» Phản biện

"Cú lừa thế kỷ" về phát thải CO2 và biến đổi khí hậu [Bài 2]

06:24 |07/11/2017

 - 

Cái gọi là "hiệu ứng nhà kính" và "biến đổi khí hậu" đã bị Hoa Kỳ lật tẩy và trên thực tế họ đã tuyên bố rút ra khỏi các hiệp định liên quan. Có lẽ lập luận của Hội đồng Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) cũng chỉ để sử dụng cho những quốc gia đang phát triển. Bởi các đại dương của chúng ta là một thể thống nhất (thông thủy) với nhau, nhưng tại sao khi nước biển dâng lại chỉ có 7 quốc gia (Việt Nam, Philippines, Nigeria, Haiti, Bangladesh, Papua New Guinea, Malawi) bị "thiệt hại nặng nề nhất", còn khoảng 140 quốc gia còn lại có lãnh thổ giáp biển lại không? Mặt khác, trái đất là 2 thể rắn (lục địa) và lỏng (đại dương) - thuộc loại "ấm", còn bầu khí quyển bao quanh trái đất là thể khí - thuộc loại "mát". Hiệu ứng nhà kính là hiện tượng của khí quyển. Khả năng "mát" làm "ấm" là phi khoa học.

"Cú lừa thế kỷ" về phát thải CO2 và biến đổi khí hậu [Bài 1]

BÀI 2: "CÚ LỪA THẾ KỶ" VỀ PHÁT THẢI CO2 VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Lịch sử của "hiệu ứng nhà kính"

Cách đây gần 30 năm, vào năm 1988 - năm có thời tiết nóng bất thường theo số liệu thống kê của cả 195 nước thành viên của Liên Hợp Quốc (LHQ), Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (United Nations Environment Programme - UNEP) và Tổ chức Khí tượng Thế giới (World Meteorological Organization - WMO) đã thành lập Hội đồng Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (Intergovernmental Panel on Climate Change - IPCC/Межправительственная комиссия по изменению климата).

Mặc dù chỉ là một "panel" của UNEP và WMO, chức năng nhiệm vụ của Hội đồng Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) được xem là nghiêm túc. Nhưng, ngay khi mới được thành lập, IPCC như một đứa trẻ "còn thơ" và như một cô dâu "bơ vơ" mới về "nhà chồng" Liên Hợp Quốc đã lập tức bị dạy dỗ về học thuyết "Hiệu ứng nhà kính" (Green House Effect - GHE). Theo "học thuyết" này, nguyên nhân làm cho khí hậu toàn cầu nóng lên năm 1988 là khí CO2 do con người thải ra trong quá trình sử dụng (đốt) các nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí).

Người tìm ra "thủ phạm" này (CO2 do con người thải ra) là một chuyên gia vận động hậu trưởng (lobbyist) Chripin Tickel người Anh. Chính "chân gỗ" người Anh này trước đó đã cho xuất bản cuốn sách về "Nguy cơ làm mát toàn cầu". Nhưng, vào năm 1988, khi toàn cầu bị nóng lên, chân gỗ đã quay ngoắt 180 độ, để vận động về nguy cơ khí hậu toàn cầu bị ấm lên, băng sẽ tan ra, nước biển sẽ dâng lên, và nhiều vùng đất liền sẽ bị ngập.

Lý thuyết về hiệu ứng nhà kính của IPCC không đáng tin cậy

Khi đó, cùng với sự "vào cuộc" của tiến sỹ James Hansen (Giám đốc Viện Goddard của Mỹ), IPCC đã cho "trình làng" một mô hình dự báo (mô phỏng) về biến đổi khí hậu toàn cầu. Theo dự báo đó, khí hậu của trái đất đang nóng lên là do hiệu ứng nhà kính (GHE). Còn nguyên nhân tạo ra GHE là khí CO2 do con người thải ra trong quá trình sử dụng nhiên liệu hóa thạch.

Đến nay, kết quả dự báo này của IPCC đã được nhiều nhà khoa học về vật lý, hóa học, địa chất, vv... chứng minh là không có căn cứ. Cụ thể như sau:

1/ Mô hình của IPCC đã không giải thích được quá khứ thì không tiên đoán được tương lai.

