Nhận định - Phản biện

Vốn cho các dự án điện và những vấn đề cấp bách (Kỳ 5)

08:06 |24/02/2014

 - 

Theo Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), để có thể huy động vốn đầu tư đối với các dự án điện, cần có sự hỗ trợ lớn từ Chính phủ, các cơ quan bộ, ngành, Ngân hàng Nhà nước và sự nỗ lực của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước.

>> Vốn cho các dự án điện và những vấn đề cấp bách (Kỳ 1)
>> Vốn cho các dự án điện và những vấn đề cấp bách (Kỳ 2)
>> Vốn cho các dự án điện và những vấn đề cấp bách (Kỳ 3)
>> Vốn cho các dự án điện và những vấn đề cấp bách (Kỳ 4)

Ngành điện vẫn là điểm sáng

Theo đánh giá của các chuyên gia trên thế giới, Việt Nam là một trong 10 nước có tiềm năng lớn về phát triển các nguồn năng lượng, nhưng Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với sự thiếu hụt điện. Thực tế thời gian qua cho thấy, phát triển năng lượng của Việt Nam còn nhiều hạn chế, tiến độ các dự án, đặc biệt là các dự án lớn, trọng điểm đều chậm, trong khi đó các nguồn năng lượng hiện tại không có dự phòng, vì thế không những không đáp ứng đủ nhu cầu phát triển mà còn thiếu hụt, gây cản trở trong công cuộc phát triển kinh tế của đất nước.

Tuy nhiên, trong bức tranh gam màu xám đó, ngành điện, tiêu biểu là Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) lại là một điểm sáng, đang từng bước vượt qua khó khăn, thử thách nhờ các giải pháp hỗ trợ hữu hiệu của Chính phủ.

Từ chỗ phải cắt điện luân phiên, hiệu quả kinh doanh chưa cao, tình hình tài chính khó khăn, uy tín bị ảnh hưởng, đến nay, ngành điện đã vượt qua giai đoạn khó khăn nhất và có được những thành công nhất định. Cụ thể như: năng lực tài chính và khả năng cung ứng điện cho phát triển kinh tế-xã hội và phục vụ đời sống nhân dân đã được nâng cao một bước. Các dự án, công trình cấp bách đảm bảo được tiến độ yêu cầu, nhiều công trình nguồn và lưới điện hoàn thành bổ sung công suất cho hệ thống điện quốc gia. Nhờ vậy, tình trạng thiếu điện phải cắt điện luân phiên đã giảm, tình trạng quá tải đường dây và trạm biến áp cũng đang từng bước được khắc phục.

Theo Quy hoạch phát triển Điện lực Quốc gia giai đoạn 2011-2020, có xét đến năm 2030, dự kiến đến năm 2020 nhu cầu vốn đầu tư cho ngành điện rất lớn khoảng 929.700 tỷ đồng, tương đương 48,8 tỷ USD. Tính bình quân mỗi năm ngành điện cần khoảng 4,9 tỷ USD. Nhưng có một thực tế, vốn đầu tư cho các dự án điện rất lớn, thời gian thu hồi vốn dài nên chưa thu hút được nhiều vốn từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Nhiệm vụ đầu tư phát triển ngành điện vẫn chủ yếu do EVN và các đơn vị thành viên gánh vác. Trong khi đó, vốn tự có của EVN và các đơn vị thành viên chỉ có thể thu xếp được khoảng từ 20 - 30% tổng mức đầu tư cho các dự án điện, còn lại chủ yếu là vốn vay.

Để xây dựng chiến lược phát triển, đầu tư đối với ngành điện theo định hướng chỉ đạo của Đảng và Chính phủ, đảm bảo được mục tiêu phát triển ngành điện theo Quy hoạch điện VII, một trong những vấn đề quan trọng, mang tính chất quyết định hiện nay là tìm kiếm các giải pháp trong vấn đề huy động nguồn vốn đầu tư cũng như việc đẩy nhanh tiến độ của các dự án điện tại Việt Nam.

