» Phản biện

Phản biện, kiến nghị chính sách phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (Phần 1)

05:00 |11/07/2012

 - Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA) đã chính thức có Văn bản kiến nghị tới các cơ quan Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành liên quan về “Phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”. Đây là Văn bản kiến nghị có một quá trình đầu tư nhiều công sức, trí tuệ và tâm huyết của VEA, các nhà quản lý, chủ đầu tư, nhà thầu, các nhà khoa học, chuyên gia kinh tế - kỹ thuật năng lượng, tổ chức năng lượng quốc tế… NangluongVietnam xin trân trọng giới thiệu nguyên văn nội dung Văn bản kiến nghị để bạn đọc có cái nhìn bao quát hơn về những thách thức phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng Việt Nam hiện nay và bằng cơ chế, chính sách nào để phát triển hạ tầng năng lượng đáp ứng nhu cầu phát triển nền kinh tế - xã hội trong tương lai...

Cuối năm 2011, Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA) nhận được Văn bản của Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước truyền đạt ý kiến của Chủ tịch nước về việc “trao đổi, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan để tham mưu cho Chính phủ góp phần từng bước tháo gỡ khó khăn cho các dự án năng lượng của đất nước”.

Đồng thời Chủ tịch nước đã chỉ đạo VEA nghiên cứu, đánh giá về khả năng xây dựng cơ sở hạ tầng năng lượng đến năm 2020 đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Trên tinh thần đó, VEA đã tổ chức hội thảo với chủ đề liên quan để lấy ý kiến tham luận, phản biện của các chủ đầu tư, nhà thầu, các nhà khoa học và chuyên gia kinh tế kỹ thuật năng lượng, tổ chức năng lượng quốc tế… tham mưu cho các cơ quan Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ - nhằm thực hiện có hiệu quả các Quyết định của Chính phủ phê duyệt các đề án quy hoạch năng lượng của đất nước.

Sau hội thảo “Phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, Hội đồng Khoa học Năng lượng (VESC) bao gồm các thành viên là chuyên gia các phân ngành năng lượng: điện, than, dầu khí, năng lượng mới, tái tạo… và các ngành liên quan đến năng lượng đã họp bàn, xem xét, đánh giá, phân tích, cân nhắc các ý kiến trao đổi tại hội thảo để VEA đưa ra một số kiến nghị lên Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ...

"Ý thức được tầm quan trọng của đề án quy hoạch năng lượng, trước mắt VEA đưa ra những nhận định ở bước thực hiện trung hạn đến năm 2020, từ đó mới có cơ sở đánh giá khả năng đạt được yêu cầu dài hạn đến năm 2030 và đề xuất các kiến nghị trình các cấp có thẩm quyền xem xét, hiệu chỉnh hoàn thiện quy hoạch nếu được chấp nhận..."- VEA nêu quan điểm.

1. Đánh giá việc thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng năng lượng Việt Nam đến năm 2020.

1.1. Nhận định chung về ngành năng lượng Việt Nam giai đoạn 2001-2010

Qua hơn 25 năm đổi mới, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, ngành năng lượng Việt Nam đã phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, đã đạt được những thành tích đáng ghi nhận trong việc đáp ứng nhu cầu năng lượng tăng ở mức tương đối nhanh. Đặc biệt ngành điện đã đầu tư phát triển điện rất nhanh, đảm bảo cung cấp đủ điện cho kinh kế - xã hội và đời sống nhân dân đây - là một thành tích lớn đáng ghi nhận.

Giai đoạn 2001-2010, GDP của cả nước tăng bình quân ở mức 7%/năm. Năm 2010, GDP đầu người của nước ta là 1.150USD/người, Việt Nam đã bước qua ngưỡng nước nghèo.

Sản xuất năng lượng sơ cấp tăng khoảng 8%/năm, cụ thể năm 2010: sản xuất than sạch đạt 44 triệu tấn, dầu thô 15 triệu tấn, khí đốt 9 tỷ m3, tổng công suất các nhà máy điện khoảng 24.000 MW, sản xuất điện đạt trên 100 tỷ kWh, sản lượng điện đầu người đạt xấp xỉ 1000kWh/người/năm.

Cơ sở hạ tầng của ngành năng lượng phát triển nhanh. Nội dung sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường đang từng bước được cải thiện. Hoạt động năng lượng đang được định hướng dần theo cơ chế thị trường.

1.2. Xây dựng cơ sở hạ tầng điện lực đáp ứng mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khoá X đã hoàn thành Đề cương chi tiết Báo cáo tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2001-2010 và xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm tiếp theo 2011-2020.

Phương hướng tổng quát của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2011-2020 đã được xác định là: Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển bền vững để đến năm 2020 nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện, độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững.

