» Phản biện

Đề xuất tháo gỡ khó khăn cho ngành năng lượng Việt Nam (Phần 1)

13:11 |25/10/2012

 - 

Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA) vừa có văn bản số 92/VBKN-VEA, ngày 24/10/2012 về việc: “Đề xuất tháo gỡ khó khăn cho ngành năng lượng Việt Nam” gửi đến Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ. Trong văn bản này VEA đề cập đến những khó khăn bất cập cần được tháo gỡ đối với lĩnh vực thăm dò khai thác, sản xuất kinh doanh của ngành Than; những vấn đề khó khăn tồn tại cần được tháo gỡ trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đầu tư xây dựng cơ bản về lĩnh vực điện của EVN, PVN, TKV và một số đề xuất và kiến nghị. NangluongVietnam.vn xin đăng nguyên văn của văn bản kiến nghị này.

Hiệp hội Năng lượng Việt Nam vừa qua đã trình lên các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ một số văn bản đó là: “Giải pháp đẩy nhanh tiến độ các dự án năng lượng của đất nước”, “Phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”.

Chúng tôi ý thức được rằng: Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) và Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) là 3 Tập đoàn kinh tế nhà nước (thành viên của VEA) đóng vai trò trụ cột; cung cấp năng lượng cho nền kinh tế đất nước đảm bảo an sinh xã hội. Ba Tập đoàn trên có nhiệm vụ phát triển bền vững và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Thời gian qua VEA đã tổ chức đoàn công tác bao gồm các giáo sư, tiến sĩ, các chuyên gia đầu ngành năng lượng đi khảo sát thực tế một số đơn vị thành viên, các nhà máy phát điện, các dự án đầu tư xây dựng, của ba EVN, PVN và TKV nhằm tìm hiểu tình hình hoạt động, những khó khăn, bất cập, vướng mắc và các nguyên nhân; trên cơ sở đó đề xuất các kiến nghị lên Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ có những cơ chế chính sách và các giải pháp để tháo gỡ vướng mắc, khó khăn, bất cập và tạo điều kiện cho các Tập đoàn nêu trên nói riêng và ngành Năng lượng nói chung phát triển nhanh, bền vững, đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng của đất nước.

Từ ngày 13/8 đến 20/9/2012 đoàn đã khảo sát các nhà máy điện, một số Công ty khai thác than ở vùng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh,…. thuộc TKV.

Tiếp đó đoàn đã đi khảo sát, tìm hiểu các nhà máy phát điện của Trung tâm Điện lực Nhơn Trạch, Trung tâm Điện lực Cà Mau thuộc PVN, sau đó đoàn đã khảo sát một số nhà máy điện như: nhiệt điện Ô Môn, nhiệt điện Phả Lại và làm việc với một số GENCO (Tổng công ty phát điện) thuộc EVN.

Với những tư liệu thông tin thu thập được làm báo cáo trình lên Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ với ba nội dung chính:

1. Những khó khăn bất cập cần được tháo gỡ đối với lĩnh vực thăm dò khai thác, sản xuất kinh doanh của ngành Than

2. Những vấn đề khó khăn tồn tại cần được tháo gỡ trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đầu tư xây dựng cơ bản về lĩnh vực điện của EVN, PVN, TKV.

3. Một số đề xuất và kiến nghị.

I. Những khó khăn bất cập cần được tháo gỡ trong sản xuất kinh doanh than của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV).

Ngành Than là một ngành kinh tế quan trọng từ ngày vùng mỏ được giải phóng (25/4/1955) Bác Hồ đặc biệt quan tâm đến ngành Than Người đã nhiều lần về thăm CBCN ngành Than tại vùng mỏ Quảng Ninh. Người đã căn dặn Ngành sản xuất than như quân đội đánh giặc; toàn thể công nhân, cán bộ phải có nhiệt tình cách mạng và tinh thần yêu nước rất cao, ý chí quyết đánh, quyết thắng rất vững, phải đoàn kết nhất trí. Phải có đầy đủ ý thức làm chủ Nhà nước làm chủ xí nghiệp, vượt qua mọi khó khăn nhằm vào mục đích chung là sản xuất thật nhiều than cho Tổ quốc”.

