» Phản biện

"Cú lừa thế kỷ" về phát thải CO2 và biến đổi khí hậu [Tạm kết]

06:14 |13/11/2017

 - 

Như đã đề cập trong bài trước, các nhà "khoa học chân gỗ" của Hội đồng Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) không chỉ diễn giải sai mối quan hệ giữa "nhiệt độ bình quân của trái đất" với "hàm lượng bình quân của CO2", họ còn giải thích sai về học thuyết "Hiệu ứng nhà kính" (GHE). Trên thực tế, khí hậu trên trái đất phụ thuộc vào mặt trời (ánh sáng mặt trời, bức xạ mặt trời); cường độ từ trường liên hành tinh; cường độ của các tia vũ trụ và mây che phủ quanh trái đất. Trái đất chỉ có thể đóng băng (trong các kỷ băng hà) khi mặt trời "yếu" và nóng lên (trong các kỷ ấm) khi mặt trời "khỏe". Tạo hóa (tự nhiên) luôn vận động và trong quá trình vận động đó, tạo hóa luôn tự lấy lại cân bằng (đi từ cân bằng này đến cân bằng khác). Nhưng đôi khi, người ta thường lợi dụng những "mất cân bằng của tự nhiên" cho mục đích "chính trị".

"Cú lừa thế kỷ" về phát thải CO2 và biến đổi khí hậu [Bài 1]
"Cú lừa thế kỷ" về phát thải CO2 và biến đổi khí hậu [Bài 2]

BÀI 3 [TẠM KẾT]: TẠI SAO KHÍ HẬU BIẾN ĐỔI?

Vũ trụ, chứ không phải con người làm biến đổi khí hậu

Con người nhỏ bé không có ảnh hưởng gì được đến các yếu tố ngoài không gian vũ trụ và trong lòng trái đất (sinh quyển, thạch quyển) để có thể ảnh hưởng đến thời tiết và khí hậu trên hành tinh xanh này. Các hiệu ứng tự nhiên từ vũ trụ, trước hết là từ mặt trời (siêu bão từ - Solar Superstorm xẩy ra từ 28/8-2/9/1859 sự kiện Kerrington là một ví dụ) và từ trong lòng hành tinh của chúng ta là chưa thể dự đoán được và chính chúng là những nguyên nhân dẫn đến các thay đổi về khí hậu, thời tiết mà chúng ta đang chứng kiến.

Khí hậu trên trái đất phụ thuộc vào mặt trời (ánh sáng mặt trời, bức xạ mặt trời); cường độ từ trường liên hành tinh; cường độ của các tia vũ trụ và mây che phủ quanh trái đất. Trong đó, mặt trời (hoạt động như một lò phản ứng nhiệt hạch khổng lồ) luôn là yếu tố bất định mà không con người (đặc biệt là các "chuyên gia môi trường" của Hội đồng Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu - IPCC) không thể mô phỏng được (mà chỉ có thể "ghi nhận" các hiện tượng mạnh lên, hay yếu đi trong hoạt động của mặt trời). Trái đất chỉ có thể đóng băng (trong các kỷ băng hà) khi mặt trời "yếu" và nóng lên (trong các kỷ ấm) khi mặt trời "khỏe".

Nhóm các nhà khoa học quốc tế của Đại học Harvard gần đây đã chứng minh: các vệt tối trên mặt trời đang mất đi ngày càng thường xuyên hơn. Khi các vệt tối này hoàn toàn biến mất, thì việc chiếu sáng của mặt trời sẽ bị gừng lại và sẽ xẩy ra hiện tượng đóng băng trên toàn trái đất và cuộc sống trên trái đất sẽ chấm dứt.

Tuy nhiên, điều này còn lâu mới xẩy ra. Vì, theo các nhà khoa học về tương lai học của Nga, các quá trình phức tạp như vậy (tương tự như sự biến động của các vệt mờ trên mặt trời) xẩy ra trong vũ trụ đã có từ lâu. Ví dụ, vào năm 2005, một vụ bùng nổ plazma trên mặt trời đã tạo ra một ống plazma có đường kính bằng 30 lần đường kính trái đất và có chiều dài hơn 350.000km. Và, một ngôi sao lớn như mặt trời có thể tồn tại 10 ÷ 15 tỷ năm. Đến nay, mặt trời đã tồn tại 4,58 tỷ năm.

