» Phản biện

Đề xuất tháo gỡ khó khăn cho ngành năng lượng Việt Nam (Phần 2-3)

11:20 |27/10/2012

 - 

Để ngành năng lượng làm tròn sứ mệnh đảm bảo cung cấp đầy đủ năng lượng cho sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước, cũng như phục vụ đời sống nhân dân, trong phần 2 của Văn bản kiến nghị, Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA) đề xuất với Trung ương Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ một số nội dung lớn, cấp bách. Đặc biệt là tính thống nhất, đồng bộ của các quy hoạch phân ngành năng lượng và chính sách giá năng lượng - những vấn đề bất cập giữa quy hoạch điện với than và quy hoạch điện với khí; xem xét bổ sung, mở rộng một số dự án điện vào Quy hoạch Điện VII vv… Dưới đây, Nangluongvietnam.vn xin đăng nguyên văn phần 2 và phần 3 của Văn bản kiến nghị.

>> Đề xuất tháo gỡ khó khăn cho ngành năng lượng Việt Nam (Phần 1)

II. Những vấn đề tồn tại cần được giải quyết trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh điện của TKV, PVN, EVN

1. Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

Qua khảo sát thực tế tại các nhà máy nhiệt điện như: Cao Ngạn, Na Dương I, Cẩm Phả I, Cẩm Phả II, và Mạo Khê, VEA có nhận xét sau:

- Từ ngày 1/7/2012 Chính phủ cho thí điểm thị trường phát điện cạnh tranh, sau một thời gian thực hiện đã bộc lộ một số mặt tồn tại.

- Theo cơ chế thị trường người mua điện sẽ chọn lựa những người bán điện có giá thấp để mua (ở phạm vị 5%). Như vậy các nhà máy thuỷ điện có giá điện thấp thì được người mua ưu tiên, còn các nhà máy nhiệt điện chạy than, khí, dầu vì giá bán cao nên bên mua cần chọn lựa và giới hạn mua vì khi đã đủ nguồn cung cấp.

- Đối với các nhà máy nhiệt điện của TKV đều được trang bị các lò hơi tầng sôi tuần hoàn và các thiết bị đồng bộ phần đuôi lò khử được bụi và các loại khí độc, đảm bảo tốt với môi trường, các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật đều đạt tốt cần được huy động tối đa công suất để đem lại hiệu quả cho ngành Điện. Nhưng thực tế công suất khai thác hầu hết của các nhà máy điện của TKV chỉ huy động được khoảng 30% công suất, nhiều tổ máy phải dừng hoạt động. Mặt khác, thời gian huy động cũng không được nhiều, mối quan hệ giữa Trung tâm điều độ AO với các nhà máy ở đây không được chặt chẽ, do đó việc ngừng máy và khởi động máy xảy ra liên tục, mỗi một lần khởi động như vậy tốn kém từ 3~4 tỷ đồng.

- Về giá mua điện

Đối với các nhà máy điện như Na Dương, Cao Ngạn được bán với giá từ trên 800 đồng/kWh; riêng nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả I, Cẩm Phả II với công suất 670MW chỉ bán được giá khoảng 800đồng/kWh. Nếu tính cả trượt giá về ngoại tệ và tính đủ giá than các nhà máy điện chạy than của TKV lỗ tới hàng nghìn tỷ đồng, có thể nói ngành Than bị lỗ kép trong việc bán than giá thấp cho ngành Điện và ngành Điện mua giá điện thấp của ngành Than

2. Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam

Sau khi khảo sát thực tế tại các nhà máy nhiệt điện Nhơn Trạch I, Nhơn Trạch II và Cà Mau I, Cà Mau II, VEA có nhận xét như sau:

- Các nhà máy điện: Nhơn Trạch I (450MW), Nhơn Trạch II (750MW) đã tham gia thị trường phát điện cạnh tranh (ở mức 5%). Đây là các nhà máy điện công nghệ chu trình hỗn hợp, hiện đại, có tỷ suất đầu tư cao, chi phí khấu hao lớn. Mặt khác, giá khí phải mua ở mức 4,8~5USD/triệu BTU cao hơn giá khí tại Trung tâm Điện lực Phú Mỹ, nên giá thành sản xuất cao (khoảng gần 1200đồng/kWh).