Để đạt được mục tiêu của Chiến lược nói trên, trong đó quy định rõ là nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 thì một trong các điều kiện cần và đủ là cơ sở hạ tầng năng lượng nói chung và cơ sở hạ tầng điện lực nói riêng phải được đáp ứng.

Chính vì vậy đề án Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030, sau một quá trình thẩm tra ở cấp Bộ và xem xét thẩm định ở cấp Chính phủ, ngày 21 tháng 7 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 1208/QĐ-TTg Phê duyệt QHĐVII.

Ý thức được tầm quan trọng của đề án quy hoạch này, trước mắt VEA đưa ra những nhận định ở bước thực hiện trung hạn đến năm 2020, từ đó mới có cơ sở đánh giá khả năng đạt được yêu cầu dài hạn đến năm 2030 và đề xuất các kiến nghị trình các cấp có thẩm quyền xem xét, hiệu chỉnh hoàn thiện quy hoạch nếu được chấp nhận.

1.3. Tóm tắt mục tiêu và nhu cầu vốn đầu tư của QHĐVII giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030

Mục tiêu tổng quát của QHĐVII là sử dụng có hiệu quả tài nguyên trong nước, kết hợp với nhập khẩu năng lượng sơ cấp cho sản xuất điện, cung cấp đầy đủ điện năng với chất lượng ngày càng cao, giá cả hợp lý cho phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Mục tiêu cụ thể:

Điện năng sản xuất theo kịch bản cơ sở/kịch bản cao là:

Năm 2010: 100,017 tỷ kWh

Năm 2015: 194/201 tỷ kWh

Năm 2020: 330/360 tỷ kWh

Năm 2030: 695/834 tỷ kWh

Tiêu thụ điện bình quân đầu người đến năm 2020 đạt khoảng 3.300kWh.

- Giảm hệ số đàn hồi điện hiện nay ở mức 2,0 đến năm 2015 còn 1,5 và đến năm 2020 còn 1, (hệ số đàn hồi là tỉ lệ giữa tăng trưởng điện năng/tăng trưởng GDP).

- Tăng tỉ lệ điện năng sản xuất từ năng lượng tái tạo (NLTT) năm 2010 từ 3,5%, năm 2020 lên 4,5% và năm 2030 lên 6,0%.

- Hầu hết các hộ dân nông thôn miền núi đều có điện vào năm 2020.

- Theo kịch bản cơ sở năm 2020 tổng công suất đạt 75.000MW, điện năng 330 tỷ kWh, trong đó thuỷ điện và thuỷ điện tích năng 19.125MW, nhiệt điện than 36.000MW, nhiệt điện khí 12.375MW, NLTT 4200MW, điện hạt nhân 975MW và nhập khẩu điện 2325MW.

- Theo kịch bản cơ sở năm 2030, tổng công suất đạt 146.800MW, điện năng 695 tỷ kWh, trong đó thuỷ điện và thuỷ điện tích năng 23.047,6MW, nhiệt điện than 75.748,8MW, nhiệt điện khí 17.322,4MW, NLTT 13.799,2MW, điện hạt nhân 9688,8MW và nhập khẩu điện 7.193,2MW.

- Phát triển lưới điện từ lưới truyền tải và lưới điện phân phối đồng bộ với tiến độ đưa vào vận hành các nhà máy điện để đạt được hiệu quả đầu tư chung của toàn hệ thống.

Nhu cầu vốn đầu tư:

Để thực hiện được QHĐVII theo kịch bản cơ sở, nhu cầu vốn đầu tư như sau:

- Giai đoạn 2011-2020 cần: 929,7 nghìn tỷ VNĐ tương đương 48,8 tỷ USD, bình quân 4,88 tỷ USD/năm.

- Giai đoạn 2021-2030 cần: 1429,3 nghìn tỷ VNĐ tương đương 75 tỷ USD, bình quân 7,50 tỷ USD/năm.

- Giai đoạn cả 20 năm từ 2011-2030 cần: 2359,0 nghìn tỷ VNĐ tương đương 123,8 tỷ USD, bình quân 6,19 tỷ USD/năm.

1.4. Một số nhận xét và bình luận về tình hình triển khai các dự án nguồn điện giai đoạn đến 2020 của QHĐVII đã được phê duyệt

(1) Về tiến độ thực hiện đưa dự án nguồn điện vào vận hành thương mại

Thời điểm này là giữa năm 2012, nhưng đã xuất hiện một số dự án đáng lẽ phải đưa vào vận hành thương mại năm 2011, song đến nay vẫn đang trong tình trạng xử lý sự cố như Nhà máy thuỷ điện (NMTĐ) Sông Tranh 2, Nhà máy nhiệt điện (NMNĐ) Uông Bí MR tổ máy 2. Dự án NMNĐ Vũng Áng I, NMNĐ An Khánh I phải hoàn thành trong năm nay (2012), nhưng nếu thuận lợi cũng phải năm 2013 mới có thể đưa vào vận hành được.

