» Phản biện

Phản biện, kiến nghị giải pháp phát triển bền vững năng lượng tái tạo Việt Nam (Kỳ 1)

19:43 |21/05/2012

 - 

Thách thức thiếu điện của Việt Nam là rất lớn và trước mắt sẽ dồn vào giai đoạn từ nay đến năm 2020. Câu hỏi đặt ra là: sẽ lấy gì để bù đắp vào nguồn năng lượng thiếu hụt mà trước hết là điện năng cho giai đoạn này? Câu trả lời khẳng định là: Không có cách nào khác, Việt Nam phải tích cực phát triển năng lượng tái tạo! Phản biện, kiến nghị về vấn đề này, NangluongVietnam.vn trân trọng giới thiệu bài viết của chuyên gia cao cấp năng lượng Tô Quốc Trụ, Giám đốc Trung tâm Tư vấn Năng lượng (VECC).

Nhận định về phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam

Khai thác thuỷ điện ở Việt Nam đến nay đã dần tới giới hạn. Tại miền Bắc, sau Nhà máy thuỷ điện Sơn La chúng ta đang tích cực xây dựng các nhà máy thuỷ điện: Lai Châu, Bản Chát, Huội Quảng. Tại miền Trung và Tây Nguyên đã giải quyết cơ bản xong, trong đó các dự án thuỷ điện trên hệ thống sông Sê San và Srepok đã thực hiện hết. Tại miền Nam, các bậc thang thuỷ điện trên sông Đồng Nai đang tích cực triển khai.

Về nhiệt điện than, căn cứ dữ liệu của Quy hoạch điện VII đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thấy rằng, việc phát triển các nhà máy nhiệt điện chạy than tới năm 2030 tổng công suất đặt lên tới 75.000MW. Để tạo ra sản lượng điện khoảng 394 tỷ kWh là không khả thi về khả năng tự cung cấp than, nhu cầu than cho số công suất nhiệt điện này lên tới 171 triệu tấn/năm, trong khi sản lượng than thương phẩm sản xuất toàn ngành than năm 2030 chỉ đạt trên 75 triệu tấn và bài toán nhập khẩu than đang là vấn đề nan giải.

Bên cạnh đó, các nhà máy điện chạy khí, dầu chưa có hướng phát triển thêm, do hạn chế về nguồn cung. Việc xây dựng các dự án nhiệt điện, thuỷ điện lớn thường chậm tiến độ so với yêu cầu của kế hoạch, quy hoạch.

Việc khai thác và sử dụng các nguồn năng lượng sơ cấp hoá thạch ở các dự án nhiệt điện gây hiệu ứng nhà kính làm ô nhiễm môi trường, trong khi đó các dự án thuỷ điện thường gặp khó khăn trong giải quyết giải phóng mặt bằng tái định cư, bảo vệ rừng khi xây dựng hồ chứa nước.

Nhà máy điện hạt nhân nếu đáp ứng đúng tiến độ của Quy hoạch Điện VII đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1208/QĐ-TTg ngày 21/7/2011 cũng phải đến năm 2020 tổ máy đầu tiên mới đưa vào vận hành.

Việc tìm kiếm nguồn than á bitum tại Bể than Đồng bằng Sông Hồng nếu việc đầu tư khai thác thử nghiệm một số dự án được hoàn thành tốt vào năm 2015 thì sản lượng than á bitum thương phẩm (quy đổi) cũng chỉ đạt được 10 triệu tấn vào năm 2030.

Với những dẫn chứng trên đây, thách thức thiếu điện của Việt Nam là rất lớn và trước mắt sẽ dồn vào giai đoạn từ nay đến năm 2020.

Câu hỏi đặt ra là sẽ lấy gì để bù đắp vào nguồn năng lượng thiếu hụt mà trước hết là điện năng cho giai đoạn này? Câu trả lời khẳng định là: Không có cách nào khác, Việt Nam phải tích cực phát triển năng lượng tái tạo (NLTT).