Trong nhiều thập kỷ qua ngành Than đã từng bước phát triển đi lên đạt được rất nhiều thành tích to lớn, luôn luôn hoàn thành suất sắc nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước giao. Năm 1996 ngành Than được Nhà nước tặng thưởng huân chương Sao Vàng là huân chương cao quý nhất của Đảng và Nhà nước. Năm 2005 ngành Than được phong tặng danh hiệu anh hùng lao động thời kỳ đổi mới. TKV là một trong ba Tập đoàn kinh tế mạnh đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Nhưng đến nay với nhiều lý do khác nhau, ngành Than đang đứng trước những khó khăn, bất cập khó vượt qua được để tiếp tục giữ vững vị thế của mình.

Từ đó VEA đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo về ngành năng lượng trong đó có ngành than, các hội thảo chuyên đề của Uỷ ban Kinh tế Quốc hội, Uỷ ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, phối hợp với hội đồng Dân tộc, Hội khoa học và Công nghệ Mỏ. VEA đã nắm được các chỉ tiêu lớn của ngành than trong 5 năm qua và hiện nay như sau:

1. Tình hình tài nguyên, trữ lượng và điều kiện khai thác

- Tại Bể than Đông Bắc, kết quả điều tra thăm dò và tính toán của các cơ quan chức năng, tổng tài nguyên và trữ lượng than còn lại ở vùng mỏ Quảng Ninh đến tận đáy của tầng than là khoảng 8,8 tỷ tấn, trong đó trữ lượng (chắc chắn và tin cậy) là 1.983 triệu tấn, tài nguyên dự tính 1.957 triệu tấn và tài nguyên dự báo 4.887 triệu tấn.

Điều kiện khai thác tại các mỏ than ngày càng phức tạp, khó khăn. Tỷ lệ than khai thác hầm lò đã, đang tăng lên và khai thác than lộ thiên giảm đi. Cụ thể, đối với mỏ than lộ thiên Núi Béo sẽ ngừng khai thác vào năm 2018, các mỏ: Cọc Sáu, Đèo Nai, Cao Sơn sẽ kết thúc khai thác vào năm 2025 hoặc sau năm 2025 và chủ yếu chỉ còn lại khai thác than hầm lò. Chính vì vậy, chi phí cho khai thác các mỏ tăng lên rất cao, do tăng thêm hệ số bóc đất đá, cung độ vận chuyển tại các mỏ than lộ thiên, tăng chi phí đào lò, chi phí đảm bảo an toàn mỏ (nhất là phòng chống cháy nổ, bục khí, bục nước, chi phí bảo vệ môi trường).

Giá thành sản xuất than của năm 2012 là khoảng 1.248.000đ/tấn; do sản lượng giảm nên dự kiến thực tế có thể tăng lên gần 1,3 triệu đồng/tấn.

- Bể than Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH), theo nhiều báo cáo đánh giá đưa ra con số về tổng tài nguyên và trữ lượng than địa chất là khoảng 210 tỷ tấn. Tuy nhiên, theo đánh giá trữ lượng than có khả năng khai thác ở vùng than ĐBSH chỉ khoảng 30 - 40 tỷ tấn. Song, cho đến nay việc thăm dò than vùng ĐBSH chủ yếu là ở mức độ “tìm kiếm”, số liệu về trữ lượng than chưa có con số chính xác.

Có thể nói, từ khi phát hiện ra có than dưới ĐBSH, vấn đề làm thế nào khai thác được nguồn tài nguyên này để phục vụ cho lợi ích của đất nước luôn thường trực trong giới chuyên gia ngành Than nói riêng và ngành năng lượng nói chung. Với điều kiện địa chất thủy văn, địa chất công trình rất phức tạp, lại nằm dưới vùng đồng bằng trù phú, thành phố, làng mạc, khu công nghiệp, dân cư đông đúc, có truyền thống văn hóa lâu đời, việc khai thác và phát triển bể than ĐBSH nhất thiết phải có những bước đi thận trọng và chắc chắn.

