Nhận định - Phản biện

Vốn cho các dự án điện và những vấn đề cấp bách (Kỳ 6)

14:00 |27/02/2014

 - 

Để nắm bắt được cơ hội tiếp cận nguồn vốn cho các dự án điện, các doanh nghiệp điện cần nỗ lực hơn nữa trong việc nâng cao năng lực tài chính, đặc biệt là công khai và minh bạch tình hình tài chính, hạch toán kế toán theo đúng chuẩn mực kế toán. Cùng với đó là sự chủ động trong việc xây dựng dự án, phương thức đầu tư phù hợp với năng lực, công nghệ và nhân lực.

>> Vốn cho các dự án điện và những vấn đề cấp bách (Kỳ 1)
>> Vốn cho các dự án điện và những vấn đề cấp bách (Kỳ 2)
>> Vốn cho các dự án điện và những vấn đề cấp bách (Kỳ 3)
>> Vốn cho các dự án điện và những vấn đề cấp bách (Kỳ 4)
>> Vốn cho các dự án điện và những vấn đề cấp bách (Kỳ 5)

TS. PHẠM HUY THÔNG - Phó Tổng giám đốc
Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam

Luôn là lĩnh vực được ưu tiên

Theo đánh giá của Vietinbank, với ngành điện, ngay cả trong giai đoạn nền kinh tế ổn định, thì ngành điện vẫn gặp nhiều khó khăn do áp lực đầu tư lớn trong khi nguồn vốn hạn chế, vừa phải đảm bảo sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, bảo toàn và phát triển được vốn Nhà nước giao, lại vừa phải gánh vác các nhiệm vụ xã hội.

Theo Quy hoạch phát triển Điện lực Quốc gia giai đoạn 2011 – 2020, có xét đến năm 2030 (Quy hoạch điện VII), ngành điện phải xây dựng 52 nhà máy gồm nhiệt điện chạy than, chạy khí, thủy điện và 2 nhà máy điện hạt nhân. Đồng bộ với hệ thống nguồn là hệ thống truyền tải và phân phối điện trên phạm vi cả nước. Tổng vốn đầu tư cho các dự án vào khoảng 50 tỷ USD cho giai đoạn 2011 - 2020 và 75 tỷ USD cho giai đoạn 2021 - 2030.

Như vậy, nhu cầu vốn cho các dự án điện của đất nước là rất lớn, trong khi nguồn vốn tự có của các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Trong bối cảnh đó, đồng vốn của ngân hàng đóng một vai trò quan trọng.

Vietinbank đã đầu tư và cam kết đầu tư trên 60.000 tỷ đồng, xây dựng nhiều nhà máy thuỷ điện, nhiệt điện, công trình lưới điện và trạm biến áp... Nhiều dự án thủy điện, nhiệt điện được Ngân hàng tài trợ đã hoàn thành, đi vào hoạt động.

Đối với ngành điện nói chung và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) nói riêng, Vietinbank luôn xác định đây là lĩnh vực ưu tiên để cho vay. Trong suốt hơn 25 năm đồng hành và phát triển, Vietinbank đã chứng minh cho các khách hàng thấy khả năng thu xếp nguồn tài chính lớn, nhanh chóng với những điều kiện ưu đãi cho ngành điện. Chính sự phối kết hợp chặt chẽ giữa ngân hàng và khách hàng đã mang lại những lợi ích to lớn cho cả 2 phía. Đến nay, Vietinbank đã đầu tư và cam kết đầu tư trên 60.000 tỷ đồng, xây dựng nhiều nhà máy thuỷ điện, nhiệt điện, công trình lưới điện và trạm biến áp... Nhiều dự án thủy điện, nhiệt điện được Ngân hàng tài trợ đã hoàn thành, đi vào hoạt động như: thủy điện Sơn La, Bản Vẽ, A Vương; một số nhà máy nhiệt điện như: Uông Bí, Hải Phòng, Quảng Ninh... góp phần tăng sản lượng điện của quốc gia, đảm bảo sự ổn định của đời sống và sản xuất.