Một trong những tiêu chí đánh giá các mô hình dự báo là các kết quả mô phỏng quá khứ. Không giải thích được quá khứ thì không thể tiên đoán được tương lai. Mô hình dự báo về biến đổi khí hậu toàn cầu của IPCC đã không giải thích được tại sao trong quá khứ (500 ÷ 600 triệu năm về trước), hành tinh của chúng ta đã lần lượt trải qua các thời kỳ lạnh đi (các kỷ băng hà) và các thời kỳ ấm lên rất nhiều so với ngày nay (thời kỳ giữa các kỷ băng hà)?

Ngoài ra, mô hình này của IPCC đã không giải thích được tại sao khi nhiệt độ ở Nam Cực tăng lên thì nhiệt độ ở Bắc Cực lại giảm đi, và ngược lại. Họ càng không giải thích được tại sao từ 1920 ÷ 1940, Bắc Cực đã nóng hơn so với ngày nay, mặc dù suốt từ đó đến nay CO2 do con người thải ra liên tục tăng. Trong quá khứ hành tinh chúng ta đã trải qua lần lượt các "kỷ băng hà", rồi lại các "kỷ ấm áp" khi nồng độ CO2 thay đổi từ dưới 200 ÷ 300 ppm (xem Hình 1 - trong Bài 1).

Hình 2: Sự biến động của CO2 trên trái đất trong vòng 400 nghìn năm lại đây.

Hình 3: Hàm lượng CO2 ở Mauna Loa, Hawai tăng trong vòng 50 năm qua (đồ thị lớn màu đỏ) và thay đổi bình quân trong năm (đồ thị nhỏ màu đen).

Liên quan đến quá khứ, như trên đã nêu, bầu khí quyển của hành tinh chúng ta đang chứa 78% ni tơ, 21% ô xy và nhiều cái gọi là "khí nhà kính" (COx, CH4, NOx, O2,). Trong đó, nếu khối lượng của khí quyển là 5,137 x 1018 kg, và 1ppm khí CO2 tương đương với 2,13Gt (1Gt=109 tấn), thì hàm lượng khí CO2 hiện nay đang ở mức khoảng 0,04%, hay 400 ppm, hay (năm 1850 là 288 ppm, năm 2000 là 369,5 ppm, năm 2009 là 387 ppm, năm 2016 là 403 ppm). Nhưng, cách đây hàng triệu năm hàm lượng này là 0,1%.

Như vậy, so với cách đây vài trăm năm (khi con người sử dụng nhiều nhiên liệu hóa thạch), khí CO2 có tăng lên, nhưng nếu so với hàng triệu năm (khi nhiên liệu hóa thạch còn chưa được sử dụng), khí CO2 đã giảm đi đáng kể. Mô hình dự báo của IPCC đã không giải thích được vấn đề này.

Trong suốt 1 triệu năm gần đây, việc chuyển từ thời kỳ khí hậu lạnh sang thời kỳ khí hậu nóng, sự thay đổi hàm lượng khí CO2 nằm trong khoảng 100 ppm, tức là tổng mức tăng không vượt quá 40%. Trong đó, nhiệt độ trung bình của hành tinh trong thời kỳ 9.000 - 5.000 năm trước công nguyên cao hơn hiện nay khoảng 1 ÷ 2 độ C.

2/ Lý thuyết GHE của IPCC đã không tính đến các hiện tượng thiên nhiên.

Trong thời đại tin học ngày nay, không cần phải là chuyên gia khí tượng, chỉ cần để ý theo dõi chương trình dự bán thời tiết trên TV ai cũng có thể hiểu được các tiểu khí hậu (khí hậu cục bộ) trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta phụ thuộc cơ bản vào các yếu tố như: mây, các hiện tượng El Nino và La Nina, núi lửa, cháy rừng, địa lý tự nhiên. Trong đó, các đám mây hàng ngày, hàng giờ thực hiện chức năng phản xạ tới 60% bức xạ từ mặt trời.

Như vậy, chỉ cần mật độ mây giảm đi khoảng 1% đã có thể làm tăng nhiệt độ bằng mức tăng nhiệt độ trong suốt thế kỷ XX vừa qua trên hành tinh xanh của chúng ta. Các hiện tượng El Nino và La Nina là một tính năng cơ bản trong vận hành của trái đất trong suốt 10.000 năm nay, nhưng đã bị các chuyên gia IPCC đưa ra khỏi mô hình mô phỏng thời tiết.

