Thời sự tổng hợp

Châu Á "phiên bản" 2013 và châu Á thời khủng hoảng

16:23 |04/09/2013

 - 

Theo Bộ phận dự báo, phân tích và tư vấn rủi ro thuộc Tập đoàn Nhà Kinh tế (Anh), sự bất ổn trên thị trường ngoại hối một số nước Đông Nam Á như Philippines, Thái Lan, Malaysia và Indonesia thời gian qua đã dẫn tới việc so sánh tình hình hiện tại với cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á năm 1997-1998.

Tuy nhiên, dù những gì đang diễn ra thời gian qua có nét tương đồng với cuộc khủng hoảng xảy ra 16 năm trước, song "phiên bản" năm 2013 có nhiều điểm khác biệt, khi các nền kinh tế khu vực giờ đây có khả năng chống chọi tốt hơn trước tình trạng thoái vốn.

Sự tương đồng

Năm 1997, luồng tư bản như thủy triều rút khỏi Đông Á khiến nhiều quốc gia lâm vào khủng hoảng. Trước khi xảy ra khủng hoảng, cả thế giới nói đến phép lạ kinh tế của tám nền kinh tế mới nổi của Đông Á.

Sự lạc quan chung đi cùng nỗ lực chuyển hướng theo quy luật thị trường của Trung Quốc rồi Ấn Độ đã giúp các nước Đông Á có được nguồn vốn dồi dào tạo nền tảng cho tăng trưởng đạt mức cao.

Tuy nhiên, khi lãi suất ở Mỹ tăng gấp đôi chỉ sau một năm khiến USD lên giá mạnh từ năm 1995, nhiều quốc gia đã neo đồng nội tệ vào đồng bạc xanh của Mỹ phải phá giá đồng tiền để tự cứu nguy và khủng hoảng bắt đầu từ đó.

Trong khi đó, sau khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra vào năm 2008, các thị trường cổ phiếu và trái phiếu ở các nền kinh tế tương đối mạnh ở Đông Nam Á đã thu hút được những dòng vốn đầu tư lớn từ nước ngoài.

Dòng vốn đầu tư vào châu Á cũng được thúc đẩy bởi các chương trình nới lỏng định lượng (QE) của các ngân hàng trung ương ở các nước phát triển như Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương Anh đã giúp cho các nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn lãi suất thấp ở những nước này.

Khi các ngân hàng trung ương ở các nền kinh tế phát triển trên thế giới hạ lãi suất xuống mức rất thấp, các nhà quản lỹ quỹ đầu tư muốn có lợi nhuận nhiều hơn đã phải chuyển hướng sang các nền kinh tế mới nổi ở châu Á.

Khi dòng tiền đổ vào, các đồng nội tệ Đông Nam Á đều tăng giá. Sau khi bị mất giá với mức trung bình 4,9% so với đồng USD vào năm 2009, năm đồng tiền chính ở khu vực đã tăng giá 8,9% vào năm 2010.

Lượng vốn đầu tư vào Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan đã tăng từ 22,5 tỷ USD năm 2009 lên 58,3 tỷ USD một năm sau đó.

Mặc dù nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào những nước này giảm trong năm 2011, do các nhà đầu tư lo ngại về cuộc khủng hoảng nợ công ở Khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone), nhưng các đồng tiền ở Đông Nam Á vẫn mạnh, tăng giá trung bình 5,1% so với đồng USD.

Mức tăng tỷ giá đã thu hút các nhà đầu tư quay trở lại trong năm 2012 khi tổng vốn đầu tư nước ngoài vào những nước này tăng lên 61,4 tỷ USD.

Tuy nhiên, tình hình trên thế giới đã bắt đầu thay đổi, đặc biệt là việc Fed có thể giảm dần chương trình kích thích kinh tế thông qua việc mua lại tài sản bắt đầu đẩy lãi suất trái phiếu trên thị trường Mỹ lên cao.

Khu vực Đông Nam Á trở nên kém hấp dẫn hơn so với trước đây, khiến dòng vốn đổ vào các thị trường cổ phiếu và trái phiếu của khu vực đang chuyển dần sang hướng khác.

Ngay từ năm ngoái, điều này đã được thể hiện qua việc đồng rupiah của Indonesia mất giá 6,6% so với đồng USD, trong khi các đồng nội tệ của Thái Lan và Malaysia cũng giảm giá nhẹ.