Cùng với việc đầu tư các dự án nguồn điện, Vietinbank cũng rất quan tâm đầu tư vốn cho các dự án lưới điện và trạm biến áp của các đơn vị thành viên EVN, như: dự án đường dây 500 kV Pleiku - Mỹ Phước - Cầu Bông, các dự án đường dây và trạm biến áp của Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia, Tổng công ty Điện lực miền Bắc, Tổng công ty Điện lực TP. Hà Nội, Tổng công ty Điện lực TP HCM...

Không chỉ cung cấp tín dụng, Vietinbank còn cung cấp đầy đủ các sản phẩm dịch vụ ngân hàng khác như: tài trợ thương mại, thanh toán xuất nhập khẩu, sản phẩm tiền gửi đa dạng, mua bán ngoại tệ, sản phẩm thẻ, dịch vụ thanh toán tiền điện qua ngân hàng…

Vướng mắc khi cấp tín dụng

Mặc dù thời gian qua, ngành điện đã nhận được sự khuyến khích và hỗ trợ rất nhiều từ phía các ngân hàng, nhưng thực tế cho thấy, nguồn vốn cho ngành vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Nguyên nhân là do đặc thù ngành điện, năng lực của các doanh nghiệp cũng như một số cơ chế chính sách hiện nay chưa thật sự phù hợp.

Theo đó, hiện nay, ngoài EVN, PVN và TKV là 3 tập đoàn lớn chủ lực đầu tư cho ngành điện, hầu hết các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân đầu tư các dự án điện đều thiếu kinh nghiệm quản lý đầu tư, vận hành dự án. Các doanh nghiệp này chủ yếu chuyển sang từ lĩnh vực xây dựng sau khi là nhà thầu thi công một số công trình liên quan đến ngành điện. Do vậy, khi thẩm định đánh giá năng lực của chủ đầu tư, các ngân hàng thương mại khá quan ngại về khả năng đầu tư đúng tiến độ và quản lý vận hành dự án của các nhà đầu tư này.

Trong khi đó, các dự án điện thường có tổng mức đầu tư tương đối lớn. Theo quy định của ngân hàng, doanh nghiệp buộc phải có vốn tự có tham gia vào dự án đối ứng với vốn vay ngân hàng. Tuy nhiên, việc chứng minh số vốn tự có tham gia của các doanh nghiệp thường thiếu cơ sở chắc chắn và tính khả thi, đặc biệt trong bối cảnh các doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam hầu như không lập được kế hoạch dòng tiền trong 3 năm, báo cáo tài chính không được kiểm toán hoặc kiểm toán với nhiều yếu tố loại trừ.

Theo Vietinbank, để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp ngành điện, đặc biệt là nắm bắt được các cơ hội tiếp cận nguồn vốn cho các dự án, ngành điện phải thường xuyên ban hành, cập nhật định mức tính toán đối với ngành điện, hướng dẫn nội dung tính toán phân tích kinh tế, tài chính đầu tư và khung giá mua bán điện các dự án nguồn điện.

Do ngành điện là ngành đặc thù, việc thẩm định các dự án điện tương đối phức tạp do các dự án phải tuân thủ quy hoạch ngành, có tính chất kỹ thuật, công nghệ cao và đặc biệt là quy mô vốn rất lớn. Trong khi đó, hệ thống các văn bản pháp luật hướng dẫn về định mức tính toán đối với ngành điện còn rất hạn chế. Các ngân hàng thương mại hiện vẫn phải tham khảo một số văn bản do Bộ Công nghiệp ban hành từ năm 2007 (nay là Bộ Công Thương), nhiều thông tin đã tương đối lạc hậu, không cập nhật.

Về nguyên tắc, khi cho vay, các ngân hàng cần có tài sản đảm bảo để đảm bảo cho dư nợ. Việc nhận tài sản đảm bảo là công trình, thiết bị ngành điện là các tài sản đặc thù, có tính chuyên môn hóa cao, không thể tách rời để xử lý. Trong trường hợp có thể tách rời thì hầu như không có giao dịch mua bán trên thị trường nên rất khó chuyển nhượng. Do vậy, việc nhận bảo đảm bằng các tài sản này về phía Ngân hàng chỉ như một biện pháp bảo đảm bổ sung để ràng buộc thêm trách nhiêm của khách hàng đối với các tài sản có sử dụng nguồn vốn vay ngân hàng.

