Nhận định - Phản biện

“Thần than” đồng bằng Sông Hồng có nhỡ “chuyến tàu” công nghiệp hóa? (Kỳ 2)

15:10 |16/09/2012

 - 

Kỳ 1, tác giả bài viết đã đưa ra dự báo nhu cầu năng lượng Việt Nam trong vài chục năm tới, nhận định tiềm năng và khả năng khai thác các nguồn năng lượng Việt Nam, đặc biệt là những con số về trữ lượng nguồn than đồng bằng Sông Hồng... Tiếp theo là những nhận xét, đánh giá tổng thể về tiềm năng, vấn đề dự báo nhu cầu năng lượng, vấn đề quy hoạch các phân ngành, những bất cập trong cơ chế, chính sách phát triển ngành... và một số kiến nghị mang tính cấp bách hiện nay nhằm giải quyết vấn đề an ninh năng lượng trong những năm sắp tới.

PGS, TS Bùi Huy Phùng, Chủ tịch Hội đồng Khoa học - Hiệp hội Năng lượng Việt Nam

>> “Thần than” đồng bằng Sông Hồng có nhỡ “chuyến tàu” công nghiệp hóa? (Kỳ 1)

Nhận xét

Một là, Ngành năng lượng có tính hệ thống rất cao, sản phẩm đầu vào của phân ngành này là đầu ra của phân ngành kia, cần sự phối hợp hài hoà, nhưng hiện nay chúng ta đang thiếu một quy hoạch tổng thể về năng lượng. Các quy hoạch phân ngành điện, than, dầu - khí, NLTT... thực hiện riêng lẻ nên thiếu hài hoà, đồng bộ về khối lượng, vốn đầu tư và cả về thời gian quy hoạch, Quy hoạch than ra sau Quy hoạch điện, còn Quy hoạch dầu - khí, NLTT thì chưa có. Các kết quả dự báo về nhu cầu, khả năng đáp ứng còn chênh lệch nhiều.

Hai là, Kết quả dự báo nhu cầu năng lượng tuy còn chênh lệch, cần hiệu chỉnh, nhưng dù ở mức cao hay thấp thì khả năng các nguồn năng lượng trong nước theo những đánh giá và dự báo hiện nay khó có thể đáp ứng được yêu cầu. Đặc biệt là nhu cầu than cho sản xuất điện, theo QHĐVII và QHNT có khả năng thiếu sớm và khối lượng lớn, giai đoạn 2015 thiếu 4 - 5 triệu tấn, năm 2020 phương án cơ sở thiếu 40 triệu tấn, phương án cao thiếu 54 triệu tấn; năm 2025 tương ứng thiếu 57 và 84 triệu tấn; năm 2030 tương ứng thiéu 108 - 200 triệu tấn.

Ba là, Việc tìm kiếm bổ sung nguồn năng lượng đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là hết sức cần thiết. Như đã trình bày trên, các nguồn năng lượng trong nước đều có những hạn chế, việc nhập than, thực tế vừa qua cho thấy không dễ và còn có thể ảnh hưởng tới an ninh năng lượng. Chúng ta có bể than ĐBSH, cần nhanh chóng làm rõ khả năng đóng góp của than ĐBSH vào sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước.

Than đồng bằng Sông Hồng

Bể than đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH) được biết đến khoảng nửa thế kỷ nay. Từ những đánh giá địa chất, khoan thăm dò dầu mỏ, đã có dự báo, đồng bằng Sông Hồng có tiềm năng than rất lớn, tới vài trăm tỷ tấn. Thời gian qua, Nhà nước, Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), đã quan tâm tổ chức nghiên cứu, đánh giá làm rõ tiềm năng và khả năng khai thác bể than này.

Công nghệ khí hoá than trong lòng đất đã được sử dụng hiệu quả ở một số nước như: Nga, Úc, Anh... Vinacomin cũng đã cử cán bộ tham quan, khảo sát, học tập ở nước ngoài.

Từ những nghiên cứu địa chất và khoan thăm dò trên 200 lỗ khoan, tập trung ở vùng Khoái Châu - Tiền Hải, có điện tích khoảng 1.500 km2 thuộc ba tỉnh: Hưng Yên, Thái Bình và Nam Định; tiếp theo đã tiến hành đánh giá lại, cho thấy [4]:

- Về tiềm năng, với những hiểu biết hiện nay cho kết luận vùng ĐBSH chắc chắn có than, được dự báo là 86 tỷ tấn, trong đó vùng Khoái Châu 1,6 tỷ; vùng Phù Cừ - Tiền Hải 84,4 tỷ tấn.

Tuy nhiên, phải giữ lại để bảo vệ mặt đất, mạch nước ngầm: 10,3 tỷ tấn; phần chưa thể và không thể khai thác đuợc là 45,7 tỷ tấn.

Như vậy than có thể quy hoạch thăm dò là 30 tỷ tấn, than có thể quy hoạch khai thác là 20 tỷ tấn; tiềm năng than có thể khai thác bằng công nghệ khí hoá than trong lòng đất (UCG) là 10 tỷ tấn; bằng công nghệ hầm lò truyền thống (UCM) là 3 tỷ tấn. Sản lượng khai thac có thể đạt khoảng 100 triệu tấn/năm.

- Về chất lượng than, qua phân tích hàng trăm mẫu than [4], cho kết quả trung bình với các thông số chính: nhiệt trị thấp khoảng 6.000Kcal/kg, chất bốc 40%, lưu huỳnh dưới 1%. Chất lượng than này rất phù hợp với các nhà máy nhiệt điện.