Theo VECC, các nguồn NLTT ở Việt Nam về mức độ tiệm cận cao ở quy mô khai thác sử dụng trên thực tế và về tính khả thi kinh tế - kỹ thuật có thể sắp xếp theo thứ tự sau: gió, mặt trời, sinh khối, địa nhiệt, thuỷ triều, sóng biển. Tất nhiên, không kể thuỷ điện nhỏ, bởi đã và đang khai thác triệt để tới mức sau các mùa bão lũ vừa qua đã đặt ra vấn đề là phải quan tâm hơn đến các khâu quy hoạch, quản lý, điều hành, quy mô khai thác và bảo vệ môi trường.

Một ưu điểm cần nêu là các dự án NLTT có thời gian xây dựng nhanh so với các dự án nguồn điện sử dụng năng lượng truyền thống. Vấn đề cần quan tâm là phải tìm mọi cách để khắc phục, không làm kéo dài thời gian chuẩn bị đầu tư, trong đó có việc đàm phán hợp đồng mua điện, do giá bán điện của các dự án NLTT thường cao.

Tuy nhiên, phải khẳng định một thực tế là việc phát triển NLTT của Việt Nam so với nhiều nước trên thế giới được đánh giá là chậm, đang còn nhiều rào cản. Việc ban hành Nghị định về chính sách, cơ chế khuyến khích, hỗ trợ đầu tư phát triển NLTT nói chung của Việt Nam ở cấp Chính phủ cần được giải quyết một cách tích cực và khẩn trương hơn.

Ngày 29/6/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 37/2011/QĐ-TTg về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió tại Việt Nam. Đây là sự khởi đầu cho chuyên ngành điện gió Việt Nam phát triển mạnh trong thời gian tới.

Trạm đo gió của nhóm DEVI (Nguồn: devi-renewable.com)


Xác định tiềm năng NLTT ở Việt Nam

Một trong những nội dung quan trọng nhất để có thể đưa ra chiến lược và quy hoạch phát triển NLTT ở Việt Nam là làm thế nào xác định được tương đối chính xác tiềm năng NLTT cho từng dạng năng lượng.

Tuy nhiên, nội dung quan trọng này ta chưa làm được - dưới đây đưa ra một số nhận xét về xác định NLTT của Việt Nam đã thực hiện trong thời gian qua:

Thứ nhất, nhiều cơ quan tổ chức cùng làm, chưa có một đơn vị có trách nhiệm nào đứng ra tập hợp, xử lý và tổng kết.

Thứ hai, cách làm dựa vào thu thập tư liệu từ nước ngoài, hoặc nước ngoài thực hiện là chính, không có đề cương thực hiện và thiếu kinh nghiệm để triển khai. Việc tiến hành đo đạc mạnh ai nấy làm, chưa khoa học và không có sự hỗ trợ lẫn nhau. Một số dạng NLTT chưa được điều tra xác định tiềm năng.

Thứ ba, chi phí xác định tiềm năng cho từng dạng NLTT đều lớn và cần có thời gian quan trắc. Các cơ quan có trách nhiệm của nhà nước chưa có chính sách khuyến khích đầu tư vào việc thực hiện khâu đầu tiên và quan trọng của lĩnh vực này.

Thứ tư, chưa có chủ trương hợp tác quốc tế trong phát triển từng dạng NLTT.

Ví dụ: Về năng lượng gió: WB, NEDO Nhật Bản, Hoa Kỳ, Tây Ban Nha, Anh, Đức, Đan Mạch. Về năng lượng mặt trời: Hoa Kỳ, Úc, Hàn Quốc, Trung Quốc… Về nhiên liệu sinh học: Braxin. Về địa nhiệt: Hoa Kỳ, Philippin. Về năng lượng thuỷ triều và sóng biển: Pháp. Hợp tác phát triển NLTT với các nước Asean trong đó có nước láng giềng Thái Lan là nước có nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực này cũng chưa đặt ra.

Trong thực tế, các cơ quan có chức năng, đặc biệt là cơ quan lập quy hoạch năng lượng thường lấy các dữ liệu, các nghiên cứu về tiềm năng NLTT của Việt Nam từ các cơ quan nước ngoài, các tổ chức quốc tế, nhưng thường không xử lý tính toán để đưa vào quy hoạch.