Thêm một khó khăn nữa là mức giới hạn tín dụng. Theo Luật các tổ chức tín dụng đối với 1 khách hàng là 15% vốn tự có và khách hàng, người có liên quan là 25% vốn tự có. Vốn tự có của Vietinbank tính đến thời điểm hiện tại là hơn 50.000 tỷ đồng, lớn nhất trong hệ thống các ngân hàng Việt Nam hiện nay. Với mức vốn đó, mức cấp tín dụng tối đa đối với 1 khách hàng của Vietinbank là hơn 7.500 tỷ đồng và mức cấp tín dụng tối đa đối với khách hàng và người có liên quan là 12.500 tỷ đồng. Hiện nhu cầu vốn của EVN và các đơn vị thành viên là rất lớn nhưng bất cứ nhu cầu vốn nào phát sinh tăng hoặc phát sinh đối với khách hàng mới, dù chỉ là 1 đồng, Vietinbank đều phải trình Ngân hàng Nhà nước phê duyệt.

Để nắm bắt được cơ hội

Để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp ngành điện, đặc biệt là nắm bắt được các cơ hội tiếp cận nguồn vốn cho các dự án, ngành điện phải thường xuyên ban hành, cập nhật định mức tính toán đối với ngành điện, hướng dẫn nội dung tính toán phân tích kinh tế, tài chính đầu tư và khung giá mua bán điện các dự án nguồn điện.

Đồng thời, các doanh nghiệp ngành điện cần nỗ lực hơn nữa trong việc nâng cao năng lực tài chính, đặc biệt là công khai và minh bạch tình hình tài chính, hạch toán kế toán theo đúng chuẩn mực kế toán. Cùng với đó là chủ động hơn trong việc xây dựng dự án, phương thức đầu tư phù hợp với năng lực, công nghệ và nhân lực để tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng.

Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan chức năng nên xem xét điều chỉnh các quy định của Luật các tổ chức tín dụng số 47 (điều 128) như: quy định bắt buộc về việc phải thu xếp cho vay hợp vốn đối với các dự án có nhu cầu vay vốn thấp; cho vay vốn lưu động để tháo gỡ khó khăn cho các ngân hàng trong quá trình tài trợ vốn cho các khách hàng là tập đoàn kinh tế Nhà nước.

Việt Nam còn nhiều tiềm năng về thủy điện, điện năng lượng tái tạo… chưa được khai thác hết. Với tốc độ tiêu thụ điện năng lớn trong điều kiện nguồn cung điện chưa đáp ứng đủ nhu cầu trong nước đó, vừa là thách thức nhưng đồng thời cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp phát triển các dự án nguồn điện.

NangluongVietnam.vn

Kỳ tới: "PTSC: Nhiệt điện Long Phú 1 và thách thức huy động vốn từ quốc tế"

CÁC BÀI VIẾT BẠN ĐỌC QUAN TÂM

Campuchia trước chính sách nước đôi của Trung Quốc
Lúa gạo của bà Yingluck thành "quả đắng"
Tay chơi nghiệp dư trong cục diện châu Á-Thái Bình Dương
Nga sẽ mở căn cứ quân sự ở Cam Ranh?
Kịch bản về một cuộc chiến khủng khiếp nhất trong lịch sử



TÒA SOẠN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Phòng 406-407-408, Tòa nhà Văn phòng, số 87 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.22113344 - Fax: 024.35147193
Email: toasoan@nangluongvietnam.vn
Hotline: 0969998811 - 0969998822 - 0942632014 Trang TTĐT của Tạp chí Năng lượng Việt Nam hoạt động theo Giấy phép số: 66/GP-TTĐT, cấp ngày 30/3/2018
của Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử - Bộ Thông tin & Truyền thông.

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3