- Về giá thành than khai thác, tuỳ thuộc vào quy mô và công nghệ sử dụng, theo sơ tính bước đầu của Ban quản lý các dự án than ĐBSH, trường hợp khai thác than theo công nghệ khí hoá trong lòng đất và sử dụng công nghệ chu trình kết hợp để phát điện (IGCC), với công suất khoảng 300MW, thì giá điện khoảng 50 USD/MWh; trường hợp sử dụng khí than khai thác được và chế biến thành dầu diesel sẽ có giá khoảng 35-40USD/thùng.

- Về công nghệ khai thác và đảm bảo môi trường môi sinh.

Công nghệ khai thác than hầm lò là công nghệ truyền thống. Công nghệ khí hoá than trong lòng đất đã được sử dụng hiệu quả ở một số nước như: Nga, Úc, Anh... Vinacomin cũng đã cử một số đoàn cán bộ tham quan, khảo sát, học tập ở nước ngoài. Vấn đề quan trọng là các công nghệ này được sử dụng vào ĐBSH, nơi địa chất phức tạp, nước ngầm lớn, dân cư đông đúc và là vựa lúa của cả nước như thế nào? Các nội dung này cần được tiếp tục nghiên cứu cẩn trọng.

- Hiện nay, Đề án Điều tra đánh giá tổng thể với kinh phí dự kiến 1.320 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước và Dự án thử nghiệm công nghệ kinh phí 130 tỷ đồng từ vốn doanh nghiệp [3,4] đang được đề nghị…

Tuy nhiên đến nay, các dự án còn gặp nhiều khó cả về kinh phí, chính sách, thủ tục. Ý kiến còn chưa thống nhất giữa việc xây dựng quy hoạch tổng thể trước, hay thực hiện đề án khai thác thử nghiệm trước.

Tháng 7-2012, chúng tôi có dịp thăm Ban quản lý các dự án than ĐBSH tại Hưng Yên và địa bàn có than ở Khoái Châu, ngoài hơn ba chục anh chị em cán bộ trẻ với tinh thần rất hăng hái ra thì cơ sở vật chất chưa có gì.

Một số kiến nghị

Để “Thần than” đồng bằng Sông Hồng bắt kịp “chuyến tàu” công nghiệp hoá đất nước, chúng tôi đề nghị.

1. Để có điều kiện, tư liệu khoa học cho Quy hoạch tổng thể bể than ĐBSH và lựa chọn công nghệ, quy mô khai thác thích hợp, đánh giá ảnh hưởng môi trường, chúng tôi ủng hộ ý kiến thực hiện trước Dự án khai thác thử nghiệm.

2. Đề nghị Vinacomin khẩn trương cho thăm dò, đánh giá kỹ vùng dự kiến thử nghiệm, rà soát dự án thử nghiệm, mới có thể đạt được tiến độ ghi trong quy hoạch.

3. Dự án khai thác thử nghiệm than ĐBSH, mang tính thăm dò tìm kiếm, đề nghị Chính phủ hỗ trợ kinh phí, Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét cấp phép.

NangluongVietnam.vn

Các bài viết cùng tác giả:

>> Quy hoạch năng lượng tổng thể - Cơ sở khoa học, pháp lý cho quy hoạch các phân ngành năng lượng
>> Quy hoạch phát triển điện lực và một số kiến nghị sửa đổi Luật Điện lực Việt Nam (Kỳ 1)
>> Quy hoạch phát triển điện lực và một số kiến nghị sửa đổi Luật Điện lực Việt Nam (Kỳ 2)
>> An ninh điện lực và kiến nghị bổ sung Luật Điện lực
>> Phát triển nhiệt điện chạy than Việt Nam và những thách thức
>> Phản biện, kiến nghị quy hoạch phát triển ngành và dự án năng lượng quốc gia

Tài liệu tham khảo

1. QHĐ VII, 7-2011.

2. QH phát triển ngành Than Việt Nam, 1-2012.

3. Dự thảo QHPT ngành Dầu - khí giai đoạn 2006-2015 định hướng đến 2025, Hà Nội 2007.

4. Nguyễn Thành Sơn - Công nghệ khai thác, chế biến và sử dụng than đồng bằng Sông Hồng - TC Năng lượng nhiệt số 105 tháng 5-2012.

5. Bùi Huy Phùng và CS. Nghiên cứu phương án tổng thể khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên năng lượng VN, BCĐT thuộc CTKH&CN trọng điểm. Bộ CN, GĐ 2001-2005-Viện KH&CN VN, 8-2005.

6. Bùi Huy Phùng - Năng lượng Việt nam đến 2030 và tầm nhìn đến 2050, BC HT Phát triển Năng lượng Quốc gia, Hà Nội 5-2008.




TÒA SOẠN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Phòng 406-407-408, Tòa nhà Văn phòng, số 87 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.
Email: toasoan@nangluongvietnam.vn

Liên hệ Thư ký Tòa soạn: Mai Văn Thắng (Hotline: 0969998822)

Liên hệ Giám đốc Trung tâm Đối ngoại: Lê Mỹ (Hotline: 0949723223)

Liên hệ Trung tâm Quảng cáo: Nguyễn Tiến Sỹ (Hotline: 0969998811) - Phan Thanh Dũng (Hotline: 0942632014)

Trang TTĐT của Tạp chí Năng lượng Việt Nam hoạt động theo Giấy phép số: 66/GP-TTĐT, cấp ngày 30/3/2018
của Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử - Bộ Thông tin - Truyền thông.

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3