Tranh luận

Di dời Nhà máy sàng tuyển than Nam Cầu Trắng: Cần phương án tối ưu

08:00 |26/10/2012

 - 

Sau khi UBND TP Hạ Long (tỉnh Quảng Ninh) và Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) công bố di dời Nhà máy sàng tuyển than Nam Cầu Trắng của Công ty tuyển than Hòn Gai từ trung tâm thành phố Hạ Long ra khu vực khai thác của mỏ Suối Lai, thuộc phường Hà Khánh (cách trung tâm thành phố 7km), nhiều nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học và bạn đọc đã lo ngại việc di chuyển lần này sẽ không giải quyết được vấn đề, thậm chí còn lãng phí tền của.

>> Di dời Nhà máy sàng tuyển than Nam Cầu Trắng: Thực hiện theo quyết định đã được thông qua? Hay chọn phương án tiết kiệm 6.000 tỷ đồng?

Chuyên gia Nguyễn Văn Thắng cho rằng: “Tỉnh Quảng Ninh và Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) cần xem lại mục tiêu đầu tư. Nếu sau 2015 than xuất khẩu = 0 thì việc xây dựng các nhà máy tuyển sâu như Nam Cầu Trắng có còn cần thiết không?

Việc đưa nhà máy về Hà Khánh chỉ có tác dụng cấp than cho nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh thì đâu cần thiết phải xây dựng nhà máy quy mô như đề án. Theo tôi để giảm áp lực về đầu tư trong điều kiện tài chính hiện nay nên xem xét để Nhà máy Nam Cầu Trắng tiếp tục ở vị trí cũ, khi không còn xuất khẩu than nữa thì giải thể. Còn khu vực Hà Khánh chỉ cần xây dựng Nhà máy tuyển vừa phải, chủ yếu là sàng khô phục vụ nhà máy điện và nhu cầu than trong nước. Đặc biệt là chủ trương sàng tuyển tận thu than chất lượng thấp của các mỏ vùng Hòn Gai đang vào giai đoạn kết thúc khai thác để ra các sản phẩm đạt TCVN đã là hiệu quả rồi mà suất đầu tư không lớn.

Lãnh đạo TKV nên xem xét lại cả về quy hoạch sàng tuyển than hiện nay, không phải tập trung về các Nhà máy tuyển theo vùng đã làm giảm ô nhiễm và nâng cao được chất lượng than.

Nhà máy tuyển tập trung làm tăng chi phí vận chuyển, chưa kể lượng đất đá thải đổ quanh nhà máy tuyển cũng gây ảnh hưởng ô nhiễm môi trường. Cần mạnh dạn nghiên cứu phương án sàng tuyển tại mỏ vừa giảm ô nhiễm khu vực dân cư, vừa giảm chi phí vận chuyển mà chất lượng than qua tuyển bằng các moodul vừa và nhỏ vẫn đảm bảo đạt TCVN. Điều quan trọng là mô hình quản lý giữa TKV - Công ty con như thế nào? Tập đoàn nên là mô hình kinh tế Công ty mẹ - con chứ không phải chỉ tay giao việc như hiện nay làm cho Giám đốc các Công ty con không còn tính chủ động sáng tạo, không cần phải lo lãi lỗ, không cần phải cân đối bóc đất, đào than, chế biến, vận chuyển...”

TS Nguyễn Thành Sơn đề nghị: Hãy tôn trọng ý kiến phản biện. “Nếu như trước đây, cả Bộ Năng lượng và tỉnh Quảng Ninh dũng cảm dẹp sang một bên sĩ diện để tiếp thu ý kiến phản biện của chúng tôi, và tỉnh táo chấp nhận phương án di dời Nhà sàng than Hòn Gai sang bên kia Đèo Bụt (xuống Cửa Ông), thì chúng ta đã dành ra được gần 6.000 tỷ đồng vốn đầu tư để phát triển và duy trì ngành Than đang phải lo “chạy ngược xuôi” “vay từng đồng” cho mỗi dự án.

Hiện nay, muộn còn hơn không bao giờ, hãy cùng nhau minh bạch, lắng nghe các ý kiến phản biện, trao đổi một cách thiện chí dù chỉ một lần để cân nhắc, xem xét trước khi... “chém gió”!