Theo BIDV, việc tìm ra các giải pháp huy động vốn đầu tư và góp phần đẩy nhanh tiến độ các dự án điện trong thời gian tới là hết sức cấp thiết, đảm bảo duy trì an ninh năng lượng quốc gia. Tuy nhiên, đang có rất nhiều khó khăn cản trở việc tiếp cận vốn cho các dự án điện hiện nay.

Nhiều lý do cản trở nguồn vốn

Ngành điện là một ngành kinh tế chiến lược, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế quốc gia. Do đó, đã có hàng trăm dự án điện trọng điểm quốc gia được BIDV thẩm định và cho vay trong suốt thời gian qua. Hiện dư nợ đối với ngành điện tại ngân hàng này vào khoảng 25.000 tỷ đồng, trong đó tập trung chủ yếu vào các dự án thuỷ điện (trên 20.000 tỷ đồng), các dự án nhiệt điện (khoảng 2.000 tỷ đồng)

Việc tìm ra các giải pháp huy động vốn đầu tư và góp phần đẩy nhanh tiến độ các dự án điện trong thời gian tới là hết sức cấp thiết, đảm bảo duy trì an ninh năng lượng quốc gia. Tuy nhiên, đang có rất nhiều khó khăn cản trở việc tiếp cận vốn cho các dự án điện hiện nay.

Theo đó, quy mô của các dự án điện rất lớn, từ hàng trăm triệu đến hàng tỷ USD (đặc biệt là các dự án nhiệt điện trọng điểm thuộc Quy hoạch điện VII dự kiến tổng mức đầu tư dao động từ 1,2-1,5 tỷ USD), do đó, nằm ngoài khả năng đáp ứng, cân đối vốn của các tổ chức tài chính, tổ chức tín dụng trong nước. Cùng với đó, một số dự án yêu cầu công nghệ, kỹ thuật phức tạp như: các dự án nhiệt điện với công nghệ mới, điện mặt trời, điện hạt nhân… chịu sự chi phối, ràng buộc của nhiều yếu tố đang vượt quá năng lực thẩm định của các Ngân hàng Việt Nam nói chung và BIDV nói riêng.

Về vấn đề quy hoạch, ngân hàng này cho rằng, sau thời gian triển khai đồng loạt nhiều dự án thủy điện trên các con sông lớn, hiện nay một số nơi đang rơi vào tình trạng cạn kiệt nguồn nước, ảnh hưởng đến khả năng phát điện, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả và khả năng trả nợ của dự án. Điều này gây ra lo ngại cho các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính tài trợ vốn do bản thân các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính không thể kiểm soát hết các vấn đề về kỹ thuật của dự án, trong khi dự án thường có vòng đời, thời gian vay vốn rất dài.

Theo số liệu của Bộ Công Thương, trong năm 2013, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục yêu cầu loại khỏi quy hoạch tổng số 405 dự án thuỷ điện, với tổng công suất phát điện 1.247,6MW, gồm 2 dự án thuỷ điện bậc thang (118MW) và 403 dự án thuỷ điện nhỏ (1.128,8MW). Tất cả các dự án thuỷ điện, vị trí tiềm năng được loại bỏ này đều thuộc đối tượng hiệu quả kinh tế thấp, tiềm ẩn khả năng tác động tiêu cực đến môi trường-xã hội, ảnh hưởng đến quy hoạch/dự án ưu tiên khác. Do đó, nhà đầu tư trả lại dự án do không khả thi hoặc không có nhà đầu tư quan tâm. Bên cạnh mặt tích cực nhìn được từ việc rà soát này thì cũng cần thấy thực tế đến 34% dự án có thể loại bỏ trong quy hoạch hệ thống thủy điện. Con số này đã nói lên phần nào chất lượng quy hoạch thủy điện hiện nay, nhất là thủy điện vừa và nhỏ.