Giá bán điện của Nhà máy điện Nhơn Trạch I trên 1100đồng/kWh; nhà máy điện Nhơn Trạch II trên 1000đồng/kWh, cộng với trượt tỷ giá ngoại tệ nên sau quá trình tham gia thị trường phát điện cạnh tranh 2 nhà máy này đều bị lỗ. Một vấn đề khó khăn khác của các nhà máy điện này là Hợp đồng mua bán điện (PPA) chưa được ký kết chính thức (phần chi phí vận hành và bảo dưỡng mua sắm vật tư thiết bị O&M) với Công ty mua bán điện EVN.

- Hai nhà máy điện Cà Mau I và Cà Mau II (2x750MW) thuộc Công ty Điện lực Dầu khí Cà Mau (Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam) chưa tham gia thị trường phát điện cạnh tranh.

* Một số bất cập của 2 nhà máy này là:

- Giá khí từ nguồn khí lô PM3 rất cao, tới 8,96USD/triệu BTU, lô PM3 là khu mỏ khí chồng lấn với Malaysia. Giá khí cao như vậy nên giá thành sản xuất điện lên tới 9USc/kWh, trong khi giá bán điện chỉ đạt 1.100đồng/kWh, tương đương khoảng trên 5USc/kWh, làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Điện lực Dầu khí Cà Mau bị lỗ.

- Nhiên liệu cung cấp cho nhà máy không đủ cho các tổ máy vận hành tối ưu cho hệ thống, đường ống cung cấp khí chỉ thiết kế phục vụ đủ cho một nhà máy điện công suất 750MW và nhà máy đạm nên không thể cung cấp đầy đủ cho vận hành tối đa công suất của cả 2 nhà máy điện Cà Mau I và Cà Mau II tại cùng thời điểm. Trong trường hợp thiếu khí do ưu tiên cấp khí cho nhà máy đạm, hoặc xảy ra sự cố đường ống dẫn khí, hai nhà máy điện Cà Mau I và Cà Mau II phải chạy dầu FO thì giá thành sản xuất điện còn tăng cao hơn nữa. Do tổ chức sắp xếp bộ máy ở đây hợp lý nên hệ số biên chế của hai nhà máy nhiệt điện Cà Mâu chỉ là 0,173 người/MW. Từ năm 2008 đến tháng 7/2012 nhà máy nhiệt điện cà Mau I và Cà Mau II đã sản xuất được 33 tỷ kWh điện, đóng góp một lượng điện lớn cho khu vực miền Tây Nam bộ.

- Hợp đồng mua bán điện (PPA) giữa Công ty Điện lực Dầu khí Cà Mau, phần chi phí vận hành và sửa chữa và mua sắm vật tư thiết bị O&M vẫn chưa được Công ty mua bán điện EVN chấp nhận.

- Đề nghị Bộ Công Thương và PVN xem xét tổ chức lại 2 nhà máy điện Nhơn Trạch I và Nhơn Trạch II. Hiện nay nhà máy điện Nhơn Trạch I (450MW) thuộc Tổng Công ty Điện lực Dầu khí, nhà máy Nhơn Trạch II (750MW) là nhà máy điện đã được cổ phần hoá trong đó PVN chiếm trên 50% cổ phần, EVN chiếm 2,5% cổ phần; theo quyết định của Bộ Công Thương thì nhà máy điện Nhơn Trạch II là thành viên liên kết của GENCO 3 thuộc EVN. VEA đề xuất nên nhập hai công ty điện lực này lại thành một công ty có công suất là 1200MW vì hai công ty này ở gần nhau, nếu hợp nhất lại sẽ giảm được biên chế, hợp lý hóa bộ máy tổ chức, như vậy sẽ giảm được giá thành điện. Hệ số biên chế của 2 nhà máy này là 0,284 người/MW cao hơn so với hệ số biên chế của 2 nhà máy điện Cà Mau I và Cà Mau II chỉ là 0,173 người/MW.

