiểm tra lấy mẫu thường xuyên ở các cụm sàng tuyển, băng nhặt để tăng tỷ lệ thu hồi than cục trong than nguyên khai, đồng thời pha trộn than đảm bảo chất lượng trước khi vận chuyển đi tiêu thụ.

Ba là, về công tác quản lý kỹ thuật cơ bản: Công ty đã tăng cường kiểm tra hiện trường sản xuất, đi sâu kiểm tra chuyên đề kỹ thuật cơ bản lò chợ, đào lò, vận hành thiết bị điện, vận hành nồi hơi, trục tải… sau kiểm tra phải có biên bản, đồng thời xử lý nghiêm các sai phạm (nếu có) theo quy định. Thực hiện tốt công tác trắc địa trong khai thác than hầm lò, chỉ đạo đào lò đúng hướng, đúng độ dốc thiết kế. Rà soát lại các chỉ tiêu định mức tiêu hao vật liệu phục vụ khai thác, đào lò, chống xén. Xây dựng định mức tiêu thụ điện năng cụ thể cho từng thiết bị, khu vực và từng công nghệ sản xuất. Kiểm tra thanh lọc các thiết bị cũ, lạc hậu có mức tiêu thụ điện năng lớn và thay thế bằng những thiết bị hiện đại có hiệu suất làm việc cao, tiết kiệm điện, giảm chi phí điện năng; Tổ chức xây dựng kế hoạch sản xuất hàng tháng, quý kịp thời, hợp lý, sát thực tế cho các đơn vị khai thác, đào lò.

Thời gian này, Than Thống Nhất cũng thường xuyên củng cố công tác đảm bảo kỹ thuật an toàn bảo hộ lao động, thực hiện tốt kỹ thuật cơ bản cùng với việc chấn chỉnh, khắc phục những tồn tại, thiếu sót về công tác quản lý trong Quý I năm 2016, tập thể cán bộ công nhân viên Công ty Than Thống Nhất tin tưởng trong quý II/2016, hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ đạt kết quả cao hơn.

KỲ ANH

nangluongvietnam.vn/

Có thể bạn quan tâm

Các bài mới đăng

Các bài đã đăng

[Xem thêm]
Phiên bản di động