Nhận định - Phản biện

Vốn cho các dự án điện và những vấn đề cấp bách (Kỳ 2)

16:07 |11/02/2014

 - 

Theo Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA), để đảm bảo sự phát triển điện trong những thập kỷ tới cần sự huy động nguồn vốn rất lớn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy đang có rất nhiều trở ngại chủ quan lẫn khách quan trong việc thu xếp vốn cho các dự án điện hiện nay. Do đó, đề ra được các giải pháp thiết thực đem lại hiệu quả trong huy động nguồn vốn cho các dự án điện đang trở nên cần thiết. Tòa soạn Năng lượng Việt Nam/ NangluongVietnam.vn trân trọng đăng tải bài viết của PGS, TS. Nguyễn Minh Duệ - Ủy viên thường trực Ban chấp hành VEA, Phó chủ tịch Hội đồng Khoa học Năng lượng về vấn đề này.

>> Vốn cho các dự án điện và những vấn đề cấp bách (Kỳ 1)
>> Điều chỉnh danh mục QHĐ VII, ưu tiên các dự án điện cấp bách
>> EVN ưu tiên tiến độ các dự án điện cấp bách miền Nam

PGS, TS. NGUYỄN MINH DUỆ

Ủy viên thường trực Ban chấp hành Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, Phó chủ tịch Hội đồng Khoa học Năng lượng - VEA

Sự cần thiết huy động vốn cho các dự án điện

Điện lực đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, theo dự báo nhu cầu điện của nước ta sẽ tăng từ 14-15% mỗi năm trong giai đoạn 2010-2025. Do đó, để đảm bảo sự phát triển điện trong những thập kỷ tới nhà nước cần huy động nguồn vốn rất lớn.

Theo Quyết định số 1208/QĐ-TTg về Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia trong các giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030 (Quy hoạch điện VII) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 21/7/2011, với kịch bản cơ sở thì nhu cầu vốn đầu tư như sau:

- Giai đoạn 2011 - 2020: 929,7 nghìn tỷ VNĐ tương đương 48,8 tỷ USD (bình quân 4,88 tỷ USD/ năm).

- Giai đoạn 2021 - 2030: 1.429,3 nghìn tỷ VNĐ tương đương 75 tỷ USD (bình quân 7,50 tỷ USD/năm).

- Giai đoạn 2011 - 2030: 2359,0 nghìn tỷ VNĐ tương đương 123,8 tỷ USD (bình quân 6,19 tỷ USD/năm).

Theo số liệu cập nhật gần đây từ Ban Tài chính - Kế toán EVN vào tháng 11/2013, riêng EVN nhu cầu đầu tư là:

- Năm 2013: 100,933 nghìn tỷ VNĐ, xấp xỉ 4,80 tỷ USD.

- Năm 2014: 123, 564 nghìn tỷ VNĐ, xấp xỉ 5,88 tỷ USD.

- Năm 2015: 137,308 nghìn tỷ VNĐ, xấp xỉ 6,53 tỷ USD.

Từ năm 2015 - 2020 là 7 - 8 tỷ USD/năm.

Theo đánh giá chung, nhu cầu vốn đầu tư cần huy động giai đoạn 2010-2025 cho các dự án điện, trung bình hàng năm sẽ không dưới 5-6 tỷ USD.

Theo những số liệu trên rõ ràng nhu cầu vốn đầu tư là con số quá lớn đối với nền kinh tế đất nước. Vì vậy, Nhà nước cần xem xét, hiệu chỉnh và chính thức hóa sau khi phê duyệt Quy hoạch điện VII hiệu chỉnh.