- Đề nghị EVN chỉ đạo Công ty mua bán điện sớm ký hợp đồng với các nhà máy điện tại Nhơn Trạch và Cà Mau thuộc PVN.

3. Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Sau khi khảo sát Nhà máy nhiệt điện Ô Môn I (2x330MW); Nhà máy nhiệt điện Phả Lại (4x110MW + 2x300MW) và làm việc với Tổng công ty Phát điện, GENCO1, GENCO2 của EVN, VEA có nhận xét và đề nghị sau:

- Nhà máy nhiệt điện Ô Môn I (2 x 330MW), tổ máy 1 hiện đang hoạt động và tổ máy 2 đã được khởi công xây dựng, là nhà máy có công nghệ tuabin ngưng hơi truyền thống, cấu hình của một tổ máy, một lò hơi đốt dầu hoặc khí, 1 tuabin, 1 máy phát. Trong những năm qua nhà máy đã có những đóng góp rất lớn về việc cung cấp điện cho khu vực Cần Thơ và khu vực miền Tây Nam bộ, và phải chạy dầu FO (giá dầu cao). Do đó giá thành điện cũng cao giao động từ 3.500đ - 4.500đ/kWh. Việc nhà máy nhiệt điện Ô Môn I phải chạy dầu FO và chưa có nguồn khí do đó giá thành điện rất cao nhưng EVN vẫn phải khai thác để phục vụ cho khu vực này, vừa cung cấp điện cho sản xuất kinh doanh, vừa cải thiện được chất lượng điện của hệ thống. Ngoài ra một số nhà máy điện chu trình hỗn hợp tại Bà Rịa - Vũng Tàu, Phú Mỹ, Nhơn Trạch phải chạy dầu DO khi không có khí nên EVN đã phải lỗ tới hàng chục ngàn tỷ đồng là xác đáng. Do giá điện cao nên vừa qua nhiệt điện Ô Môn chưa tham gia thị trường phát điện cạnh tranh.

- Nhà máy nhiệt điện Phả Lại có công suất 4 x110MW + 2x300MW = 1040MW là nhà máy nhiệt điện chạy than nhiều năm qua đã đóng góp một lượng điện rất lớn cho hệ thống điện quốc gia, nay đã được cổ phần hóa, nhà máy được vận hành rất ổn định và phát huy tối đa công suất mặc dù có 4 tổ máy đã được vận hành 28 năm nay, nhưng đến nay qua duy tu bảo dưỡng các tổ máy đó vẫn hoạt động bình thường. Tuy nhiên tiêu hao than của tổ máy cũ cao hơn 1,5 lần các tổ máy mới, mặt khác tổng biên chế ở đây lên tới 1.400 người. Hệ số biên chế ở đây là rất cao, nhà máy phải nghiên cứu để tinh giảm bộ máy, nhằm giảm chi phí tiền lương từ đó hạ được giá thành v.v… Nhiều năm qua cũng như hiện tại nhà máy đang được mua than giá rẻ của Tập đoàn Than khoảng 620.000đ/tấn than. Nhà máy cần phải có phương án khi giá than tăng lên ngang giá thị trường, thì giá điện ở đây cũng phải tăng tương ứng.

- Trong nhiều năm qua EVN đã đầu tư xây dựng được nhiều nhà máy điện, trong đó đa số là các nhà máy thủy điện (lớn nhất là nhà máy thủy điện Sơn La công suất 2400MW) đã đóng góp một lượng công suất lớn cho hệ thống làm giảm tình trạng thiếu điện như trước đây. Đây là một thành tích đáng ghi nhận của EVN.

- Vốn vay đầu tư cho rất nhiều dự án của EVN là rất cao đồng nghĩa với số nợ của EVN cũng rất lớn. Do vậy hiện tại EVN đang gặp khó khăn về việc vay vốn để đầu tư các dự án trong Quy hoạch Điện VII. Cần phải có sự hỗ trợ của Chính phủ để tháo gỡ khó khăn cho EVN.