Tôi sẵn sàng đề xuất công khai phương án tối ưu, khác hẳn với các quyết định đã được thông qua.

Lần di dời nhà sàng trước đây, chỉ vì nói trái nghị quyết của lãnh đạo Bộ Năng lượng người viết bài này đã bị “mời” ra khỏi Văn phòng Bộ. Lần này, nếu thực sự “chủ nghĩa nhiệm kỳ” và “lợi ích nhóm” cần phải bị loại bỏ (theo tinh thần NQ TW 4 khóa XI).

Và nếu được cấp có thẩm quyền lắng nghe, chúng tôi sẵn sàng đưa ra phương án tiết kiệm 6.000 tỷ đồng để mọi người cùng trao đổi”.

Bạn đọc Nguyễn Minh Vân khẳng định: “Đây là một vấn đề lớn, tầm cỡ quốc gia. Khoản tiền tiết kiệm 6.000 tỷ đồng cũng là một tài sản không nhỏ cho những mục tiêu quan trọng khác của quốc gia. Vì vậy, người đứng đầu Bộ Công Thương không thể không quan tâm và có ý kiến chỉ đạo”.

Còn bạn đọc Vũ Lê thì cho rằng, không nên nhìn nhận mọi vấn đề trong ngắn hạn. “Các nhà quy hoạch luôn thể hiện tầm nhìn của mình trong các dự án chiến lược từ 30 năm đến 50 năm trước khi duyệt, nhưng rốt cuộc tầm nhìn lại quá ngắn, dự án lại bị xóa, lại di chuyển, lại cải tạo... thật hoang phí tiền của nhà nước.

Nhà sàng Hòn Gai di chuyển sang hướng bắc với tầm nhìn 8 km, được hơn 15 năm nay lại đổi mới tầm nhìn để di chuyển sang hướng tây bắc hơn 7 km (tính từ Bưu điện tỉnh).

Phải chăng các nhà quy hoạch không thể nhìn xa nữa được chăng? Sau này bà con nhân dân thành phố Hạ Long tha hồ "tận hưởng" nguồn khói bụi, nước thải từ nhà sàng làng Khánh, nhà máy điện, nhà máy xi măng, khai trường sản xuất than... từ sông Diễn Vọng ra Bãi Cháy”.

Cùng quan điểm với Vũ Lê, bạn đọc Nguyễn Văn Hà cho rằng: Cần phải có cái nhìn xa xa, chứ đừng "ngắn tủn"...

“Tôi đồng tình với Tòa soạn NangluongVietnam đưa vấn đề này ra tranh luận và sau đó các tổ chức xã hội, nghề nghiệp tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành liên quan.

Qua phân tích của TS Sơn đã cho chúng ta thấy, cách đây 20 năm nếu chúng lắng nghe ý kiến của các chuyên gia thì giờ đây chúng ta đã không phải tiêu tốn lượng tiền hàng nghìn tỉ đồng. Hay nói đúng hơn là chúng ta đã không thiệt hại đến hàng nghìn tỉ đồng do không phải di dời nhà sàng tuyển than.

Xem ra phương án mới đây về việc di chuyển Nhà sàng tuyển than Nam Cầu Trắng ra P. Hà Khánh là “không bình thường”, cũng tầm nhìn và tư duy "ngắn tủn" một cách "chân thành" như cách đây 20 năm về trước!

Hy vọng tỉnh Quảng Ninh sẽ xem xét lại việc di dời Nhà sàng Nam Cầu Trắng một cách nghiêm túc và có cái nhìn xa xa hơn một chút đi, chứ đừng "ngắn tủn" như vậy.

Hy vọng các tổ chức xã hội, nghề nghiệp sẽ sớm tổng hợp các ý kiến tranh luận này với Chính phủ và theo tôi là phải cao hơn nữa: tới Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội”.

Nhiều bạn đọc khác cũng có những ý kiến tương tự và kiến nghị lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh và Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam nên xem xét thấu đáo vấn đề. Nam Cầu Trắng làm ô nhiễm môi trường thì đưa vào Hà Khánh có ô nhiễm không? vv...



®   Khi đăng lại tin, bài, hay trích dẫn số liệu phải ghi rõ nguồn: TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM và dẫn link tới bài gốc trên NangluongVietnam.vn

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3