Than - Khoáng sản

Định hướng đổi mới công nghệ nhằm phát triển bền vững ngành Than Việt Nam (Kỳ 2)

00:00 |27/06/2012

NangluongVietnam - 

Để đảm bảo từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành Than - Khoáng sản theo chiến lược phát triển đến năm 2015, định hướng đến năm 2025, cần thiết có những bước đột phá mới trong việc nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ, hoàn thiện mô hình quản lý, và đặc biệt là sự tác động sâu hơn nữa của các đơn vị tư vấn nghiên cứu đến phát triển sản xuất của doanh nghiệp.

>> Đổi mới, hiện đại hóa khai thác, tuyển chế biến nhằm phát triển bền vững ngành Than Việt Nam (Kỳ 1)

TS. Trần Xuân Hòa - Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

TS. Nguyễn Anh Tuấn - Viện Khoa học Công nghệ mỏ - Vinacomin

Phát biểu tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII, Chủ tịch HĐTV Vinacomin Trần Xuân Hòa khẳng định: "Nếu không điều chỉnh giá bán than cho điện theo giá thị trường thì Vinacomin sẽ không có tiền để đầu tư cải tạo, mở rộng, nâng công suất 61 dự án mỏ hiện có, đầu tư xây dựng mới 28 dự án mỏ có công suất đến 2triệu tấn/năm... Và với 13,5 triệu tấn than bán cho các nhà máy nhiệt điện trong năm nay, Vinacomin phải bù lỗ khoảng 8.500 tỷ đồng".

Để đảm bảo duy trì sự phát triển ngành Than, cần tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công tác áp dụng các giải pháp công nghệ cơ giới hóa trong các công đoạn của quá trình khai thác than hầm lò, đảm bảo công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành Than theo chiến lược phát triển đến năm 2015, định hướng đến năm 2025.

Các định hướng bao gồm:

1. Tiếp tục xây dựng cơ sở dữ liệu địa cơ mỏ hoàn chỉnh phục vụ nhu cầu phát triển ngành Than - Khoáng sản Việt Nam.

2. Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật công nghệ, nâng cao mức độ cơ giới hóa, hiện đại hóa trong quá trình sản xuất tại các mỏ than hầm lò và lộ thiên. Đồng thời hoàn thiện công nghệ tuyển, chế biến vùng Quảng Ninh nhằm tăng sản lượng khai thác, năng suất lao động, nâng cao mức độ an toàn, giảm tổn thất tài nguyên, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của ngành Than.

3. Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật công nghệ tổng hợp phục vụ khai thác và tuyển Bauxit vùng Tây Nguyên đảm bảo hiệu quả và bảo vệ môi trường.

4. Nghiên cứu hoàn thiện các giải pháp công nghệ khai thác, tuyển và chế biến khoáng sản kim loại và phi kim loại khác ngoài than, nhằm nâng cao hiệu quả, giảm tổn thất tài nguyên và bảo vệ môi trường.

5. Nghiên cứu đánh giá khả năng khai thác than khu vực Bình Minh, Khoái Châu vùng đồng bằng Sông Hồng.

6. Đánh giá khả năng sử dụng hiệu quả tài nguyên Grafit và than Antraxít phục vụ chế tạo các sản phẩm công nghệ cao.

7. Đánh giá tiềm năng trữ lượng và khả năng khai thác, chế biến Feromangan tại vùng ven biển Việt Nam.

Kết luận

Có thể nói, trong những năm qua Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc nâng cao sản lượng, đổi mới và hiện đại hóa ở hầu hết các lĩnh vực như thăm dò địa chất, công nghệ khai thác hầm lò, lộ thiên, tuyển và chế biến than - khoáng sản, tự động hóa và kiểm soát an toàn mỏ.

Kinh nghiệm thực tiễn đã chứng minh rằng, phát triển bền vững chỉ có thể thực hiện được bằng cách đổi mới công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong sản xuất theo hướng cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hóa, sản xuất sạch hơn, an toàn hơn, thân thiện với môi trường hơn ở hầu hết các công đoạn trong quá trình sản xuất.

Để đảm bảo từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành Than - Khoáng sản Việt Nam theo chiến lược phát triển đến năm 2015, định hướng đến năm 2025, cần thiết có những bước đột phá mới trong việc nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ, hoàn thiện mô hình quản lý và đặc biệt là sự tác động sâu hơn nữa của các đơn vị tư vấn nghiên cứu đến phát triển sản xuất của doanh nghiệp.

Để đạt được mục tiêu đó, cần tăng cường tiềm lực cơ sở vật chất và nguồn nhân lực tri thức cao thông qua các dự án áp dụng chuyển giao công nghệ, hoặc liên doanh với các đơn vị sản xuất trong và ngoài nước, đầu tư các phòng thí nghiệm, liên kết với các tổ chức nước ngoài để đào tạo các nguồn nhân lực chất lượng cao. Đồng thời tạo hành lang pháp lý và cơ chế về tài chính cho các cơ sở nghiên cứu, tư vấn được hưởng hiệu quả làm lợi từ các công trình, đề tài nghiên cứu đem lại để tái đầu tư cho khoa học công nghệ.

NangluongVietnam