2. Năng suất lao động khai thác than còn thấp

Khó khăn lớn nhất của ngành than hiện nay là năng suất lao động thấp. Việc cơ giới hóa đồng bộ của ngành Than trong những năm qua mới chỉ đạt 2,8%, còn lại là bán cơ giới hóa từng phần và lao động thủ công. Theo đánh giá của VEA, địa chất khai thác than ở Quảng Ninh và vùng Đông Bắc rất phức tạp, không như việc khai thác ở các quốc gia khác trên thế giới. Việc đầu tư công nghệ mới cũng như việc đầu tư cơ giới hóa để giảm nhẹ sức lao động của công nhân nâng cao mức độ an toàn, hệ số thu hồi tài nguyên và tăng năng suất lao động trong khai thác than, trong thời gian qua tuy đã được ngành Than quan tâm và có nhiều cố gắng thực hiện nhưng còn nhiều nguyên nhân nên vẫn chưa đáp ứng nhu cầu dẫn đến năng suất khai thác thấp, giá thành sản xuất than tăng cao.

Kinh nghiệm thực tiễn đã chứng minh rằng, phát triển bền vững chỉ có thể thực hiện được bằng cách đổi mới công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật theo hướng hiện đại hóa, cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hóa… trong sản xuất và khai thác than đảm bảo an toàn, thân thiện với môi trường, tiết kiệm tiêu hao vật tư, năng lượng, tận thu tài nguyên, nâng cao năng suất chất lượng hiệu quả. Ngoài sự lỗ lực của ngành than cần có sự đột phá mới về cơ chế chính sách của Chính phủ của các bộ, ngành, giúp cho ngành Than tháo gỡ được những khó khăn nêu trên.

3. Vốn đầu tư cho phát triển ngành Than là một vấn đề lớn

Theo kế hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đến năm 2015 ngành Than phải đạt sản lượng khai thác 55 triệu tấn than sạch (tương đương với 58 - 60 triệu tấn than nguyên khai) để đáp ứng nhu cầu than cho nền kinh tế. Trong khi đó điều kiện khai thác hiện nay tại các mỏ lộ thiên đang xuống sâu nên bắt buộc phải tăng khai thác than hầm lò. Để đáp ứng được lượng than 55 triệu tấn vào năm 2015 thì phải khai thác được thêm 20 triệu tấn than nguyên khai nữa, như vậy có nghĩa là ngành Than phải xây dựng tối thiểu là 10 mỏ mới với công suất từ 2 triệu đến 2,5 triệu/năm, nằm trong tổng số 28 mỏ mới mà Chính phủ đã giao.

Ngành Than cho biết những khó khăn, vướng mắc để triển khai việc này như sau: Một là, hiện tại việc cấp phép khai thác, cấp phép thăm dò còn vướng mắc: còn các mỏ than sau (mỏ Na Dương, mỏ Khánh Hòa, Núi Hồng, Nông Sơn) chưa được cấp giấy phép khai thác; tại vùng Quảng Ninh diện tích cộng lại chưa cấp phép là 147,643km2; phần diện tích đã cấp phép khai thác nhưng chiều sâu cần cấp phép thăm dò và cấp phép khai thác thử nhiệm. Hai là, thời gian xây dựng một mỏ hầm lò mới với công suất từ 2 triệu tấn đến 2,5 triệu tấn/năm phải mất từ 6 -7 năm. Với số vốn đầu tư khoảng 300 triệu USD – 350 triệu USD cho một mỏ thì số tiền cần cho trước mắt để xây dựng được 10 mỏ mới là 3,5 tỷ USD nếu xây hết cả 28 mỏ mới, mở rộng 61 mỏ cũ thì vốn cần đầu tư tới hàng chục tỷ USD, nhưng hiện tại ngành Than đang thiếu vốn trầm trọng do giá than bán cho điện rất thấp (dưới giá thành), sản lượng và giá bán than xuất khẩu giảm, trong đó khi giá thành khai thác tăng cao nên không có lãi và không đủ điều kiện để thực hiện chủ trương đầu tư phát triển nêu trên.