Để đảm bảo nguồn vốn tự có, EVN và các doanh nghiệp đầu tư dự án điện phải có lợi nhuận trong sản xuất - kinh doanh trên cơ sở nâng cao hiệu quả đầu tư và tiết giảm chi phí trong sản xuất các nhà máy điện, giảm tổn thất trên lưới truyền tải và phân phối điện. Mặt khác, Nhà nước cần ban hành chính sách giá điện hợp lý, minh bạch để tạo điều kiện tốt cho hoạt động của thị trường điện. Đây là giải pháp đặc biệt quan trọng nhằm tạo thêm nguồn vốn cho đầu tư phát triển.

Thực trạng huy động vốn cho các dự án điện hiện nay

Dự án EVN đầu tư

Từ trước tới nay, hầu hết các dự án điện đều do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đầu tư phát triển. Nguồn vốn bao gồm: Vốn tự tích lũy; Vốn tự có trích từ lợi nhuận, quỹ khấu hao; Vốn vay trong nước (từ các ngân hàng đầu tư phát triển, ngân hàng thương mại cổ phần…); Vốn vay nước ngoài (từ ODA đa phương (WB, ADB), và ODA song phương (JICA, AFD, KPF); Tín dụng người bán, tín dụng người mua; Tín dụng hỗ trợ xuất khẩu (ECA); Phát hành trái phiếu doanh nghiệp.

Dự án ngoài EVN đầu tư

- Doanh nghiệp trong nước

Ngoài EVN, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và một số doanh nghiệp tư nhân như: Công ty CP nhiệt điện An Khánh, Công ty CP nhiệt điện Công Thanh, Công ty CP nhiệt điện Thăng Long, Tập đoàn Tân Tạo... cũng tham gia đầu tư phát triển các nhà máy điện. Bằng nguồn vốn tự có và vốn vay, các doanh nghiệp đều đầu tư các dự án theo hình thức IPP, BOO…

- Doanh nghiệp nước ngoài

Một số doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam chủ yếu là các nhà máy nhiệt điện, theo hình thức BOT. Nguồn vốn do doanh nghiệp nước ngoài bỏ ra hoặc liên kết đầu tư.

Những trở ngại thu xếp vốn cho dự án điện

- Về đầu tư của EVN

Theo báo cáo của EVN và Bộ Công Thương, trong những năm gần đây do kinh doanh gặp nhiều khó khăn nên việc tích lũy nguồn vốn tự có cũng hạn chế. Để tạo nguồn vốn cho đầu tư phát triển theo Quy hoạch điện VII, EVN đang tập trung một số giải pháp như tiết giảm chi phí, tăng doanh thu và vay vốn. Tuy nhiên, tính khả thi của tăng doanh thu trên cơ sở tăng giá điện sẽ gặp khó khăn vì phải tính đến sức chịu đựng của các doanh nghiệp, người dân và nguy cơ lạm phát của nền kinh tế...

Về vay vốn, đặc biệt vay vốn nước ngoài của EVN cũng không hề dễ dàng vì dư nợ của EVN hiện nay là lớn. Ngoài ra, các khoản nợ của EVN tại các ngân hàng trong nước cũng không hề nhỏ.

- Về đầu tư nước ngoài

Theo chủ trương của Chính phủ, việc đầu tư phát triển các dự án đã và đang từng bước được mở rộng sang các thành phần kinh tế ngoài nhà nước. Gần đây, ngành điện đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư nước ngoài.

Đối với dự án điện gió, Tập đoàn Công nghiệp Enercon (Cộng hòa Liên bang Đức) cam kết huy động khoảng 1 tỷ Euro và cung cấp thiết bị đầu tư cho dự án điện gió Sóc Trăng 2600MW.

Đối với các dự án nhà máy nhiệt điện đầu tư theo hình thức BOT, vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã cho phép chỉ định một số nhà đầu tư nước ngoài như: Nhà máy nhiệt điện Dung Quất 2 x 600MW (Sembcorp Singapore), Nhà máy nhiệt điện Sông Hậu II 2 x 1000MW (Toyo Ink Malaysia), Nhà máy nhiệt điện Quảng Trị 2 x 600MW (Egati Thái Lan), Nhà máy nhiệt điện Long Phú II (Tata Power Ấn Độ). Ngoài ra SamSung Hàn Quốc cũng sẽ được giao làm chủ đầu tư một trong 5 dự án nhiệt điện là Quỳnh Lập II, Vũng Áng II, Quảng Trạch II, Sông Hậu III, Kiên Lương.