Từ trước đến nay, các núi lửa đã phun vào khí quyển một khối lượng tro bụi có chứa các ô xít lưu huỳnh rất khổng lồ. Tới 90% các hoạt động phun trào của núi lửa xảy ra dưới đại dương. Và tất nhiên, các yếu tố này cũng không được các chuyên gia của IPCC tính đến trong mô hình dự báo thời tiết của họ.

Lý thuyết về GHE của IPCC đã không tính đến sự phụ thuộc của nhiệt độ vào chu trình carbon. Như chúng ta đã biết, vào thời kỳ mới hình thành, nguồn phát thải CO2 chủ yếu trên trái đất là các núi lửa. Dần dần, trong trạng thái bình thường, khí CO2 trong khí quyển sẽ tự cân bằng nhờ các quá trình vật lý và quá trình sinh học. Một phần CO2 tan vào nước biển (khoảng 5,5*1011 tấn/năm), lại có một phần CO2 được phát sinh trong quá trình quang hợp. Như vậy, để duy trì hàm lượng bình quân trong khí quyển, khí CO2 đang tham gia vào chu trình carbon (5 - 6 năm 1 lần).

Hiện nay, khoảng 57% lượng CO2 do con người thải vào khí quyển đang được thực vật và các đại dương hấp thụ. Do vậy, tỷ lệ tăng khối lượng CO2 trong khí quyển so với lượng khí CO2 được thải ra chỉ là 45%. Tỷ lệ này vừa giao động trong chu kỳ ngắn, vừa giao động theo chu kỳ 5 - 6 năm.

3/ Lượng khí CO2 do con người thải ra là không đáng kể.

Kể từ khi cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu, việc đốt các nhiên liệu hóa thạch đã ngày càng thải nhiều khí CO2 vào khí quyển.

Hình 4: Sự phát thải CO2 vào khí quyển giai đoạn 1800 ÷ 2004.

Việc đốt than, dầukhí thiên nhiên là nguyên nhân chính của sự gia tăng hàm lượng CO2. Nhưng việc phá rừng khai hoang cũng là một nguyên nhân đáng kể. Năm 2008, tổng lượng carbon bị đốt và thải vào khí quyển là 8,67 tỷ tấn (tương đương với 31,8 tỷ tấn CO2), năm 1990 con số này là 6,14 tỷ tấn. Việc phá rừng năm 2008 cũng làm tăng khí CO2 với khối lượng tương đương với đốt 1,2 tỷ tấn than, năm 1990 con số này là 1,64 tỷ tấn.

Với hàm lượng 0,04%, tổng khối lượng khí CO2 trong khí quyển của hành tinh hiện nay là 2.800 ÷ 3.030 tỷ tấn (2,8 ÷ 3,03*1012 tấn). Hàng năm, hành tinh của chúng ta cũng phát ra và hấp thụ lại tổng cộng 1.200 ÷ 1.900 tỷ tấn CO2.

Trong đó, chỉ có 3 ÷ 5% (khoảng 57 ÷ 64 tỷ tấn) là khí CO2 do con người tạo ra (sử dụng 1kWh điện nếu chạy bằng than sẽ góp phần thải ra 2,3 pound khí CO2; sử dụng 1galon xăng để chạy ô tô sẽ thải ra 19,6 pound khí CO2). Và trong tổng số khí CO2 do con người tạo ra hàng năm chỉ có khoảng 14 tỷ tấn có nguồn gốc từ đốt than, 11 tỷ tấn từ đốt dầu, 7 tỷ tấn từ đốt khí, và 25 ÷ 32 tỷ tấn có nguồn gốc từ chăn nuôi động vật.

Phần khí CO2 còn lại (1.180 ÷ 1.820 tỷ tấn) chiếm 95 ÷ 97% trong khí quyển có nguồn gốc (được thải ra) từ các hoạt động của tự nhiên, không hề liên quan đến con người như: các đại dương (480 ÷ 800 tỷ tấn/năm), các vi sinh vật (300 ÷ 370 tỷ tấn/năm), các côn trùng (220 ÷ 330 tỷ tấn/năm), các vùng đất đóng băng vĩnh cửu (70 ÷ 110 tỷ tấn/năm), núi lửa (40 ÷ 70 tỷ tấn/năm), các vụ cháy rừng (40 ÷ 55 tỷ tấn/năm), động vật có vú (30 ÷ 55 tỷ tấn/năm).