Nếu không có những đột phá mới về cơ chế chính sách của Nhà nước, Chính phủ thì hậu quả đến năm 2015, năm 2020 sẽ không đủ than cung cấp cho hàng chục nhà máy nhiệt điện chạy than với tổng công suất là 36.000MW nằm trong Quy hoạch điện VII đã được Thủ tướng phê duyệt chưa nói tới không đủ than phục vụ cho các ngành kinh tế khác…

4. Sử dụng nguồn than chưa hợp lý và những khó khăn trong kế hoạch nhập khẩu than

Trong thực tế lượng than khai thác nhiều nhất là than cám 6, cám 6A, cám 6B… nhưng trong lúc đó các nhà máy nhiệt điện chạy than đang sử dụng nhiều loại than cám 5, than cám 4B còn các nhà máy ngành xi măng có nơi đang sử dụng than cám 3. Điều này nói lên các nhà máy nhiệt điện than cần đổi mới công nghệ lò hơi bằng các lò hơi sử dụng được các loại than xấu nêu trên cũng như các nhà máy xi măng, các nhà máy hóa chất cần đổi mới công nghệ để sử dụng các loại than tương tự. Bộ Công Thương, Bộ Khoa học & Công nghệ cần có chỉ đạo các Tập đoàn, các Tổng công ty, các doanh nghiệp trong nước làm việc với ngành Than để biết được nhà máy của mình cần sử dụng loại than nào mà ngành Than có khả năng cung cấp kể cả trước mắt và lâu dài từ đó cần đổi mới công nghệ và thiết bị để đảm bảo sử dụng hợp lý nguồn than trong nước sản xuất.

Hiện nay Nhà nước giao cho ngành Than ngoài việc khai thác than trong nước, còn phải có nhiệm vụ nhập khẩu than để cung cấp cho nhu cầu tiêu thụ của các ngành kinh tế trong nước đặc biệt là ngành Điện. Tuy nhiên, hiện nay chưa có hộ sử dụng than nào đến ký hợp đồng nhập khẩu than với số lượng than là bao nhiêu, than loại gì, thời gian nào... với ngành Than vì vậy mặc dù ngành Than đã đi thăm dò một số nước có khả năng xuất khẩu than như: Indonesia, Australia và một số nước khác và được biết việc mua than của các nước này là không đơn giản đặc biệt là than dùng cho các nhà máy nhiệt điện. Trong lúc đó theo tính toán của Quy hoạch điện VII và theo nhiệm vụ của Chính phủ giao thì từ năm 2015 đã phải nhập khẩu than rồi và đến năm 2020 than cần cho điện tối thiểu khoảng 67 triệu tấn/năm than tiêu chuẩn.

5. Những khó khăn bất cập trong sản xuất và tiêu thụ than

- Tiêu thụ trong nước và xuất khẩu than giảm

Tiêu thụ than trong nước giảm mạnh, dự kiến năm 2012 chỉ đạt khoảng 24 triệu tấn, giảm 5 triệu tấn so với kế hoạch.

Than xuất khẩu cũng đang giảm mạnh, tháng 7/2012 chỉ bán được 300.000 tấn, bằng 25% bình quân 1 tháng đã thực hiện trước đây.

Tổng sản lượng than tồn kho tính đến ngày 31/7/2012 là 9 triệu tấn, cao nhất từ trước đến nay. Nhưng chưa có phương án để tiêu thụ.

Dự kiến, cả năm 2012 tổng sản lượng than tiêu thụ chỉ đạt khoảng hơn 39 triệu tấn.

Trước tình hình trên TKV đã chỉ đạo các đơn vị giảm sản lượng sản xuất và tiêu thụ 6,5 triệu tấn than (bằng 15%) so với kế hoạch đầu năm.

- Giá than

Giá than trong nước thấp, đặc biệt giá than bán cho điện quá thấp (cho đến nay chỉ đạt khoảng 55% giá thành). Giá bán xuất khẩu hiện đã xuống thấp tới mức kỷ lục: Than cám 8B-HG giảm 36%, than cục 4A-HG giảm 24%, than cám 11A-HG giảm 25% và than cám 9B-HG giảm 25%.

Theo quy định về Pháp lệnh giá, giá than được vận hành theo cơ chế thị trường, đặc biệt Chính phủ đã cho phép thị trường hoá giá than trong nước từ cuối năm 2009 với mức giá thấp hơn giá xuất khẩu tối đa 10%; riêng giá than cho điện đảm bảo đến năm 2010 thực hiện theo cơ chế thị trường (Thông báo số 244/TB-VPCP ngày 11/8/2009).

