Nhận định - Phản biện

Quy hoạch phát triển điện lực và một số kiến nghị sửa đổi Luật Điện lực Việt Nam (Kỳ 1)

18:11 |29/08/2012

 - 

Hơn hai thập niên qua, kinh tế và năng lượng Việt Nam đã có những bước tiến rất đáng ghi nhận. Giai đoạn 2001 - 2010, GDP tăng bình quân 7%/năm, năm 2010, GDP đầu người 1.150 USD/người, Việt Nam bước qua ngưỡng nước nghèo.Sản xuất năng lượng sơ cấp tăng khoảng 8%/năm. Năm 2010, sản xuất than sạch đạt 44 triệu tấn,  dầu thô 15 triệu tấn, khí đốt 9 tỷ m3, tổng công suất các nhà máy điện khoảng 24.000 MW, sản xuất điện đạt 100 tỷ kWh, điện tiêu thụ đầu người đạt xấp xỉ 1.000 kWh/người. Cơ sở hạ tầng của ngành năng lượng phát triển nhanh. Nội dung sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường đang từng bước được quản lý thống nhất và có hiệu quả. Bên cạnh đó, hoạt động năng lượng đang được định hướng dần theo cơ chế thị trường. Trong thành tựu đạt được có sự đóng góp không nhỏ của công tác thể chế, quy hoạch năng lượng nói chung và quy hoạch phát triển điện lực (QHPTĐL) nói riêng. Công tác QHPTĐL quốc gia và địa phương được thực hiện theo pháp luật ngày càng có chất lượng và thống nhất hơn. Tuy nhiên, ngành năng lượng càng lớn mạnh, hệ thống năng lượng càng phức tạp, đa dạng, đặc biệt là phân ngành điện lực, quá trình phát triển đang đòi hỏi tính cân đối, thống nhất và hiệu quả cao hơn; trên thực tế nhiều năm qua đã thể hiện không ít bất cập, yêu cầu bổ sung, sửa đổi.

PGS.TS. Bùi Huy Phùng
Chủ tịch Hội đồng Khoa học - Hiệp hội Năng lượng Việt Nam

Giải mã bí mật về tháp Chăm 1.000 tuổi

Cơ sở pháp lý của quy hoạch phát triển điện lực

1. Luật Điện lực - 2004 [1]

Nội dung QHPTĐL tập trung chủ yếu ở chương 2, gồm một số quy định sau:

Điều 8. Xác định yêu cầu đối với QH và 2 cấp độ (quốc gia và địa phương) thời gian quy hoạch.

- QHPTĐL Quốc gia được lập cho giai đoạn 10 năm và định hướng cho 10 năm tiếp theo.

- QHPTĐL địa phương bao gồm: QH cấp tỉnh, thành phố trực thuộc TW và quy hoạch huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, được lập cho giai đoạn 5 năm và định hướng 5 năm tiếp theo.

Điều 9. Quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch.

- QHPTĐL Quốc gia, Bộ Công Thương tổ chức xây dựng, chính phủ phê duyệt, công bố và quyết định việc điều chỉnh quy hoạch.

- QHPTĐL địa phương, UBND cấp tỉnh tổ chức xây dựng HDND cấp tỉnh thông qua, Bộ Công Thương phê duyệt, công bố và quyết định việc điều chỉnh quy hoạch.

Điều 10. Quy định kinh phí cho việc xây dựng quy hoạch lấy từ kinh phí ngân sách TW và địa phương tương ứng với cấp quy hoạch.

2. Các văn bản dưới luật [2]

Quy định 42/BCN, 12/2005, quy định nội dung, trình tự, thủ tục lập thẩm định và phê duyệt QHPTĐL.

Quy định gồm 3 chương, 10 điều và 3 phụ lục hướng dẫn chi tiết cho việc xây dựng: QHPTĐLQG; QHPTĐL tỉnh và TP trực thuộc TW; QHPTĐL cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Quy định 06/BCT, 10/2007, quy định về nội dung, trình tự, thủ tục lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch địa điểm xây dựng trung tâm điện lực.

Các quy định này về cơ bản khá chi tiết, rõ ràng, đã giúp cho công tác xây dựng QHĐL có nhiều tiến bộ đáng ghi nhận.

Thực tiến công tác xây dựng QHPTĐL và những nhận xét

Luật Điện lực 2004 và các văn bản dưới luật đã góp phần quan trọng trong hoạt động xây dựng QHPTĐL QG&ĐP, đã có những quy định về nội dung, trình tự, thủ tục xây dựng, trình duyệt, thực hiện quy hoạch về cơ bản hợp lý. Tuy nhiên, qua hơn 6 năm thực hiện cũng bộc lộ một số nhược điểm, bất cập.

1. Thời gian quy hoạch

+ Đối với QHĐL Quốc gia được quy định 10 năm và định hướng 10 năm tiếp theo là hợp lý.

+ Đối với quy hoạch cấp tỉnh, thành phố trực thuộc TW là 5 năm và định hướng 5 năm tiếp theo; đối với quy hoạch thời gian 5 năm là ngắn quá, chưa phù hợp, thực tế một số tỉnh, xây dựng xong chỉ 3 - 4 năm đã phải xây dựng quy hoạch mới.