Các đồng tiền của những nước này bị mất giá nhiều hơn khi mối lo ngại về việc Fed giảm dần quy mô chương trình QE gia tăng từ cuối tháng Bảy vừa qua.

Điểm khác biệt

Trước hết, việc châu Á phải hứng chịu cuộc khủng hoảng lịch sử vào cuối thập niên 1990 một phần là do các khoản nợ ngoại tệ của khu vực ở mức cao.

Các công ty, các ngân hàng và các chính phủ đã vay một khoản tiền lớn bằng USD, nhưng doanh thu lại tính bằng đồng nội tệ. Khi đồng tiền mất giá, các công ty và các ngân hàng không thể trả nợ. Ngược lại, mức nợ ngoại tệ ở châu Á hiện vẫn đang khá thấp và hầu hết là bằng đồng nội tệ.

Ở thời điểm hiện nay, nợ nước ngoài của các quốc gia Đông Nam Á cũng ít hơn nhiều so với trước đây, có nghĩa là mức nợ vẫn nằm trong tầm kiểm soát mặc dù tỷ giá hối đoái thấp sẽ khiến cho giá trị các khoản nợ nước ngoài tăng lên.

Bên cạnh đó, một số nhà phân tích cho rằng hệ thống tài chính châu Á hiện nay đã được điều chỉnh trong khi dự trữ ngoại hối cũng đã tăng lên, tạo khả năng “tự vệ” tốt hơn những năm 1990.

Dự trữ ngoại tệ của các ngân hàng châu Á hiện đã lên tới gần 7.000 tỷ USD, nhờ việc tăng cường tích cóp USD kể từ sau khủng hoảng 1997 để đề phòng biến động.

Thái Lan, tâm chấn của cuộc khủng hoảng năm 1997, hiện có dự trữ 170 tỷ USD so với con số nợ 30 tỷ USD không được tiết lộ cho tới khi cuộc khủng hoảng bất ngờ xảy đến.

Dự trữ ngoại hối của Hàn Quốc cũng tăng mạnh từ mức chỉ là 4% GDP vào năm 1997 lên tương đương 28,5% GDP hiện nay. Indonesia và các nền kinh tế lớn ở Đông Nam Á đều không có nguy cơ rơi vào cuộc khủng hoảng thanh khoản trong tương lai gần.

Nguồn dự trữ ngoại tệ của những nước này đủ để nhập khẩu trong vòng 6 tháng, thậm chí lên tới 13 tháng như trường hợp Philippines.

Đồng thời, về vấn đề tỷ giá hối đoái cũng không giống như năm 1997, khi phần lớn các nền kinh tế châu Á không duy trì việc neo tỷ giá. Vì vậy, trong ngắn hạn, việc đồng rupee, hoặc baht, hoặc rupiah giảm 10% có thể làm tổn thương các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, nhưng trong trung hạn, đồng tiền xuống giá có thể là một van xả cho nền kinh tế, làm cho hàng hoá cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới và khuyến khích người tiêu dùng dùng hàng trong nước để nhập khẩu ít hơn. Điều đó cũng cho phép ngân hàng trung ương duy trì dự trữ ngoại hối để nhập khẩu và trả nợ nước ngoài.

Thêm vào đó, khu vực Đông Á lại có Nhật Bản với khả năng can thiệp khá hơn và có phương tiện tài chính phần nào bù đắp vào phần rút vốn của Mỹ.

Các doanh nghiệp Nhật Bản hiện đã vững mạnh hơn, chính phủ đang thúc đẩy kinh tế phát triển, còn ngân hàng trung ương cũng sẵn sàng bơm thanh khoản nếu Fed giảm kích thích.

Trong khi đó, trong cuộc khủng hoảng năm 1997, hệ thống ngân hàng ốm yếu của Nhật Bản rót tới 100 tỷ USD vào năm nền kinh tế chịu tác động mạnh nhất nên khi các ngân hàng nước này ngừng cho vay, cuộc khủng hoảng càng trở nên trầm trọng.