Nhưng trên thực tế, lộ trình này đã triển khai rất chậm so với dự kiến; gần đây Chính phủ đã cho phép tăng giá nhưng với mức tăng lần này giá than bán cho điện cũng chỉ bằng 70% giá thành. Do giá bán than trong nước thấp hơn nhiều so với giá thành nên lâu nay hàng năm TKV phải bù lỗ cho các hộ tiêu thụ trong nước đặc biệt là đối với các nhà máy điện với số tiền là hàng chục ngàn tỷ đồng.

- Các loại phí, thuế áp dụng cho ngành Than

+ Trong điều kiện than sản lượng tiêu thụ trong nước và xuất khẩu giảm, giá bán than thấp và giá xuất khẩu giảm như đã nói ở trên thì ngược lại các chính sách thuế, phí đối với ngành Than lại ngày càng cao. Ví dụ ngoài các khoản thuế như: thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuế đất, ngành Than còn có:

+ Thuế tài nguyên tăng từ 1% lên 3%, nay tăng lên 5% đối với than hầm lò và từ 2% lên 5%, nay tăng lên 7% đối với than lộ thiên (thuế tài nguyên đã tăng từ 230 tỷ đồng năm 2007 lên 2.990 tỷ đồng năm 2011).

+ Thuế xuất khẩu tăng từ 0% lên 10%, 15% và vừa qua lên 20%. Mặc dù hiện nay Chính phủ đã giảm xuống còn 10% như vậy vẫn cao so với các nước trong khu vực và đặc biệt so với những khó khăn mà ngành Than đang gặp phải.

+ Lệ phí cấp giấy phép thăm dò, lệ phí cấp phép khai thác.

+ Hoàn trả chi phí điều tra cơ bản địa chất và chi phí thăm dò.

+ Ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường.

+ Phí bảo vệ môi trường tăng từ 6 lên 10 ngàn đồng/tấn than nguyên khai, bổ sung thêm thuế bảo vệ môi trường 20.000VNĐ/tấn.

+ Tiền cấp quyền khai thác (như sẽ phân tích thêm dưới đây).

+ Phí nước thải.

- Một số bất cập của việc thu tiền cấp quyền khai thác áp dụng theo quy định của Luật Khoáng sản là:

+ Trùng lặp với thuế tài nguyên theo quy định của Luật thuế Tài nguyên.

+ Doanh nghiệp vừa phải hoàn trả chi phí điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản và chi phí thăm dò khoáng sản lại vừa phải nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản nhằm dùng để điều tra cơ bản địa chất.

+ Với các quy định hiện hành trên thực tế đang biến quy định “đấu giá cấp quyền khai thác khoáng sản” của Luật Khoáng sản trở thành “đấu giá mua mỏ”. Điều đó không những đi ngược lại yêu cầu của Luật Khoáng sản là “Khai thác khoáng sản phải lấy hiệu quả kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường làm tiêu chuẩn cơ bản để quyết định đầu tư”.

+ TKV ước tính chỉ riêng đối với tài nguyên than (tạm tính Q = 3 tỷ tấn) phải nộp hàng chục ngàn tỷ đồng/lần. Điều đó đồng nghĩa với việc đẩy TKV vào chỗ phá sản .

6. Đời sống của người lao động ngành Than, qua đợt khảo sát này, VEA có nhận xét và đề nghị sau:

Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam hiện tại có khoảng 140 ngàn lao động, trong đó tại khu vực Quảng Ninh có khoảng 110 ngàn người lao động. Nếu tình hình khai thác, sản xuất kinh doanh than theo chiều hướng giảm sút thì số lao động bị ảnh hưởng lớn nhất gồm khoảng 110 ngàn người có khả năng bị giảm việc làm, giảm thu nhập cùng với 460 ngàn người là vợ con và gia đình họ đi theo cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ.