+ Đối với cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thời gian quy hoạch được quy định như cấp tỉnh, qủa thực có một điểm đáng bàn.

Theo số liệu thống kê nhà nước năm 2010, cả nước có 553 huyện nông thôn, 47 quận thuộc thành phố TW, 99 thị xã và thành phố thuộc tỉnh, tổng cộng có khoảng 700 đơn vị cấp huyện, tính bình quân mỗi đơn vị này khoảng 120.000 dân, công suất điện sử dụng khoảng 25 MW, dự báo cho thời gian tới mức công suất này cũng không phải tăng quá lớn. Đối với các quận thuộc thành phố lớn, công suất điện sử dụng có cao hơn nhiều, nhưng địa bàn hẹp, đơn giản hơn nông thôn, miền núi.

Với khối lượng khoảng 700 quy hoạch cấp huyện/quận, trong điều kiện tự liệu, số liệu thiếu, kém chính xác do vậy thời gian qua việc chấp hành luật điện lực phải xây dựng QH ở cấp này gặp lúng túng, có nơi không làm được. Trong khi đó, quy hoạch cấp huyện thực chất là thực hiện quy hoạch tỉnh, thành phố trực thuộc TW, nội dung QH huyện, quận không có gì khác biệt lớn.

Như vây, đối với quy hoạch cấp huyện nên được sửa đổi.

2. Nội dung quy hoạch

Về nội dung quy hoạch trong Luật Điện lực cũng như các quy định dưới luật có quy định khá chi tiết. Tuy nhiên, khái niệm quy hoạch trong điều 2 chương I -QĐ42/BCN ghi: “QHPTĐL là mục tiêu, định hướng, giải pháp, cơ chế, chính sách về phát triển ngành điện...”. Quy hoạch, thiết nghĩ phải được hiểu với mức độ đề án thực hiện, tính pháp lý cao hơn là định hướng, định hướng chỉ ở giai đoạn 10 năm tiếp theo. Nội dung quy hoạch thực hiện 10 năm nhưng thiếu sự phân đoạn, có thể phân thành hai giai đoạn 5 năm sẽ thuận tiện cho bố trí nhân tài - vật lực, điều hành, đánh giá và hiệu chỉnh quy hoạch.

Chấp hành Luật Điện lực, chúng ta chỉ xây dựng QH mà không phân đoạn kế hoạch 5 năm; thực tế diễn ra trong thời gian vừa qua cho thấy một số nội dung dở dang giữa QH và KH. QHĐ VI mới thực hiện 5 năm, theo luật đáng ra chỉ hiệu chỉnh QH, thực tế lại xây dựng QH mới (QHĐ VII), như vậy là thực hiện chưa đúng luật!

Nội dung QHPTĐL cũng cần làm rõ các trung tâm nguồn điện, trung tâm phụ tải điện, để có biện pháp, chính sách thích hợp.

3. Mối quan hệ kết nối giữa các cấp độ quy hoạch

Các quy hoạch địa phương, tuy trong luật có quy định phải phù hợp với quy hoạch quốc gia và liên quan, nhưng trong QĐ42/BCN chưa hướng dẫn rõ, trên thực tế chưa được quán triệt đầy đủ, khi lập quy hoạch địa phương thiếu (hoặc sơ lược) phần đánh giá và tuân thủ mối quan hệ này. Vì vậy, kết quả các quy hoạch khập khiễng, thiếu nhất quán, tổng nhu cầu điện các địa phương được dự báo bao giờ cũng cao hơn nhiều so với tổng nhu cầu điện trong quy hoạch quốc gia ở cùng giai đoạn, dẫn tới phát sinh yêu cầu lớn hơn về xây dựng và vốn đầu tư.

Đối với QHPTĐLQG, chúng ta biết ngành năng lượng có tính hệ thống cao, tư liệu đầu vào của phân ngành này lại là đầu ra của phân ngành kia, bởi vậy cần thiết xây dựng Quy hoạch tổng thể các nguồn năng lượng sơ cấp, gọi tắt là Quy hoạch năng lượng tổng thể (QHNLTT), đây là vấn đề Việt Nam mới quan tâm nhưng chưa thực hiện cụ thể.

Đến thời điểm này, chúng ta đã xây dựng các quy hoạch, chiến lược sau: 7 Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia (QHĐ), tương ứng có 7 lần xây dựng quy hoạch điện địa phương; 5 Quy hoạch phát triển ngành than (QHT); 3 Quy hoạch phát triển dầu - khí (QHDK); 01 Dự thảo Quy hoạch năng luợng tái tạo (NLTT); 01 Chiến lược phát triển NLQG-2007.

Những đóng góp của các tài liệu này

+ Các quy hoạch đã góp phần định hướng quan trọng cho sự phát triển các phân ngành năng lượng.

+ Lập kế hoạch phát triển các công trình năng lượng, tạo nên những cơ sở phục vụ phát triển KTQD.