Ví dụ, đối với tiềm năng năng lượng gió chủ yếu là lấy số liệu từ WB (Atlas WB), ADB, Viện Nghiên cứu Shikoku NEDO Nhật Bản… Các số liệu này thực ra chỉ nên đánh giá là sơ bộ để tham khảo, vì chưa có các bước đo đạc cụ thể. Bản đồ phân vùng tốc độ gió do NEDO đưa ra cho một phần khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam có tỷ lệ nhỏ nên chỉ có thể cho ta định hướng về những vùng có tiềm năng gió cao nhất.

Cho đến thời điểm này, về tiềm năng NLTT của Việt Nam, Viện Năng lượng (Bộ Công Thương) - cơ quan được coi là tin cậy nhất, vì có chức năng xử lý các số liệu này để lập đề án quy hoạch năng lượng đã đưa ra các kết quả dự báo tiềm năng NLTT ở Việt Nam tại Hội thảo quốc tế về Phát triển Năng lượng gió của Việt Nam ngày 5/11/2009.

Với các kết quả như sau: năng lượng gió 1800MW, năng lượng mặt trời 4~5kWh/m2, năng lượng sinh học > 150MW, năng lượng sinh khối > 800MW, năng lượng rác thải 350MW, năng lượng địa nhiệt 340MW, thuỷ điện nhỏ 4000MW.

Số liệu về tiềm năng NLTT của Việt Nam nêu trên đã gây ra nhiều tranh luận, đặc biệt là tiềm năng năng lượng gió, sinh khối thuỷ triều và sóng biển.

Tại hội nghị ENEREXPO Việt Nam 2010 tổ chức ngày 19/3/2010 ở Hà Nội, GTZ (Đức) công bố số liệu điều tra của WB ước tính tổng tiềm năng điện gió của Việt Nam là: 513.360MW, tương đương với 200 lần công suất của Nhà máy thuỷ điện Sơn La và bằng 10 lần tổng công suất của quốc gia dự báo cho năm 2020.

Cũng tại hội nghị này, Công ty Cổ phần Phong điện Phương Mai đưa ra số liệu về tiềm năng điện gió của Việt Nam là 713.000MW, trong đó tiềm năng kinh tế kỹ thuật bằng 3~5% tiềm năng, tương ứng 21.390MW và 35.650MW.

Về tiềm năng năng lượng khí sinh học, sinh khối và rác thải, theo Viện Năng lượng đạt tổng cộng khoảng 1300MW, số liệu này thấp hơn nhiều so với số liệu được nêu ra tại hội thảo phát triển nhiên liệu sinh học hiệu quả và bền vững: chính sách, định hướng và lộ trình, ngày 25/9/2009 do Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ quốc gia chủ trì.

Việc xác định tiềm năng năng lượng thuỷ triều - sóng biển của Việt Nam hiện đang bỏ ngỏ, trong danh mục nguồn điện của Quy hoạch Điện VII không thấy đề cập đến các nguồn điện sử dụng dạng năng lượng này.

Kỳ tới: Thực trạng và kiến nghị giải pháp để phát triển NLTT bền vững

Tô Quốc Trụ





TÒA SOẠN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Phòng 406-407-408, Tòa nhà Văn phòng, số 87 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.
Email: toasoan@nangluongvietnam.vn

Liên hệ Thư ký Tòa soạn: Mai Văn Thắng (Hotline: 0969998822)

Liên hệ Giám đốc Trung tâm Đối ngoại: Lê Mỹ (Hotline: 0949723223)

Liên hệ Trung tâm Quảng cáo: Nguyễn Tiến Sỹ (Hotline: 0969998811) - Phan Thanh Dũng (Hotline: 0942632014)

Trang TTĐT của Tạp chí Năng lượng Việt Nam hoạt động theo Giấy phép số: 66/GP-TTĐT, cấp ngày 30/3/2018
của Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử - Bộ Thông tin - Truyền thông.

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3