- Thị trường phát điện cạnh tranh

+ Thị trường phát điện cạnh tranh đã được triển khai từ ngày 1/7/2012 sau hơn 7 năm chuẩn bị. Tuy nhiên tham gia thị trường mới có 29 nhà máy điện chào giá trực tiếp trong tổng số 73 nhà máy điện đang vận hành thương mại trong hệ thống điện quốc gia. Ngoài ra còn nhiều nhà máy thuỷ điện < 30MW chưa tham gia thị trường phát điện.

+ Bối cảnh trong năm 2012 nền kinh tế của đất nước trong tình trạng suy thoái, điện thương phẩm của EVN bán ra cũng như của TKV, PVN và các nhà đầu tư khác chủ yếu là phục vụ cho công nghiệp. Nhưng tình trạng các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cần tới điện năng chiếm 70% điện thương phẩm thực tế trong năm nay nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa, giảm công suất, giảm việc làm, nhiều doanh nghiệp phá sản. Do đó điện bán cho khối doanh nghiệp bị hạn chế làm cho EVN thất thu hàng chục ngàn tỷ đồng.

+ Qua khảo sát các nhà máy điện của 3 Tập đoàn thì các nguồn điện chạy than được huy động với giá không cao (mức chào giá cạnh tranh là 5%) giao động từ 800 - 1.000đ/kWh) thấp hơn giá thành sản xuất, thời gian huy động của các nhà máy này cũng không cao, đặc biệt các nhà máy của TKV chỉ huy động 30-40% công suất kể cả Nhiệt điện Phả Lại của EVN cũng không huy động hết công suất.

+ Để đánh giá thị trường phát điện cạnh tranh một cách đúng đắn thì cần phải có thêm thời gian, trong đó có những năm mưa ít nắng nhiều, phụ tải tăng cao cần huy động hết công suất của các nhà máy trong cả nước …

+ Nhiều nhà máy nhiệt điện chạy than của TKV, EVN chỉ khai thác một sản lượng điện nhỏ, thời gian huy động ít làm cho các nhà máy đó đều bị lỗ, lãng phí nguồn phát của các tổ máy, doanh thu thấp không đủ tiền trả lương cho cán bộ công nhân viên.

+ Đề nghị EVN chỉ đạo Công ty Mua bán điện sớm kết thúc các hợp đồng PPA (kể cả phần O&M) với các Tổng công ty và Công ty phát điện của 3 Tập đoàn

+ Đề nghị Bộ Công Thương và EVN cho các nhà máy thủy điện có công xuất < 30MW được tham gia thị trường, mặt khác mở rộng tỷ lệ tham gia trị trường >5%.

- Giá điện

+ Vừa qua cũng như hiện nay việc hạch toán giá thành ở khâu bán buôn cũng như khâu bán lẻ (trong giá thành phải tính đầy đủ các loại chi phí như: chi phí cho truyền tải điện, chi phí cho phân phối, chi phí cho bộ máy quản lý vận hành từ trên xuống dưới, chi phí trượt giá đồng ngoại tệ, chi phí khấu hao, lợi nhuận, thuế, tổn thất điện năng và các chi phí khác, v.v). Việc tính toán để xác định giá thành 1kWh bán ra là bao nhiêu, với giá thành đó thì kể cả EVN, TKV, PVN đều không bị lỗ mà còn có lãi để tiếp tục tái đầu tư xây dựng các công trình mới theo Quy hoạch điện VII …. EVN cần sớm minh bạch và công khai giá thành giá đầu vào và giá đầu ra, lỗ lãi, để nhân dân biết từ đó việc tăng giá điện hay giảm giá điện như thế nào là hợp lý, để nhân dân đồng tình.