Trong muôn vàn khó khăn của ngành điện thì đáng chú ý nhất vẫn là giá bán điện. Thực tế, cho đến thời điểm này Việt Nam vẫn chưa có khung giá mua điện công khai và thống nhất, tất cả các dự án điện đều phải đàm phán hợp đồng mua bán điện với EVN. Điều này gây cản trở trong thu hút nguồn vốn phát triển các dự án điện, đặc biệt là nguồn vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài do các dự án đầu tư xây dựng nhà máy điện quy mô lớn, nhất là theo hình thức BOT được nhiều nhà đầu tư nước ngoài quan tâm. Tuy nhiên, việc bán điện phải đàm phán hợp đồng mua bán điện với EVN - đơn vị có lưới truyền tải phân phối điện. Ngay khi có bán trực tiếp cho các nhà tiêu thụ cuối cùng khác (ví dụ cho các doanh nghiệp trong khu công nghiệp) thì vẫn phải có hợp đồng với EVN thỏa thuận việc mua bán khi thừa, thiếu về cung cấp điện. Các nhà đầu tư nước ngoài khi đàm phán hợp đồng mua bán điện với EVN thường mất nhiều thời gian, có khi trong nhiều năm như tại dự án điện BOT Phú Mỹ 2.2 và Phú Mỹ 3 thời gian đàm phán hợp đồng mua bán điện tới 4-5 năm.

Bên cạnh đó, trong thời gian qua, Việt Nam duy trì giá điện ở mức khá thấp và không theo quy luật thị trường nên không thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài vào ngành điện. Về nguyên tắc, tỷ suất lợi nhuận thấp dẫn đến khả năng trả nợ gốc và lãi không cao, do vậy việc vay vốn từ thị trường quốc tế cho các dự án đầu tư phát triển điện năng của Việt Nam là hết sức khó khăn.

Đối với việc lựa chọn nhà đầu tư, ở các nước khi dự án điện thực hiện theo hình thức BOT, nhà đầu tư thường được lựa chọn thông qua đấu thầu, tuy nhiên, ở Việt Nam thường là chỉ định nhà đầu tư tốt nhất. Do đó, việc huy động vốn cho dự án khó khăn hơn một phần do năng lực tài chính của chính nhà đầu tư, một phần do khả năng thể hiện phương án đầu tư để thuyết phục các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính tài trợ vốn.

Ngoài ra, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại chỉ được phép cho vay tối đa 15% vốn tự có đối với mỗi doanh nghiệp, 25% vốn tự có đối với doanh nghiệp và người có liên quan, đồng thời, chỉ được phép sử dụng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay dài hạn tối đa 30%. Điều này ảnh hưởng không ít đến việc huy động nguồn vốn của các ngân hàng thương mại cho các dự án điện nói chung.

Cùng với đó, một số dự án đặc biệt là các dự án điện trọng điểm, cấp bách của EVN do thực hiện trong thời gian dài, gặp nhiều biến động về giá cả, tỷ giá…đã làm cho tổng mức đầu tư biến động theo chiều hướng tăng, ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành phát điện của dự án và khả năng trả nợ đối với các ngân hàng. Một số dự án khác chủ yếu là các dự án thuỷ điện nhỏ sử dụng nhà thầu không đủ năng lực, kể cả năng lực tài chính dẫn đến kéo dài thời gian xây dựng, các công trình xây dựng xong vận hành không ổn định, liên tục phải dừng máy để sửa chữa, thay thế, hiệu chỉnh…

Nền kinh tế Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn khó khăn nên vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, khó khăn trong việc đầu tư vào các dự án, đặc biệt là các dự án có quy mô lớn. Mặc dù tình hình huy động vốn của các ngân hàng đã được cải thiện, lãi suất ngân hàng cũng có xu hướng giảm xuống và dự kiến sẽ duy trì ổn định. Tuy dòng tiền chảy vào hệ thống ngân hàng vẫn tăng nhanh nhưng vốn cho vay vẫn tăng trưởng rất thấp, đây đang là nghịch lý của nền kinh tế. Việc giải quyết vốn cho ngành điện vẫn đang phụ thuộc khá nhiều vào các ngân hàng thương mại Nhà nước, cùng với đó là những khó khăn trong việc huy động vốn từ các thị trường quốc tế nên nguồn cung vốn cho các dự án khá hạn hẹp cũng là điều dễ hiểu.

Cần sự nỗ lực của các bên

Theo BIDV, để có thể huy động vốn đầu tư đối với các dự án điện cần có sự hỗ trợ lớn từ Chính phủ, các cơ quan bộ, ngành, Ngân hàng Nhà nước và sự nỗ lực của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước.