+ Xây dựng và hoàn thiện dần các bộ tư liệu, số liệu phục vụ tính toán quy hoạch và quản lý nhà nước về năng lượng.

Nhược điểm, bất cập

+ Ngành năng lượng có tính hệ thống cao nhưng các quy hoạch phân ngành: Điện, Than, Dầu - khí, NLTT được xây dựng riêng, khá biệt lập, vì vậy thể hiện thiếu đồng bộ, bất cập.

- Thời gian quy hoạch chưa thống nhất.

- Tư liệu, số liệu phục vụ QH thiếu thống nhất, thiếu tin cậy, thiếu thẩm định.

- Các nội dung quy hoạch chưa được xem xét, tính toán một cách đồng bộ, dẫn tới khập khiễng, thiếu thống nhất.

- Cơ cấu, tỷ lệ đầu tư chưa hợp lý giữa các phân ngành, giữa các giai đoạn quy hoạch.

- Giá cả của các loại nhiên liệu - năng lượng là đầu vào đầu ra của nhau nhưng thiếu sự cân đối và tương quan hợp lý.

- Phương pháp tính toán xây dựng quy hoạch chưa hợp lý, thể hiện ở hai khía cạnh chính:

i) Xây dựng riêng lẽ thiếu tính hệ thống.

ii) Trong từng phân ngành năng lượng, tuy có sử dụng một số phương pháp và công cụ hiện đại, nhưng chưa đồng bộ, chưa thật hợp lý (như QH ĐL), một số phân ngành khác chủ yếu sử dụng phương pháp thủ công truyền thống.

Quy hoạch năng lượng tổng thể quốc gia (QHNLTT)

Trong tài liệu [6,7,8], đã trình bày khá chi tiết phương pháp và vai trò của QHNLTT, ở đây chỉ nêu nguyên tắc kết nối QHNLTT với các quy hoạch phân ngành.

Về phân cấp, hệ thống năng lượng (HTNL), được phân cấp theo chuyên ngành gồm: phân ngành điện, than, dầu - khí, năng lượng tái tạo, năng lượng hạt nhân ... và phân cấp theo quy mô lãnh thổ: quốc gia, vùng, các trung tâm.

QHNLTT là bước đầu tiên, là cơ sở để xây dựng quy hoạch các phân ngành năng lượng, là tiền đề cho kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng năng lượng. Bởi vậy, nó là cơ sở khoa học và theo pháp quy xây dựng quy hoạch nó còn là cơ sở pháp lý cho các quy hoạch phân ngành.

Nội dung cơ bản của QHLNTT: Xuất phát từ tình hình phát triển kinh tế - năng lượng quốc tế, chiến lược phát triển KT-XH của đất nước, điều kiện các nguồn năng lượng trong và ngoài nước (than, dầu, khí, thuỷ năng, năng lượng tái tạo, năng lượng hạt nhân..), tính thay thế lẫn nhau giữa chúng, tiến bộ khoa học -công nghệ và yêu cầu bảo vệ môi trường, tính toán và xây dựng phương án hợp lý phát triển hệ thống năng lượng hiệu quả, bền vững trong suốt thời gian quy hoạch. Bằng phương pháp khoa học và công cụ tính toán hiện đại, mà hiện nay ở Việt Nam đã được chuyển giao và nghiên cứu, có thể giải quyết được bài toán lớn này.

NangluongVietnam.vn

Tài liệu tham khảo

1. Luật Điện lực-2004.

2. Các BC tổng hợp ý kiến về sửa đổi LĐL của QH, Bộ CT.

3. QĐ 42/BCN, 12-2005.

4. QHĐ VII, 7-2011.

5. QH phát triển ngành Than VN, 1-2012.

6. Bùi Huy Phùng và cs.Nghiên cứu phương án tổng thể khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên năng lượng VN, BCĐT thuộc CTKH&CN trọng điểm. Bộ CN, GĐ 2001-2005-Viện KH&CN VN, 8-2005.

7. Bùi Huy Phùng - Những vấn đề cơ bản về nghiên cứu Quy hoạch phát triển năng lượng quốc gia đến 2030 và tầm nhìn đến 2050, Bản tin KTTW, số đặc san số 116, 6-2006.

8. Bùi Huy Phùng - Quy hoạch năng lượng tổng thể - cơ sở khoa học và pháp lý cho quy hoạch các phân ngành năng lượng, Tạp chí Năng lượng Việt Nam, Trang thông tin điện tử NangluongVietnam.vn (Ngày 17-6-2012).

Kỳ 2: Một số kiến nghị sửa đổi Luật Điện lực Việt Nam



TÒA SOẠN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Phòng 406-407-408, Tòa nhà Văn phòng, số 87 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.22113344 - Fax: 024.35147193
Email: toasoan@nangluongvietnam.vn
Hotline: 0969998811 - 0969998822 - 0942632014 Trang TTĐT của Tạp chí Năng lượng Việt Nam hoạt động theo Giấy phép số: 66/GP-TTĐT, cấp ngày 30/3/2018
của Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử - Bộ Thông tin & Truyền thông.

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3