Hầu hết các dự án nằm trong Danh mục nguồn điện xây dựng trong giai đoạn 2011- 2020 của Quyết định Phê duyệt QHĐVII được bố trí từ miền Bắc vào các tỉnh miền Trung và miền Nam, đến nay có một số chưa xác định chủ đầu tư, số còn lại các chủ đầu tư triển khai rất chậm, trong đó có yếu tố thiếu nguồn vốn, khó khăn trong giải phóng mặt bằng…

Thời gian chỉ còn khoảng trên 8 năm để đạt được mục tiêu 75.000MW, việc này khó trở thành hiện thực.

Đặc biệt nhiều dự án NMNĐ than bị chậm tiến độ còn có nguyên nhân - là các tổ máy công suất lớn (600MW) thông số siêu tới hạn, thời gian thí nghiệm hiệu chỉnh để đạt được công suất thiết kế kéo dài là khó tránh khỏi.

(2) Về phát triển NLTT

Mặc dù Chính phủ đã có sự quan tâm, nhưng do đánh giá tiềm năng NLTT của Việt Nam chưa đúng mức nên QHĐVII vẫn đưa ra tỉ lệ thấp về dạng năng lượng này trong cơ cấu nguồn điện của Việt Nam đến năm 2020.

Đặc biệt là điện gió đang được phát triển mạnh trên thế giới và Việt Nam cũng đang triển khai tích cực, nhưng đề xuất của QHĐVII ở kịch bản cơ sở, công suất điện gió năm 2020 chỉ đạt 675MW.

(3) Về tính khả thi hoàn thành một số dự án nguồn điện lớn đến năm 2020

VEA đề nghị xem xét và cân nhắc kỹ khi đưa các dự án nguồn điện sau đây vào vận hành vào 2 năm 2019-2020:

- NMTĐ tích năng Bắc Ái 3 tổ máy 1,2,3 (3x300MW) và Đông Phù Yên 3 tổ máy 1,2,3 (3x300MW).

Các NMTĐ tích năng có vai trò phủ đỉnh trong vận hành hệ thống điện thường xuất hiện đồng bộ với nhà máy điện hạt nhân (NMĐHN) vận hành ở đáy biểu độ phụ tải. Tuy nhiên, các NMTĐ tích năng có 2 vùng hồ: vùng hồ dưới và vùng hồ trên, nên diện tích sử dụng thường lấn vào rừng phòng hộ đầu nguồn.

Ví dụ dự án NMTĐ tích năng Bắc Ái lấn tới 232,72ha rừng phòng hộ đầu nguồn, trong khi Nghị quyết số 49/2010/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2010 của Quốc hội nêu: “Dự án ảnh hưởng từ 50ha rừng phòng hộ đầu nguồn trở lên phải trình Quốc hội xem xét quyết định chủ trương đầu tư.”

Hai dự án thủy điện tích năng này cần phải được nghiên cứu và bố trí đầu tư xây dựng vào năm nào là hợp lý cần được xem xét kỹ, nếu như được Quốc hội thông qua.

Hai NMĐHN Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 theo Quyết định phê duyệt QHĐVII thì 2 NMĐHN này đều đưa tổ máy 1 (1000 + 1000MW) vào vận hành vào năm 2020.

Theo rất nhiều nguồn thông tin đa chiều mà VEA nhận được, trong đó có trả lời báo chí của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ thì điều này là khó hoàn thành được. VEA cũng đồng tình với ý kiến đó.

(4) Về các dự án NMNĐ chạy than

Do tiềm năng các dự án thủy điện sẽ được khai thác hết vào năm 2017, tiềm năng NLTT được đánh giá không cao và còn nhiều rào cản, các dự án nhà máy điện chạy khí, dầu chưa có hướng phát triển mạnh do hạn chế về nguồn cung cấp nhiên liệu, các dự án NMĐHN chỉ có thể đưa vào vận hành sớm nhất là năm 2020 nên không còn giải pháp nào khác QHĐVII đã lấy việc phát triển mạnh các NMNĐ chạy than để có thể đáp ứng nhu cầu đã dự báo.

Theo Quyết định Phê duyệt QHĐVII giai đoạn 2011-2020 sẽ xây dựng 36 NMNĐ chạy than với tổng công suất là 31.940MW và được phân bổ cho 19 Chủ đầu tư sau đây:

- Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) :10 dự án, với tổng công suất 9.100MW.

- Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN): 5 dự án, với tổng công suất 6.000MW.

- Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV): 4 dự án, với tổng công suất 870MW.

- 7 Chủ đầu tư IPP: 8 dự án, với tổng công suất 4.270MW.