+ Vừa qua Bộ Công Thương thành lập 3 Tổng Công ty Phát điện (3 GENCO) trực thuộc EVN; theo đánh giá của VEA chủ trương này là hợp lý và cần thiết bởi vì cơ cấu nguồn phát điện của từng GENCO gồm có các nhà máy thủy điện, nhiệt điện than, nhiệt điện khí, nhiệt điện dầu. Chính 3 GENCO này là nơi hạch toán và xác định giá thành của từng nhà máy, cân đối bù trừ giữa giá cao và giá thấp của từng nhà máy để xác định một mức giá hợp lý khi tham gia thị trường đảm bảo sự chính xác, minh bạch và công khai.

+ EVN là ngành có truyền thống lâu đời được Bác Hồ về thăm, được Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm và đánh giá cao, với nhiều thành tích đạt được trong nhiều thập kỷ qua EVN đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng là Huân chương cao quý nhất cùng với nhiều Huân chương khác. EVN cần phấn đấu để trở thành ngành làm nòng cốt trong hệ thống điện quốc gia.

4. Những vấn đề bất cập giữa quy hoạch điện với than và quy hoạch điện với khí

Qua khảo sát thực tế VEA thấy rằng:

- Sự không thống nhất giữa quy hoạch điện và quy hoạch than:

Theo Quy hoạch Điện VII, Nhà máy nhiệt điện Na Dương II đưa vào vận hành năm 2018 trong khi đó Quy hoạch than (được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt sau Quy hoạch điện) lại quy định Mỏ than Na Dương đạt 1,2 triệu tấn/năm vào 2015, trong khi nhà máy nhiệt điện Na Dương I chỉ tiêu thụ khoảng 500.000 tấn/năm. Như vậy than sản xuất ra mà không có nơi tiêu thụ, vì loại than này chỉ có thể sử dụng cho phát điện của các nhà máy điện Na Dương I và Na Dương II.

- Sự không thống nhất giữa Quy hoạch điện và Quy hoạch khí

Theo Quy hoạch Điện VII, các nhà máy điện trong Trung tâm Điện lực Ô Môn, như Ô Môn III đưa vào vận hành năm 2015, Ô Môn IV và Ô Môn II vào vận hành năm 2016, trong khi đó Quy hoạch khí đã được Thủ tướng phê duyệt trước Quy hoạch Điện VII thì đường ống Lô B-Ô Môn dài 398km, công suất 7 tỷ m3/năm bắt đầu vận hành vào năm 2014. Như vậy khí vào Ô Môn có trước các nhà máy được xây dựng ở Ô Môn sau hai năm mới sử dụng khí ở đây sự không đồng bộ này sẽ gây ra lãng phí rất lớn.

III. Để ngành năng lượng làm tròn sứ mệnh đảm bảo cung cấp đầy đủ năng lượng cho sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước, cũng như phục vụ đời sống nhân dân, Hiệp hội Năng lượng Việt Nam xin kiến nghị tới Trung ương Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ một số nội dung sau:

1. Tính thống nhất và tính đồng bộ của các quy hoạch phân ngành năng lượng và chính sách giá năng lượng:

- VEA đề nghị Chính phủ và Bộ Công Thương chỉ đạo việc lập và triển khai thực hiện các quy hoạch phân ngành năng lượng sao cho đảm bảo tính thống nhất và tính đồng bộ. Quy hoạch phát triển điện lực phải được lập phù hợp với quy hoạch các nguồn năng lượng sơ cấp (than, dầu khí, nguyên tử) cho phát điện, bao gồm các nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo.

- Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công Thương tổ chức nghiên cứu, rà soát nhu cầu năng lượng, khả năng đáp ứng của các nguồn năng lượng trong nước, khả năng nhập khẩu một cách tổng thể và dài hạn đến năm 2020, 2030 và xa hơn, từ đó mới hoạch định chiến lược xây dựng cơ sở hạ tầng năng lượng hiệu quả.