Đối với Chính phủ, do tính chất phức tạp và quy mô đầu tư lớn của các dự án điện cấp bách, cấp quốc gia vượt quá khả năng thẩm định, đánh giá của các ngân hàng, vì vậy Chính phủ tiếp tục có những cơ chế đặc thù cho các ngân hàng thương mại trong nước khi tham gia thu xếp vốn và dự án như: bảo lãnh các khoản vay trong và ngoài nước, sử dụng trước nguồn vốn đầu tư của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, cho phép các ngân hàng cho vay vượt các hạn chế trong hoạt động cấp tín dụng (tỷ lệ 15%, 25%)...

Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành có liên quan ngoài việc rà soát, hiệu chỉnh lại các quy hoạch về ngành điện, cần tiếp tục triển khai đồng thời việc rà soát quy hoạch, tiến độ đầu tư các dự án điện trên toàn quốc để hạn chế việc đầu tư dàn trải, đảm bảo nguồn nước cho các dự án thủy điện phát huy hiệu quả, giảm thiểu những tác động về môi trường đối với người dân trong khu vực xây dựng dự án.

Việc điều chỉnh giá điện theo cơ chế thị trường là cần thiết, tạo sự minh bạch, đáp ứng yêu cầu nhà đầu tư. Do đó, BIDV mong muốn Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành có liên quan thực hiện điều chỉnh giá điện công khai, mỗi lần điều chỉnh phải có sự tham gia giám sát, phản biện độc lập. Triển khai thực hiện các dự án điện theo hình thức khác EPC (có thể E, P, C hoặc EP và C), trong đó các đơn vị tư vấn của Việt Nam cần phát triển năng lực thiết kế của mình để đảm nhiệm toàn bộ khâu thiết kế các công trình công nghiệp, dự án nhiệt điện quy mô lớn.

Để các chủ đầu tư huy động đủ vốn tự có vào các dự án điện theo kế hoạch, Chính phủ cần hỗ trợ các chủ đầu tư huy động các nguồn vốn đầu tư có lãi suất rẻ, thời gian vay vốn dài như: vốn vay nước ngoài, ODA, phát hành cổ phiếu, trái phiếu công trình, kêu gọi đầu tư trực tiếp từ các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp khác… đặc biệt là đối với các dự án lớn, cấp bách và có tính chất phức tạp. Đồng thời, khuyến khích, tạo điều kiện cho các tập đoàn, tổng công ty, vận động và chỉ đạo các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp trong và ngoài nước có đủ năng lực tài chính, kinh nghiệm và khả năng điều hành tham vào các dự án.

Cùng với đó, các bộ, ngành cần tham mưu cho Chính phủ về vấn đề quy hoạch các dự án điện, giá bán điện năng, các hình thức đầu tư, các cơ chế, chính sách đặc thù áp dụng cho các dự án có quy mô lớn, trọng điểm quốc gia để rút ngắn các thủ tục đầu tư, đảm bảo chất lượng và tiến độ thi công công trình. Tiếp tục thu xếp nguồn vốn ưu đãi từ các tổ chức nước ngoài nhằm giảm áp lực thu xếp vốn của các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính trong việc thu xếp đủ nguồn vốn cho các dự án đặc biệt là dự án quy mô lớn, trọng điểm quốc gia.

Với trường hợp loại bỏ các dự án khỏi quy hoạch điện quốc gia, tỉnh, các bộ ngành nên có thông báo cụ thể trên các phương tiện truyền thông và trực tiếp thông tin cho các tổ chức tín dụng để nắm bắt thông tin, kịp thời có chỉ đạo đến các đơn vị trong hệ thống nhằm hạn chế rủi ro, tránh trường hợp các đối tượng xấu lợi dụng các dự án này để lừa đảo ngân hàng.

Ngân hàng Nhà nước có vai trò trực tiếp trong việc tháo gỡ khó khăn về nguồn vốn cho các dự điện hiện nay. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước cần hỗ trợ các ngân hàng thương mại trong nước về nguồn vốn qua việc cho vay tái cấp vốn với thời hạn dài, lãi suất hợp lý. Đồng thời, nên đề xuất trình Chính phủ có các cơ chế hỗ trợ nguồn vốn, lãi suất, điều kiện tín dụng, bảo đảm tiền vay… cho các dự án điện trọng điểm quốc gia khi vay vốn tín dụng thương mại và các ngân hàng thương mại trong nước đang cho vay các dự án.