Ngoài ra, khi Fed chấm dứt QE và thị trường tín dụng thắt chặt, quốc gia giàu tiền mặt như Trung Quốc sẽ tìm cách lấp đầy khoảng trống để gia tăng vị thế của mình trong khu vực. Mục tiêu tăng trưởng chính thức trong năm nay là 7,5% mà giới lãnh đạo Trung Quốc đặt dù thấp nhất kể từ năm 1990, nhưng vẫn còn vượt xa nhịp độ tăng trưởng ước khoảng 2% của Mỹ.

Và những rủi ro

Tuy nhiên, hầu hết các động lực tăng trưởng quan trọng của châu Á trong ba thập niên qua đã không còn tác dụng thần kỳ như trước nữa. Tình trạng suy giảm trên thị trường chứng khoán và tín dụng có thể làm trầm trọng thêm sự suy giảm trong chi tiêu, nhất là khi người tiêu dùng đối mặt với việc giá trị tài sản của họ có thể giảm.

Bên cạnh đó, vẫn có những rủi ro liên quan tới những diễn biến gần đây. Sự không ổn định của đồng nội tệ có tác động tiêu cực đối với các công ty làm ăn trên thị trường quốc tế và những nước có biên độ tỷ giá lớn như Indonesia có thể sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Hơn nữa, mặc dù đồng nội tệ yếu có thể giúp cải thiện khả năng cạnh tranh thương mại của một nền kinh tế nhưng cũng đi kèm rủi ro lạm phát tăng khi giá cả hàng nhập khẩu tính theo đồng nội tệ tăng lên. Nguồn vốn FDI thấp cũng có thể dẫn tới tổng vốn đầu tư nói chung giảm, ít nhất là trong ngắn hạn.

Những nguy cơ đó giải thích tại sao chính phủ các nước Đông Nam Á lo ngại về những diễn biến trong những tuần gần đây, đặc biệt là về tình hình xấu đi khi Fed bắt đầu giảm quy mô chương trình QE.

Khi Fed tiến hành động thái này, các nền kinh tế yếu hơn trong khu vực có thể sẽ bị tác động. Vì vậy, chính phủ các nước Đông Nam Á này có thể sẽ phải đẩy mạnh các biện pháp cải cách nếu như muốn duy trì dòng vốn FDI cũng như nhịp độ tăng trưởng GDP như trước đây.

Và ngay cả khi những lo ngại về cuộc khủng hoảng mới đang được bác bỏ, các nhà phân tích vẫn nhìn thấy sự cách biệt của châu Á trong việc bắt kịp với sự phát triển của các nước châu Âu.

Trong ba tháng qua, thị trường chứng khoán ở Trung và Đông Âu đã tăng 1,2%. Đồng nội tệ như zloty của Ba Lan và lev của Bulgaria cũng đã tăng so với đồng USD kể từ tháng 5/2013.

Javier Corominas, phụ trách nghiên cứu kinh tế và chiến lược tiền tệ tại Record Currency Management Ltd. - công ty quản lý khoảng 36 tỷ USD - cho rằng, Trung và Đông Âu đã trở thành một nơi trú ẩn tương đối an toàn trong các thị trường mới nổi.

Nhà kinh tế trưởng Neil Shearing phụ trách các thị trường mới nổi tại Capital Economics ở London (Vương quốc Anh), lại cho rằng các nền kinh tế mới nổi châu Âu không phải là đối tượng được hưởng lợi nhiều của chương trình mua trái phiếu của Fed nên không có gì đáng ngạc nhiên khi các nước này ít bị ảnh hưởng hơn.

Trước những thách thức đang phải đối mặt, trước mắt, các nền kinh tế châu Á cần nhanh chóng có ngay các giải pháp để sớm ổn định tình hình và củng cố nền kinh tế trong nước. Còn về lâu dài, các nền kinh tế này sẽ phải thúc đẩy kế hoạch cải cách và hoạch định chính sách tài chính - tiền tệ phù hợp nhằm bắt kịp với những nước phát triển.

Sức mạnh cốt lõi của các nền kinh tế châu Á đã đạt được qua nhiều thập niên tăng trưởng mạnh mẽ sẽ không thể bị ảnh hưởng lâu dài chỉ vì hậu quả ngắn hạn của một sự thay đổi trong chính sách tiền tệ của Mỹ.

Theo: TTXVN



® Ghi rõ nguồn: NangluongVietnam.vn khi sử dụng thông tin từ website này.

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3