- Về giá nhiên liệu cung cấp cho ngành năng lượng đề nghị Bộ Công Thương tổ chức nghiên cứu, soát xét một cách đồng bộ giá than, điện, dầu, khí theo giá thị trường dưới sự chỉ đạo của Chính phủ để đầu ra của giá điện được hợp lý làm cho doanh nghiệp, nhân dân đồng tình trên tinh thần các Tập đoàn trong ngành năng lượng phải có lãi để tiếp tục đầu tư phát triển.

2. Rà soát nhu cầu, khả năng cung cấp và thống nhất giá nhiên liệu cho một số nhà máy, trung tâm điện lực:

- Rà soát nhu cầu điện và khả năng cung cấp khí cho nhiệt điện Cà Mau I và II (thuộc PVN), sớm hoàn thành đường ống dẫn khí Tây Nam trước 2015, đảm bảo đủ khí, phát huy công suất thiết kế đã lắp đặt. Đề nghị Chính phủ, Bộ Công Thương chỉ đạo PVN và Tổng công ty Khí Việt Nam có cơ chế chính sách hỗ trợ giá khí đầu vào, hoặc sớm hoà giá khí chung cho các nhà máy điện sử dụng khí tại Nam Bộ. Đồng thời đẩy nhanh tiến độ các đường ống trên bờ như: đường ống Phú Mỹ - Nhơn Trạch - TP Hồ Chí Minh (giai đoạn 2), đường ống kết nối Đông Tây (Hiệp Phước - Ô Môn) và đường ống đấu nối Lô PM3 - Cà Mau với Lô B - Ô Môn.

- Rà soát nhu cầu và nguồn khí cung cấp cho Trung tâm nhiệt điện Ô Môn (thuộc EVN), gồm Ô Môn I tổ máy 1: 330MW đã xây dựng, tổ máy 2: 330MW đã khởi công 10-2012, còn các nhà máy Ô Môn II, Ô Môn III, Ô Môn IV (Tổng công suất của Trung tâm nhiệt điện Ô Môn là 2910 MW, dự kiến đưa vào vận hành các năm 2015, 2016).

- Quan tâm hơn nữa về phát triển năng lượng tái tạo:

Để thực hiện thành công chiến lược tăng trưởng xanh đã được phê duyệt, VEA kiến nghị Chính phủ, Bộ Công Thương sớm hoàn thành Luật Năng lượng mới, năng lượng tái tạo, trình Quốc hội phê chuẩn, đưa ra các Chính sách cơ chế ưu đãi đối với dự án đầu tư phát triển nhà máy điện sử dụng các nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo, (gió, mặt trời, sinh khối, sinh học, địa nhiệt, thủy triều…).

Về tiềm năng các dạng năng lượng này ở Việt Nam là phong phú ví dụ về năng lượng gió hiện nay đã có nhiều nhà máy phong điện đã và đang đầu tư xây dựng trong đó có nhà máy đã đưa vào vận hành như nhà máy phong điện Tuy Phong Bình Thuận 30MW (công suất cuối cùng là 120MW), nhà máy phong điện Bạc Liêu 13,5MW (công suất cuối cùng là 93MW), nhà máy phong điện Phú Quý 3x2MW. Nhà máy phong điện đảo Phú Quý của PVN triển khai ở huyện đảo Phú Quý không nối với hệ thống điện quốc gia, không những có ý nghĩa phát triển kinh tế xã hội cho huyện đảo mà còn nhằm vào mục tiêu đảm bảo an ninh quốc phòng, đã xây lắp xong, sẵn sàng đưa vào vận hành thương mại đang rất cần được Chính phủ và Bộ Công Thương giải quyết hỗ trợ giá bán điện.

3. Xem xét bổ sung các dự án điện vào Quy hoạch Điện VII và sớm mở rộng nhà máy nhiệt điện Na Dương 2:

- Kiến nghị Chính phủ chỉ đạo việc đánh giá lại tiềm năng dầu khí, nguồn khí và tình hình sử dụng khí tại miền Đông Nam Bộ để xem xét khả năng phát triển Trung tâm Điện lực Nhơn Trạch 2.700MW, gồm 4 nhà máy điện Nhơn Trạch I (450MW), Nhơn Trạch II (750MW), Nhơn Trạch III (750MW) và Nhơn Trạch IV (750MW) đã được nghiên cứu trước đây.