- 8 Chủ đầu tư BOT: 8 dự án, với tổng công suất  10.500MW.

- 1 Chủ đầu tư IPP/BOT: 1 dự án, với công suất 1.200MW.

Tình hình triển khai 36 dự án NMNĐ chạy than nêu trên:

- 1 Dự án đã đưa vào vận hành thương mại: Cẩm Phả II.

- 1 Dự án đã hoàn thành, đang hiệu chỉnh nghiệm thu bàn giao cho chủ đầu tư: Uông Bí MR 2.

- 2 Dự án chưa xác định chủ đầu tư: Lục Nam và Quảng Trị.

- 1 Dự án đang đấu thầu quốc tế để chọn nhà đầu tư BOT: Nghi Sơn II.

- 31 Dự án còn lại đang thực hiện ở các bước chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư.

Đánh giá chung: hầu hết các dự án NMNĐ chạy than với nhiều nguyên nhân đều có khả năng bị chậm tiến độ so với quy định của QHĐVII.

Vấn đề cung cấp than cho điện:

Nhu cầu than cho các NMNĐ chạy than với tổng công suất 36.000MW (154,44 tỷ kWh) vào năm 2020 là 67,3 triệu tấn, trong khi sản lượng than thương phẩm sản xuất toàn ngành Than năm 2020 chỉ là 60 ~ 65 triệu tấn. Trong đó than cấp cho điện chiếm khoảng 35 - 40 triệu tấn

Dự báo than cấp cho điện sẽ thiếu hụt bắt đầu từ năm 2015 và tăng lên vào các năm tiếp theo. Lượng than thiếu phải nhập chủ yếu là các dự án NMNĐ có địa điểm xây dựng từ Hà Tĩnh trở vào các tỉnh miền Trung và miền Nam (trừ NMNĐ Vũng Áng 1 và Vĩnh Tân 1 đã được TKV giải quyết).

Đến thời điểm này các chủ đầu tư các NMNĐ than phải báo cáo được khả năng cung cấp than cho dự án của mình. VEA được biết, hiện PVN và một số chủ đầu tư khác đang tìm kiếm các hợp đồng nhập khẩu than của nước ngoài như: Australia, Indonesia.

Về giải quyết nhiên liệu than cấp cho điện: năm 2011 Chính phủ đã có quyết định giao cho ngành Than đến năm 2015 mở thêm: 28 mỏ mới (mỗi mỏ có công suất khoảng 2 triệu/ tấn/năm và nâng cấp mở rộng 61 mỏ cũ.

Nếu làm được như vậy thì lượng than sản xuất tăng lên của ngành Than phải hàng trục triệu tấn/năm đủ đảm bảo cung cấp than cho các nhà máy nhiệt điện than trong nước không những đến năm 2020 mà còn đáp ứng được một phần quan trọng sau năm 2020. Như vậy, đồng nghĩa với việc là chưa cần phải nhập khẩu than.

Vấn đề nhập khẩu than không phải là dễ, mặt khác giá than nhập khẩu cao gấp 2 lần giá than trong nước làm tăng kinh phí đầu tư cho nhà nước một cách không cần thiết.

Trong trường hợp ngành Than không thực hiện được quyết định nêu trên của Chính phủ thì nhất thiết từ năm 2015 trở đi phải tính phương án nhập khẩu than.

Vấn đề mấu chốt đối với ngành Than là phải có rất nhiều tiền (hàng chục tỷ USD) để thực hiện được quyết định nêu trên của Thủ tướng Chính phủ.

Muốn vậy, Chính phủ phải cho ngành Than một số cơ chế đặc thù như: tạo điều kiện cho ngành Than vay vốn, cấp vốn ngân sách, phát hành trái phiếu Chính phủ. Đặc biệt là nâng giá bán của than ít nhất bằng giá thành sản xuất (theo giá thị trường) để bán cho bất kỳ đối tượng khách hàng nào, như vậy ngành Than mới có lợi nhuận để tái đầu tư xây dựng các dự án mỏ mới cũng như mở rộng các dự án mỏ cũ.

NangluongVietnam

Phần 2: “Phản biện, kiến nghị của VEA về quy hoạch tổng thể hệ thống năng lượng quốc gia, tái cơ cấu ngành Điện gắn với việc xây dựng thị trường điện cạnh tranh và chính sách giá điện”



TÒA SOẠN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Phòng 406-407-408, Tòa nhà Văn phòng, số 87 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.22113344 - Fax: 024.35147193
Email: toasoan@nangluongvietnam.vn
Hotline: 0969998811 - 0969998822 - 0942632014 Trang TTĐT của Tạp chí Năng lượng Việt Nam hoạt động theo Giấy phép số: 66/GP-TTĐT, cấp ngày 30/3/2018
của Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử - Bộ Thông tin & Truyền thông.

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3