Điều kiện lao động của người công nhân ngành Than đang gặp nhiều khó khăn đặc biệt đối với công nhân khai thác hầm lò hết sức khắc nghiệt thương xuyên tiềm ẩn các nguy cơ, rủi ro đến tính mạng của họ. Những năm tới đây việc khai thác than hầm lò ngày càng xuống sâu hơn đòi hỏi người lao động phải làm việc với cường độ cao cũng như phải chịu đựng môi trường khắc nghiệt. Hàng năm việc đào lò để phục vụ cho việc khai thác than có tổng chiều dài lên tới 320km, tỷ lệ khai thác than lộ thiên bây giờ chỉ còn 40-45%, còn khai thác than hầm lò trên 50% và sẽ còn tăng hơn nữa. Trong đó có một số mỏ than như: Mạo Khê, Dương Huy, v.v có khí Mêtan (CH4, CO, SO2, NOx, v.v.) rất nguy hiểm, rất độc hại. Mặc dù ngành Than đã có nhiều biện pháp để khắc phục hạn chế các loại khí nguy hiểm, chất độc hại trong khai thác hầm lò, nhưng không thể đảm bảo triệt để được.

- Chế độ đối với công nhân khai thác than

Nhiều lần TKV đã có văn bản gửi Nhà nước đề nghị hỗ trợ cho công nhân làm than một số chế độ để bù đắp sức lao động của họ bỏ ra như: phụ cấp độc hại, phụ cấp thâm niên,… nhưng chưa được Nhà nước giải quyết.

Tuổi về hưu theo đúng chế độ của công nhân TKV đã đề xuất thời gian làm việc là 25 năm đóng bảo hiểm chứ không phải là 30 năm theo quy định và tuổi đời là 50 năm, nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết.

- Lương bình quân, gia đình và nhà ở của công nhân ngành than

Người công nhân lao động ngành Than làm việc trong điều kiện khó khăn cực nhọc như vậy nhưng hiện nay lương bình quân chỉ được khoảng 7 triệu đồng/tháng. Người thợ lò phải nuôi theo 3 -4 người của gia đình họ với đồng lương đó cả gia đình họ không đủ sống chứ chưa nói là đãi ngộ, thu hút.

Năm 2012 đã có 1500 công nhân thợ lò bỏ việc. Trước đây việc tuyển công nhân thợ lò là ở các tỉnh khu vực miền Bắc như Thái Bình, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương…. Nay ở những vùng này không tuyển được ai nữa mà phải đi vào vùng sâu, vùng xa và các tỉnh miền Trung để tuyển. Với tình trạng thu nhập thấp có nhiều công nhân vào làm được một thời gian ngắn rồi bỏ đi nơi khác, gây ra tình trạng luôn luôn thiếu công nhân hầm lò và tổn thất lớn về chi phí đào tạo và tuyển dụng. Đây là một báo động hết sức lo lắng.

Việc giải quyết được công ăn việc làm, nhà ở, trường học, bệnh xá… cho vợ con của công nhân khai thác than nói chung, nhất là khai thác hầm lò là một vấn đề lớn mặc dù TKV đã có nhiều cố gắng, như tạo quỹ đất, hỗ trợ một phần kinh phí để xây dựng nhà cửa, trường học, trạm xá… nhưng cũng chỉ đáp ứng được một phần nhỏ.

Với tình hình sản xuất kinh doanh than đang có chiều hướng ngày càng khó khăn, phức tạp, lượng than tồn kho cao, xuất khẩu ngày càng khó khăn, phí và lệ phí ngày càng đè nén, gây nguy cơ thua lỗ, một số chủ trương không được thực hiện, đời sống CBCNV ngày càng khó khăn, lợi nhuận không đủ để phục vụ cho công tác đầu tư phát triển. Trước tình trạng này ngành Than sẽ khó hoàn thành được nhiệm vụ Đảng, Nhà nước, Chỉnh phủ giao trước mắt cũng như trong tương lai tới.

7. Một số đề nghị của VEA

- Chính phủ cần khẩn trương chỉ đạo Bộ Tài Nguyên và Môi Trường kịp thời cấp phép thăm dò và cấp phép khai thác, kể cả cấp phép khai thác thử nghiệm tại bể than ĐBSH cho ngành Than để triển khai công tác thăm dò, đầu tư cải tạo mở rộng các mỏ hiện có và xây dựng các mỏ mới như như trong Quy hoạch phát triển ngành than đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

- Chính phủ cần xem xét có cơ chế chính sách điều chỉnh giảm kịp thời một số loại thuế và các loại phí như đã nêu trên, tạo điều kiện cho ngành Than sản xuất kinh doanh không bị lỗ, tiến tới có lãi để có khả năng tích lũy vốn đầu tư phát triển, giữ vững được truyền thống của Ngành.