Việc tăng các dự án nhà máy nhiệt điện BOT nước ngoài cũng là biện pháp giảm bớt gánh nặng về nhu cầu về vốn. Tuy nhiên, thực tế các dự án này triển khai chậm do giá điện chưa hấp dẫn cũng như một số cơ chế chính sách đang cản trở việc đầu tư của họ.

- Về đầu tư của doanh nghiệp trong nước (ngoài EVN)

PVN, TKV đã có những đóng góp đáng kể trong đầu tư các nhà máy điện trong thời gian qua. Tuy nhiên, những đầu tư này là do Chính phủ giao trách nhiệm tham gia cung ứng nguồn điện, nhằm góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, không nhằm mục đích lợi nhuận.

Trong thực tế, toàn bộ điện năng của các nhà máy điện thuộc PVN, TKV sản xuất ra đều bán cho EVN. Việc điều độ sản xuất các nhà máy điện cho một thị trường phát điện cạnh tranh còn nhiều bất cập, do đó hiệu quả đầu tư của các nhà máy điện của PVN, TKV cũng cần khắc phục nhằm thu hút được nguồn đầu tư này trong tương lai.

Đối với các doanh nghiệp tư nhân và cổ phần, khi đầu tư vào ngành điện nguồn vốn tự có rất hạn chế. Trong khi nguồn vốn vay nước ngoài đòi hỏi phải có bảo lãnh của Chính phủ nên việc thu xếp vốn đầu tư bị kéo dài. Một số dự án đang gặp khó khăn có thể bị đổ vỡ như: Trung tâm điện lực Kiên Lương (chủ đầu tư là Tập đoàn Tân Tạo) không giải quyết được nguồn vốn; Dự án Nhà máy nhiệt điện An Khánh II (Chủ đầu tư là Công ty CP nhiệt điện An Khánh) phải ngừng triển khai do quy hoạch mặt bằng tuy đã được duyệt nhưng vướng với một dự án khác của nước ngoài có quy mô vốn lớn hơn.

Đề xuất giải pháp và những vấn đề cấp bách

(1) Tạo nguồn vốn bằng các biện pháp truyền thống

- Để đảm bảo nguồn vốn tự có, EVN và các doanh nghiệp đầu tư dự án điện phải có lợi nhuận trong sản xuất - kinh doanh trên cơ sở nâng cao hiệu quả đầu tư và tiết giảm chi phí trong sản xuất các nhà máy điện, giảm tổn thất trên lưới truyền tải và phân phối điện. Mặt khác, Nhà nước cần ban hành chính sách giá điện hợp lý, minh bạch để tạo điều kiện tốt cho hoạt động của thị trường điện. Đây là giải pháp đặc biệt quan trọng nhằm tạo thêm nguồn vốn cho đầu tư phát triển.

- Để đảm bảo nguồn vốn vay, Chính phủ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận với thị trường vốn quốc tế, đặc biệt vốn ODA đa phương và song phương; vay vốn trung và dài hạn trong nước tại các ngân hàng đầu tư phát triển và ngân hàng thương mại. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp vay vốn phải tôn trọng các quy định về các hợp đồng vay trả vốn và lãi đúng kỳ hạn, giữ uy tín là khách hàng vay vốn.

- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần xây dựng cơ chế rõ ràng cho công tác dự báo biến động lãi suất, tỷ giá...