Có nhiều yếu tố phức tạp khác trong vũ trụ, trong đó có mặt trời có ảnh hưởng đến mọi quá trình vận động của tự nhiên trên hành tinh xanh của chúng ta, kể cả các quá trình trôi dạt lục địa (continental drift), tích tụ hơi nước tạo mây trong khí quyển, làm thay đổi quỹ đạo của trái đất khi quay xung quanh mặt trời (các chu kỳ Milankovitch), ảnh hưởng đến quỹ đạo của mặt trời trong thiên hà, vv... Trong điều kiện tự nhiên như vậy, học thuyết "Hiệu ứng nhà kính" (GHE) trên trái đất thậm chí chưa được coi là "cái móng tay" để làm trái đất nóng lên.

Vận động của tạo hóa

Tạo hóa (tự nhiên) luôn vận động và trong quá trình vận động đó, tạo hóa luôn tự lấy lại cân bằng (đi từ cân bằng này đến cân bằng khác). Việc đi tìm "nguyên nhân", hay "thủ phạm" cho những vận động của tự nhiên (tạo hóa) là vô nghĩa. Nhưng đôi khi, người ta thường lợi dụng những mất cân bằng của tự nhiên cho mục đích chính trị.

Hành tinh (trái đất) của chúng ta, chỉ là 1 trong hàng tỷ tỷ hành tinh trong vũ trụ bao la. Vì vậy, trái đất này sẽ tồn tại theo 2 kịch bản là có con người, hoặc không có con người.

Có 3 dạng vật chất chủ yếu nhất (theo đúng nghĩa của học thuyết Mác-Lê nin) cần cho sự phát triển của loài người trên trái đất này là thực phẩm, nước, và năng lượng. Thiếu 1 trong 3 vật chất này, loài người sẽ bị diệt vong. Ngoài ra, có 2 thứ (hiện tượng) có thể làm tiêu vong (tuyệt chủng) loài người trên hành tinh này là thiên thạch lớn va vào trái đất và chiến tranh giữa người với người (giữa các chủng tộc/nền văn hóa/tôn giáo).

Các nhà vật lý có uy tín - kể cả những người được giải Nobel ngày càng thừa nhận rằng vũ trụ có thể được phát triển ra trong không gian nhiều chiều hơn (Thuyết Kaluza - Klein và Supergravity). Trong công thức tiên tiến nhất của lý thuyết này, được gọi là lý thuyết siêu dây, số lượng các kích thước (chiều) của vũ trụ được dự đoán là 10.

Stephen Hawkins và Michio Kaku đã giải thích về vấn đề này. Việc tìm kiếm những nguồn năng lượng trong tương lai chỉ có thể thực hiện được nếu ta hiểu rõ những vấn đề vật lý và sự nhiều chiều của vũ trụ.

Loài người chúng ta đã tồn tại trên hành tinh này khoảng 2 triệu năm. Trong quá trình tiến hóa của loài người, kiến thức khoa học phát triển theo hàm mũ. Tri thức của loài người càng nhiều càng phát triển nhanh. Tri thức khoa học mà loài người tích lũy được từ sau Thế chiến lần 2 đến nay còn lớn hơn tri thức tích lũy được trong 2 triệu năm trước. Việc phát triển của khoa học ngày nay được mô tả như "vũ bão" và thực tế đã làm tăng trưởng tri thức của loài người theo cấp số nhân một cách mạnh mẽ - gấp đôi trong vòng 10 ÷ 20 năm.

Về công nghiệp, loài người đã và đang đi từ Cuộc cách mạng 1.0 sang cuộc cách mạng 4.0. Về khoa học, có thể trong vòng 100 năm nữa, loài người đang chuyển từ "Nền văn minh loại 0 sang Nền văn minh loại I" cho phép chúng ta kiểm soát được khí hậu và tiếp cận được với những nguồn năng lượng lớn.

Hiện nay, khi loài người vẫn đang tồn tại trong "Nền văn minh loại 0", các máy tính điện tử lớn nhất cũng không thể dự đoán được khí hậu để giúp con người chinh phục được các nguồn năng lượng tự nhiên. Vì vậy, loài người vẫn phải dựa chủ yếu vào nguồn năng lượng hóa thạch.