- Nhà máy nhiệt điện Phả Lại I (4x110MW) đã vận hành trên 28 năm, gần hết khấu hao, công nghệ cũ, tiêu hao than gấp 1,5 lần công nghệ mới nên vận hành kém hiệu quả. Đề nghị Bộ Công Thương chỉ đạo nghiên cứu lập dự án đầu tư xây dựng công trình nhà máy mới đưa vào vận hành năm 2020 với công nghệ tiên tiến, công suất đến 2x600MW. Tại đây diện tích mặt bằng đảm bảo để xây dựng lại tận dụng được tối đa cơ sở hạ tầng.

- Bộ Công Thương chỉ đạo TKV xúc tiến sớm việc mở rộng nhiệt điện Na Dương 2 có công suất ≥110 MW, đưa vào vận hành vào năm 2015 đồng bộ với việc phát triển mở rộng Mỏ than Na Dương nâng công suất lên 1,2 triệu tấn theo quyết định của Chính phủ. Mỏ than Na Dương đảm bảo cung cấp than trong vòng 30 năm. Xây dựng được Trung tâm điện lực Na Dương ở đây gồm nhà máy nhiệt điện Na Dương I và nhà máy nhiệt điện Na Dương II có ý nghĩa rất quan trọng về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng.

- Theo đánh giá của VEA tiến độ thực hiện các dự án trong Quy hoạch điện VII đến nay là rất chậm, chủ yếu là do không thu xếp được vốn.

+ Vậy kiến nghị với Đảng, Chính phủ, Nhà nước tạo cơ chế chính sách giúp cho ba Tập đoàn EVN, PVN, TKV và các nhà đầu tư khác sớm có đủ vốn để triển khai đúng tiến độ các dự án của Quy hoạch Điện VII.

+ Theo đánh giá của Chính phủ và PVN thì nguồn khí sẽ ngày càng ít dần do đó Đảng, Chính Phủ và PVN cần nghiên cứu việc lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng để nhập khí LNG (khí hóa lỏng).

+ Chính phủ giao cho các Tập đoàn, các nhà đầu tư xây dựng các dự án nhiệt điện than trong Quy hoạch Điện VII sớm ký hợp đồng nhập khẩu than với TKV đồng thời cũng cần quy hoạch các hệ thống cảng trung chuyển cũng như hệ thống đường xá, băng chuyền v.v… để sử dụng than nhập khẩu thuận lợi nhất.

- Với nội dung kết luận của đồng chí Tổng Bí thư tại Hội nghị Trung Ương VI khóa XI. Hiệp hội Năng lượng Việt Nam tin tưởng các cơ quan Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ sẽ có sự quan tâm sâu sát và sớm có các giải pháp, có cơ chế chính sách, để tháo gỡ những khó khăn cho các Tập đoàn nêu trên cùng với các doanh nghiệp nằm trong hệ thống năng lượng, hoàn thành tốt nhiệm vụ đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước vào năm 2020, cũng như việc cung cấp đầy đủ năng lượng cho nền kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

NangluongVietnam.vn

CÁC BÀI VIẾT BẠN ĐỌC QUAN TÂM

Không cần "giải pháp Đặng Tiểu Bình" trên Biển Đông
Chống tham nhũng, đừng dùng "bình cũ rượu cũ"
Nhật Bản sẽ chế tạo vũ khí hạt nhân để đối phó Trung Quốc?



TÒA SOẠN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Phòng 406-407-408, Tòa nhà Văn phòng, số 87 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.22113344 - Fax: 024.35147193
Email: toasoan@nangluongvietnam.vn
Hotline: 0969998811 - 0969998822 - 0942632014 Trang TTĐT của Tạp chí Năng lượng Việt Nam hoạt động theo Giấy phép số: 66/GP-TTĐT, cấp ngày 30/3/2018
của Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử - Bộ Thông tin & Truyền thông.

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3