(2) Thực hiện thị trường điện cạnh tranh

- Phát triển thị trường điện cạnh tranh là xu hướng phát triển chung của các nước trên thế giới, đồng thời cũng là động lực cho hoạt động hiệu quả trong sản xuất kinh doanh điện và phát triển kinh tế xã hội. Hình thành và phát triển thị trường điện cạnh tranh là chiến lược phát triển dài hạn của ngành Điện Việt Nam đã được quy định trong Luật Điện lực (năm 2004) và Luật Điện lực sửa đổi (năm 2013) được cụ thể hóa trong Quyết định 26/2006/QĐ-TTg, ngày 26 tháng 01 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ. Theo quyết định trên, thị trường điện Việt Nam sẽ hình thành và phát triển theo 3 cấp độ: Thị trường phát điện cạnh tranh, Thị trường bán buôn cạnh tranh và Thị trường bán lẻ cạnh tranh. Ngày 1/7/2011 thị trường phát điện cạnh tranh Việt Nam bắt đầu vận hành thí điểm và chính thức đưa vào vận hành ngày 1/7/2012.

- Thực hiện thị trường phát điện cạnh tranh là bước đầu tiên trong lộ trình phát triển thị trường điện tại Việt Nam, hướng đến mục tiêu đưa cạnh tranh vào khâu phát điện, tạo động lực cho các nhà máy điện nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đảm bảo sự minh bạch, công bằng trong vận hành và định giá đối với các nhà máy điện tham gia thị trường. Đây cũng là tiền đề đảm bảo cung cấp điện liên tục, chất lượng với giá cả hợp lý cho các khách hàng tiêu thụ điện.

Tuy nhiên, thực tế khi thực hiện giai đoạn 1, thị trường phát điện cạnh tranh còn quá chậm về mặt thời gian và chưa đầy đủ về nội dung. Sau một năm hoạt động, thị trường phát điện cạnh tranh tuy đạt được những kết quả nhất định như số lượng các nhà máy sản xuất điện tham gia chào giá trực tiếp trên thị trường ngày càng tăng, nhưng vẫn còn hạn chế. Do đó cần thiết thực hiện thị trường phát điện cạnh tranh đích thực mới thu hút được các nhà đầu tư trong và ngoài nước bỏ vốn đầu tư vào ngành điện của ta.

- Mặt khác, cần thiết phải tái cơ cấu EVN, nhân tố cơ bản đảm bảo sự thành công phát triển thị trường và thu hút đầu tư của dự án điện và cần thành lập ngay ”Đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện lực” tại Điều 19 của Luật Điện lực.

Từ kinh nghiệm ở một số nước cho thấy, thực hiện tái cơ cấu và hình thành thị trường điện cạnh tranh là rất phức tạp. Thị trường hoạt động hiệu quả, có tính khả thi cao, phải trên cơ sở tái cấu trúc ngành điện. Có vậy mới góp phần quan trọng làm gia tăng sự thu hút đầu tư vào các dự án điện hiện nay của đất nước.

NangluongVietnam.vn

Kỳ tới: "EVN NPC: Phân bổ nguồn vốn trong thách thức"

CÁC BÀI VIẾT BẠN ĐỌC QUAN TÂM

Tình hình châu Á 2014: Dự báo bất ngờ sau bất ổn
Nếu Mỹ chọn phương án đối đầu với Iran?
Kịch bản về một cuộc chiến khủng khiếp nhất trong lịch sử
Bình luận của chuyên gia Nhật về Quân cảng Cam Ranh

Chính sách "ngoại giao độc tài" Trung Quốc quay về phản chủ



TÒA SOẠN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Phòng 406-407-408, Tòa nhà Văn phòng, số 87 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.22113344 - Fax: 024.35147193
Email: toasoan@nangluongvietnam.vn
Hotline: 0969998811 - 0969998822 - 0942632014 Trang TTĐT của Tạp chí Năng lượng Việt Nam hoạt động theo Giấy phép số: 66/GP-TTĐT, cấp ngày 30/3/2018
của Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử - Bộ Thông tin & Truyền thông.

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3