Ngoài việc giải quyết cho các ngân hàng thương mại cho vay vượt 15%, 25% vốn tự có khi tham gia đầu tư các dự án nguồn điện trọng điểm, đề nghị Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ giải quyết cho các ngân hàng thương mại được phép cho vay đối với các các đơn vị thành viên của EVN trong hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường (tiêu chí cho vay vượt 25% đối với nhóm khách hàng có liên quan của Ngân hàng Nhà nước là phải cho các công trình/ dự án trọng điểm, cấp quốc gia). Hỗ trợ cho các dự án điện có quy mô lớn về nguồn ngoại tệ, trong thanh toán và trả nợ vốn vay bằng ngoại tệ…

Do việc huy động vốn của các ngân hàng hiện đang gặp nhiều khó khăn, nên chủ đầu tư dự án cần phối hợp với các ngân hàng đầu mối xây dựng lại tiến độ giải ngân dự án cho phù hợp. Đồng thời, kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành ưu tiên các nguồn vốn ưu đãi, vay nước ngoài (từ các hiệp định khung, tài trợ xuất nhập khẩu…) để đảm bảo đủ nguồn vốn cho các dự án.

Với các dự án có quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp, chủ đầu tư cần kết hợp với các đơn vị có liên quan như: các nhà thầu thi công, lắp đặt thiết bị, các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính tài trợ vốn… kiến nghị Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành có những cơ chế, chính sách đặc thù áp dụng cho dự án. Để đảm bảo đáp ứng đủ nguồn vốn đầu tư cho các dự án đã ký hợp đồng hoặc dự kiến đầu tư trong thời gian tới, căn cứ tiến độ đầu tư dự án, chủ đầu tư các dự án lên kế hoạch cụ thể về nguồn vốn dự kiến giải ngân cho từng dự án theo các năm gửi cho các ngân hàng đầu mối thu xếp vốn làm cơ sở cân đối kế hoạch nguồn vốn cho các dự án.

Đối với các dự án trọng điểm, cấp bách phát sinh tăng tổng mức đầu tư, chủ đầu tư nên kiểm tra, rà soát lại các chi phí, hạng mục công trình đầu tư phát sinh ở mức hợp lý, hợp lệ. Trên cơ sở tiến độ xây dựng dự án, cụ thể hoá phương án nguồn vốn và kế hoạch sử dụng các nguồn vốn nhằm giảm áp lực vốn vay cũng như làm cơ sở để các tổ chức tín dụng chủ động trong việc cân đối nguồn cho các dự án. Đồng thời, có phương án huy động bổ sung thêm các nguồn vốn khác như: vốn tự có, vay nước ngoài, phát hành trái phiếu trong và ngoài nước…trong trường hợp ngân hàng đầu mối gặp khó khăn trong việc thu xếp cho vay bổ sung.

NangluongVietnam.vn

Kỳ tới: “Kiến nghị của Vietinbank về giải pháp huy động vốn cho các dự án điện”

CÁC BÀI VIẾT BẠN ĐỌC QUAN TÂM

Campuchia trước chính sách nước đôi của Trung Quốc
Lúa gạo của bà Yingluck thành "quả đắng"
Tay chơi nghiệp dư trong cục diện châu Á-Thái Bình Dương
Nga sẽ mở căn cứ quân sự ở Cam Ranh?
Kịch bản về một cuộc chiến khủng khiếp nhất trong lịch sử



TÒA SOẠN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Phòng 406-407-408, Tòa nhà Văn phòng, số 87 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.22113344 - Fax: 024.35147193
Email: toasoan@nangluongvietnam.vn
Hotline: 0969998811 - 0969998822 - 0942632014 Trang TTĐT của Tạp chí Năng lượng Việt Nam hoạt động theo Giấy phép số: 66/GP-TTĐT, cấp ngày 30/3/2018
của Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử - Bộ Thông tin & Truyền thông.

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3