Như vậy, việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch của con người hàng năm, chỉ đóng góp bình quân (4% x 0,04%)= 0,0016% lượng CO2 trong khí quyển.

Nói một cách khác, tổng lượng CO2 trong khí quyển có thể tự tăng lên, hoặc giảm đi (như đã được ghi nhận trong quá khứ) mà hoàn toàn không phụ thuộc vào việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch của con người. Hay nói đúng ra, hiệu ứng nhà kính là sản phẩm của thiên nhiên chứ không phải của con người.

Theo các nhà khoa học Nga, vào năm 1998 (sau 10 năm kể từ khi IPCC "tìm" ra thủ phạm của GHE là khí CO2 do con người thải ra), các nguồn phát thải khí CO2 vào khí quyển được xác định như sau: quá trình phân hủy hữu cơ của thực vật (cây, cỏ bị thối nát) 220 tỷ tấn; các đại dương là 330 tỷ tấn. Chỉ riêng các vụ cháy rừng và cháy than bùn ở Indonesia năm 1997 đã đưa vào khí quyển một lượng khí CO2 tương đương 13 ÷ 40% tổng khối lượng khí do con người thải ra khi dùng các nhiên liệu hóa thạch trong năm đó. (Trung bình hàng năm hoạt động núi lửa thải vào khí quyển 2*108 tấn CO2).

4/ Việc xác định nồng độ và nhiệt độ "bình quân" có sai số rất lớn và không đáng tin cậy.

Trong khí quyển, có hai thành phần bất định mà con người không thể xác định được đó là hơi nước (H2O) và ô xít cacrbon (CO2). Trong đó: (i) Thành phần hơi nước (các đám mây) trong khí quyển giao động trong khoảng rất lớn 0,2 ÷ 2,5% (tính theo thể tích) và phụ thuộc chủ yếu vào vĩ tuyến; (ii) Thành phần CO2 trong vỏ trái đất (sinh quyển và thạch quyển) được lưu trữ tự nhiên dưới dạng carbon trong các trầm tích, nước biển, đất, thực vật và trong các chất hữu cơ. Tổng lượng carbon trong vỏ trái đất lớn gấp 100.000 lần tổng lượng (tương đương) chứa trong khí quyển.

Như vậy, trong quá trình vận động của hành tinh xanh, tổng lượng phát thải/hấp thụ của khí CO2 luôn là một biến số (bất định).

Ngoài ra, theo quy luật tự nhiên, ở gần mặt đất, hàm lượng CO2 thường thấp hơn khi tốc độ gió cao và cao hơn khi không có gió. Tương tự, hàm lượng CO2 ở các khu dân cư mật độ lớn (đô thị - kín gió) bao giờ cũng cao hơn ở vùng dân cư mật độ thấp (ngoại ô - thoáng mát). Vì vậy, nhiệt độ trong các khu đô thị bao giờ cũng cao hơn vùng ngoại ô. Mà gió và phân bổ dân cư trên hành tinh xanh của chúng ta là một đại lượng bất định.

Trong trường hợp khí CO2 phát sinh ra cũng bất định và phân bổ cũng bất định như vậy, việc các chuyên gia của IPCC đo được hàm lượng CO2 trung bình trong khí quyển để đưa ra cái gọi là "cân bằng" chỉ là một... trò bịp.

IPCC không thể xác định được "nhiệt độ trung bình của trái đất". Cũng giống như việc xác định "hàm lượng trung bình" của CO2 như nêu trên, việc xác định chính xác "nhiệt độ trung bình của trái đất" trong vũ trụ bao la là bất khả thi. Khí quyển của trái đất cao khoảng 100km. Còn trái đất thì "tam sơn, tứ hải, nhất phần điền", đại dương chiếm ¾ diện tích. Các "khoa học chân gỗ" của IPCC đã đo nhiệt độ bình quân của trái đất như thế nào? Về mặt toán học, sai số trong các phép đo về nhiệt độ còn cao hơn nhiều lần so với giá trị của cái gọi là "nhiệt độ trung bình của trái đất tăng lên theo tính toán".