Khi chuyển sang "Nền văn minh loại I", con người sẽ làm được những việc tưởng như viễn tưởng, như có khả năng kiểm soát được nguồn năng lượng của toàn bộ vũ trụ, kiểm soát được khí hậu, kể cả những trận động đất. Việc khai thác khoáng sản sẽ đi sâu hơn vào trong lòng đất và đi ra ngoài các đại dương bao la.

Như vậy, khi con người từ "Nền văn minh loại 0 sang Nền văn minh loại I" sẽ diễn ra "Cuộc cách mạng tiếp theo về năng lượng".

Trong vòng 100 ÷ 200 năm tới, không một ai sẽ phải lo lắng về 3 vật chất thiết yếu của loài người: năng lượng, nước và thực phẩm.

Rõ ràng, để có được 3 vật chất thiết yếu này, loài người đang tự làm ô nhiễm cả 3 môi trường tồn tại của mình. Việc sản xuất năng lượng gây ô nhiễm không khí, việc sản xuất thực phẩm gây ô nhiễm đất, và việc sử dụng nước gây ô nhiễm nước. Cả 3 đối tượng là con người, động vật và thực vật đều bị ảnh hưởng của 3 sự ô nhiễm này.

Thực phẩm rất dồi dào/phong phú, nhưng ngoài vấn đề chất thải còn có vấn đề lớn nữa là sự phân phối đến những nơi còn thiếu. Vấn đề phân phối thực phẩm sẽ ngày càng trở thành lớn do thu hoạch có thể không được như dự báo vì 3 lý do: thời tiết, thiên tai, và kỹ năng của con người. Đất để canh tác/nuôi trồng sẽ ngày càng khan hiếm do không gian sống của con người ngày càng phát triển. Khoảng 45% diện tích trái đất đang được sử dụng cho chăn nuôi. Chăn nuôi là ngành gây ô nhiễm hành tinh nhất trong các hoạt động của con người. Ngành chăn nuôi đang thải ra lượng khí CO2 (gấp 2 lần so với việc đốt/sử dụng than đá). Chỉ riêng đàn bò hiện đang ăn nhiều hơn 9 lần và đang uống nhiều hơn 6 lần so với mức tiêu thụ của cả loài người.

Vì vậy, để phát triển bền vững và bảo vệ sinh thái, các nhà khoa học và các nhà chính trị cần quan tâm nhiều hơn đến vấn đề ô nhiễm trong cung cấp thực phẩm, chứ không phải vấn đề ô nhiễm trong cung cấp năng lượng.

Nước ngọt, theo Cục Địa chất Hoa Kỳ (USGS), đến năm 2015 chỉ chiếm 2,5% trong tổng nguồn nước trên hành tinh chúng ta. Trong đó, nước ngọt chứa sẵn trong các sông hồ trên đất liền chỉ chiếm 0,3% tổng lượng nước ngọt (hay 0,0075% tổng lượng nước ngọt và mặn) mà loài người có được. Còn lượng nước ngọt chứa trong lòng đất (nước ngầm) cũng chỉ chiếm 0,8% tổng lượng nước. Nước ngọt đang ngày càng trở nên khan hiếm ở những quốc gia đông dân số như Ấn Độ. Trong tương lai, loài người phải điều chế nước ngọt từ nước biển để sử dụng.

Năng lượng, đặc biệt là nhiệt điện chạy than, là lĩnh vực đang có phát thải các loại khí COx, NOx, và bụi vào không khí, tất nhiên cũng làm tiêu hao nước nhưng không đáng kể. Sự phát thải này cũng hầu như không đáng kể.

TS. NGUYỄN THÀNH SƠN - HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

(Sao chép, trích dẫn nội dung từ bài viết này phải ghi rõ "nguồn", hoặc "theo": TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM)

Tài liệu tham khảo

Атмосфера Земли

Углеводороды

Фотосинтез

Океан

Геомагнитная буря 1859 года



®    Khi sao chép, trích dẫn nội dung, số liệu từ Website này phải ghi rõ "nguồn", hoặc "theo": TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3