- Về công tác đấu thầu xây dựng các dự án khai thác mỏ, nhất là cung cấp sản phẩm cơ khí, mua sắm vật tư thiết bị tự sản xuất trong Ngành, lựa chọn tư vấn cho phép ngành Than được chỉ định thầu giúp cho việc rút ngắn thời gian trong đầu tư xây dựng các mỏ mới cũng như cải tạo các mỏ cũ, đồng thời tạo điều kiện phát huy nguồn nội lực trong Ngành, trong nước.

- Đề nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xem xét giải quyết chế độ về nghỉ hưu của công nhân hầm lò là đủ thời gian lao động 25 năm đóng bảo hiểm, tuổi về hưu là 50 năm.

- Chính phủ cần tạo chính sách và cơ chế về tài chính cho các đề tài nghiên cứu khoa học, công tác tư vấn được hưởng hiệu quả làm lợi của các dự án áp dụng kết quả nghiên cứu. Kinh phí đó sẽ tái đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ (khoa học và công nghệ là một vấn đề quan trọng cần được tập trung và được quan tâm đúng mức, đặc biệt đối với ngành Than như kết luận của đồng chí Tổng Bí thư tại Hội nghị Trung ương VI khoá XI).

- Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ cần quan tâm đến quy hoạch ngành Than ở tầm chiến lược, quy hoạch dài hạn, nằm trong phân ngành Năng lượng, trên cơ sở đó Chính phủ sẽ có chủ chương, chính sách về đầu tư, về giải quyết vốn, về đào tạo và nâng cao trình độ năng lực của cán bộ công nhân ngành Than để đáp ứng được nhu cầu phát triển ngày càng lớn.

- Trước mắt để thực hiện quyết định Chính phủ giao cho ngành Than từ nay tới năm 2015 phải đầu tư xây dựng 28 mỏ mới công suất mỗi mỏ từ 2 triệu đến 2,5 triệu tấn/năm đồng thời cải tạo và mở rộng 61 mỏ cũ, theo tính toán nêu trên thì ngành Than phải có hàng chục tỷ USD, hiện tại ngành Than không đủ vốn, kể cả vốn đối ứng để đi vay. Vậy đề nghị Đảng, Chính phủ, Nhà nước xem xét có cơ chế chính sách và các giải pháp thích hợp để tạo số vốn nêu trên cho ngành Than đầu tư phát triển.

- Đề nghị Nhà nước, Chính phủ hỗ trợ thủ tục, kinh phí để TKV triển khai sớm công tác thăm dò và việc thử nghiệm khai thác một vài địa điểm ở bể than ĐBSH để có cơ sở đánh giá về trữ lượng cũng như về khả năng khai thác than ở khu vực này. Vấn đề này theo Luật Khoáng sản khuyến khích cả các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước đầu tư cho việc điều tra đánh giá tổng thể. Nhà nước chỉ cần có cơ chế cho phép ngành Than thay đổi trình tự làm thử nghiệm công nghệ trước (nếu thử nghiệm thành công thì tiến hành điều tra đánh giá tổng thể), như vậy sẽ tiết kiệm được nguồn vốn cho Nhà nước.

NangluongVietnam.vn

Đề xuất tháo gỡ khó khăn cho ngành năng lượng Việt Nam (Phần 2-3)

BÀI VIẾT BẠN ĐỌC QUAN TÂM

Nhật Bản sẽ chế tạo vũ khí hạt nhân để đối phó Trung Quốc?
Tiêu xài dàn trải, lấy gì tăng lương?
Phản đối nhóm nghiên cứu đường lưỡi bò
Giáo sư Trần Văn Thọ: Đâu người anh hùng thời nay?
Trung Quốc thay tướng lĩnh cao cấp trước thềm Đại hội 18



TÒA SOẠN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Phòng 406-407-408, Tòa nhà Văn phòng, số 87 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.22113344 - Fax: 024.35147193
Email: toasoan@nangluongvietnam.vn
Hotline: 0969998811 - 0969998822 - 0942632014 Trang TTĐT của Tạp chí Năng lượng Việt Nam hoạt động theo Giấy phép số: 66/GP-TTĐT, cấp ngày 30/3/2018
của Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử - Bộ Thông tin & Truyền thông.

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3