Vì cả hai đại lượng quan trọng là "nồng độ bình quân" của khí CO2 và "nhiệt độ bình quân" của khí quyển không thể xác định chính xác, nên về mặt toán học, không thể xác lập chính xác mối quan hệ giữa khí CO2 và nhiệt độ. Cách diễn giải của IPCC về mối quan hệ giữa CO2 và nhiệt độ chỉ là áp đặt.

5/ Mô hình dự báo của IPCC đã không tính đến CO2 trong các đại dương.

Như trên đã nêu, các đại dương là nguồn phát thải ra khí CO2 lớn nhất. Mà theo các định luật của chất khí, khi nhiệt độ chất lỏng (nước biển) tăng, các hạt (thành phần) chất lỏng cũng di chuyển nhanh hơn, làm cho lượng CO2 thoát ra từ đại dương cũng nhiều hơn. Như vậy, véc tơ vận động tự nhiên theo chiều nhiệt độ đại dương tăng làm tăng lượng khí CO2 thoát ra luôn lớn hơn véc tơ theo chiều khí CO2 tăng làm tăng nhiệt độ đại dương.

Ngoài ra, khi nhiệt độ khí quyển tăng, sự phân hủy các chất hữu cơ (thực vật bị chết) trên trái đất cũng gia tăng và điều này cũng làm tăng lượng khí CO2 thải vào khí quyển.

Hay nói cách khác, nhiệt độ khí quyển tăng đã làm tăng khí CO2, chứ không phải khí CO2 tăng đã làm nhiệt độ khí quyển tăng.

Hình 5: Sự trao đổi CO2 giữa đại dương và khí quyển.

Trong các đại dương lượng CO2 dưới dạng hydrocarbonat và các ion carbonat có nhiều hơn trong khí quyển 100 lần (tính quy đổi theo carbon. Dưới đáy biển, thường xuyên xẩy ra phản ứng hóa học giữa đất đá gốc chứa canxi (CaCO3), nước, và CO2, ví dụ:

CaCO3 + CO2 + H2O⇌ Ca2+ 2 HCO2 - Đây là phản ứng thuận nghịch dẫn đến hình thành các loại đá vôi có kèm theo sự giải phóng CO2. Trong hàng trăm triệu năm, quá trình này đã dẫn đến sự tích tụ phần lớn lượng CO2 ban đầu từ khí quyển trái đất. Do vậy, phần lớn khí CO2 do con người thải ra sẽ hòa tan vào đại dương, nhưng tốc độ hòa tan này trong tương lai vẫn không xác định được.

Liên quan đến đại dương, các chuyên gia của IPCC không chỉ diễn giải sai mối quan hệ giữa "nhiệt độ bình quân của trái đất" với "hàm lượng bình quân của CO2", họ còn giải thích sai về GHE. Nhìn từ vũ trụ bao la, trái đất là 2 thể rắn (lục địa) và lỏng (đại dương) - thuộc loại "ấm", còn bầu khí quyển bao quanh trái đất là thể khí - thuộc loại "mát". GHE là hiện tượng của khí quyển. Khả năng "mát" làm nóng "ấm" là rất phi khoa học.

Ngoài ra, nhiệt độ của khí quyển phụ thuộc vào các yếu tố như: thành phần các chất khí (trong đó chỉ có 0,04% CO2); áp suất khí quyển (theo định luật của các chất khí) và khoảng cách đến mặt trời.

Rõ ràng, như ta cảm nhận được, khoảng cách từ trái đất đến mặt trời có ảnh hưởng rất quyết định đến nhiệt độ khí quyển. Còn, cũng theo định luật của các chất khí, áp suất của khí quyển có vai trò lớn hơn trong việc khuếch tán năng lượng bức xạ nhận được từ mặt trời và trong việc giữ cho nhiệt độ của bầu khí quyển cao hơn (khoảng 90,4 độ Kelvin) so với khi không có bầu khí quyển.

Hay nói cách khác, CO2 không thể là tác nhân duy nhất và càng không phải là tác nhân quan trọng nhất gây ra GHE để làm cho nhiệt độ trái đất nóng lên.

6/ Lý thuyết GHE của IPCC đã không tính đến yếu tố quan trọng nhất là mặt trời.

Một nguyên nhân khác dẫn đến tăng hàm lượng khí CO2 trong khí quyển là nhiệt độ bình quân trên trái đất trong thế kỷ XX đã tăng (do quá trình hoạt động mạnh lên của mặt trời) làm tăng quá trình phân hủy các chất hữu cơ và làm tăng lượng khí CO2 chứa trong các đại dương được thoát ra vào khí quyển.

Hệ sinh thái trên trái đất được bầu khí quyển và từ trường của trái đất bảo vệ trước những bức xạ có hại từ mặt trời. Tuy nhiên, sự bảo vệ này cũng không phải là tuyệt đối vì hoạt động của mặt trời là ngẫu hứng. Khi mặt trời hoạt động mạnh, các cơn bão từ vẫn ảnh hưởng rất rõ nét đến khí hậu và sức khỏe của con người trên trái. Trong thiên nhiên, dưới ảnh hưởng của mặt trời, một cơn bão tạo ra sức mạnh bằng hàng trăm quả bom nhiệt hạch (hydro) nhân tạo.

7/ Lý thuyết GHE của IPCC đã không tính đến sự vận động của trái đất.

Vì trái đất luôn quay, đường sức của từ trường trên trái đất (từ quyển) cũng luôn thay đổi theo sự vận động của lớp magma (chứa kim loại nóng chảy) trong vỏ trái đất. Theo tính toán, cứ khoảng 500 ÷ 800 nghìn năm, kim la bàn sẽ lại quay ngược 180 độ (như đã từng quay ngược cách đây gần 800 nghìn năm).

8/ Lý thuyết GHE của IPCC đã không tính đến ảnh hưởng của cây trồng đến CO2.

Trong cân bằng của tự nhiên của sinh quyển, nếu không có CO2 thì không có thảm thực vật để sản sinh ra ô xy cho các loại động vật có vú (trong đó có con người) hít thở và tồn tại. Đối với thảm thực vật, các nhà khoa học đã tính nồng độ CO2 tối ưu là khoảng 0,15%. Đây cũng chính là lý do tại sao trong canh tác nông nghiệp sạch, các nhà kính (Green Houses) đôi khi (tùy theo loại cây trồng) phải được cấp thêm khí CO2.

Theo phương thức cố định CO2, đa số áp đảo các thực vật thuộc các dạng quang hợp С3 và С4. Trong đó, phần lớn các loài thực vật được bết đến thuộc nhóm C3. Còn nhóm C4 là một số loài thân thảo bao gồm những cây trồng quan trọng như ngô, mía, kê.

Cơ chế quang hợp của các loài C4 thích nghi với hàm lượng CO2 trong khí quyển thấp. Khi nồng độ CO2 tăng, hầu hết các loài thực vật đều gia tăng quá trình quang hợp và tăng trưởng hơn. Nhưng, quá trình quang hợp sẽ dừng lại khi nồng độ CO2 đạt mức 400 ppm.

Như vậy, nồng độ CO2 hiện nay (395 ppm) được coi là tối ưu đối với các loài cây C4. Còn đối với loại thực vật C3 đường cong tăng trưởng bắt đầu từ nồng độ CO2 lớn hơn 1000 ppm. Tức nồng độ CO2 hiện nay còn rất thấp so với mức tối ưu cho các loài cây C3.

Các thí nghiệm đã cho thấy: Khi hàm lượng CO2 hiện nay tăng gấp đôi sẽ dẫn đến tăng trưởng sinh khối của nhóm vây C3 lên 41%, và C4 lên 22%. Nếu bổ sung thêm vào không khí 300 ppm CO2, năng suất cây nhóm C3 tăng 49%, nhóm C4 tăng 20%, cây ăn quả và các loại dưa tăng 24%, các loại đậu tăng 44%, loại cây ăn củ tăng 48%, rau tăng 37%. Thực tế trong giai đoạn từ 1971 ÷ 1990 khi hàm lượng CO2 tăng thêm 9% đã làm tăng sinh khối của rừng ở châu Âu lên 25÷30%.

Đến lượt mình, cây trồng lại có ảnh hưởng đến hàm lượng CO2 trong khí quyển. Nhưng việc này đã không được tính đến trong mô hình dự báo của IPCC.

9/ IPCC đã không tính đến mặt tích cực của việc đốt nhiên liệu hóa thạch.

Thành phần của các nhiên liệu hoá thạch cơ bản là carbon và hydro. Khi các nhiên liệu hoá thạch bị đốt cháy, cacbon bị oxy hóa để tạo ra carbon dioxide và hydro được oxy hóa thành nước. Nhưng, các chuyên gia của IPCC chỉ quan tâm đến CO2 chứ không quan tâm đến H2O. Về mặt bảo toàn vật chất, khi đốt nhiên liệu hóa thạch, thì lượng hơi nước cũng tăng lên tương tự như lượng CO2 nhưng không được các chuyên gia IPCC xem xét trong dự báo về nhiệt độ toàn cầu nóng lên.

10/ IPCC đã không nhìn ra thủ phạm lớn nhất của GHE.

Vấn đề là ở chỗ, chính hơi nước hay các đám mây trong tầng đối lưu của khí quyển mới thực sự là thủ phạm làm cho khí hậu nóng lên hay nguội đi. Mà hơi nước (các đám mây) trong thiên nhiên thì vô kể, con người không thể đo đếm được và chúng chính là hệ quả của những hoạt động bất định của mặt trời. Hơi nước là nguyên nhân cơ bản của hiệu ứng nhà kính.

Đã từ lâu, các nhà khoa học đã chứng minh rằng, nếu không có hiệu ứng nhà kính của hơi nước trong tầng đối lưu của khí quyển, nhiệt độ bình quân của trái đất là -15 độ C. Trong khi nhiệt độ thực tế bình quân hiện nay là +15 độ C. Như vậy, hiệu ứng nhà kính đã làm tăng nhiệt độ của không khí lên 30 độ C. Trong đó, hơi nước làm tăng 20,6 độ C, khí CO2 chỉ làm tăng 7,2 độ C.

Trò gian lận bị lật tẩy

Chính phủ của Tổng thống Mỹ Donal Trupm là những người đầu tiên nhận thấy sự lừa bịp của cái gọi là "hiệu ứng nhà kính" và "biến đổi khí hậu", đã chính thức tuyên bố rút ra khỏi các hiệp định có liên quan.

Lý thuyết GHE của IPCC chỉ để "bịp" những quốc gia đang phát triển. Giả sử, GHE sẽ làm cho băng ở Bắc Cực (Arctic) và Nam Cực (Antarctica) tan ra (do khí hậu trái đất nóng lên) làm cho nước biển dâng. Trong khi các đại dương của chúng ta là một thể thống nhất (thông thủy) với nhau. Trên thế giới, hiện chỉ có 46 quốc gia không giáp biển (chiếm 11,4% về diện tích và 6,9% về dân số). Như vậy, có ít nhất 147 quốc gia có lãnh thổ giáp biển. Vậy, tại sao khi nước biển dâng lại chỉ có 7 quốc gia (gồm Philippines, Nigeria, Việt Nam, Haiti, Bangladesh, Papua New Guinea, Malawi) sẽ bị "thiệt hại nặng nề nhất"? Cách giải thích theo IPCC hoàn toàn không thuyết phục!

Cuối cùng, GHE chỉ là con bài chính trị. Số người nghi ngờ về những kết luận của IPCC đang ngày càng tăng lên rất nhanh trên thế giới. Nhiều nhà khoa học đã từng tham gia IPCC trước đây, đã công khai xác nhận rằng "vấn đề biến đổi khí hậu trên thế giới không phải là vấn đề khoa học, mà là vấn đề chính trị". Có rất nhiều nhà khoa học trước đây đã tham gia và hỗ trợ cho IPCC, gần đây đã lặng lẽ rút lui vì chính họ đã nhận ra những điểm rất bất cập trong cách tiệm cận về GHE và những sai phạm không thể tha thứ được trong kết luận rằng "tác nhân nóng lên của trái đất là khí CO2 do con người thải ra" (Aнтропогенная эмиссия).

Đón đọc kỳ tới: Tại sao khí hậu biến đổi?

TS. NGUYỄN THÀNH SƠN - HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

(Sao chép, trích dẫn nội dung từ bài viết này phải ghi rõ "nguồn", hoặc "theo": TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM)

Tài liệu tham khảo

Атмосфера Земли

Углеводороды

Фотосинтез

Океан

Геомагнитная буря 1859 года



®    Khi sao chép, trích dẫn nội dung, số liệu từ Website này phải ghi rõ "nguồn", hoặc "theo": TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3