Nhận định - Phản biện

Phản biện, kiến nghị chính sách phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (Phần 3)

05:00 |16/07/2012

 - 

Trong các kỳ trước, NangluongVietnam đã chuyển đến bạn đọc về những đánh giá của Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA) trong việc thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng điện lực của Việt Nam đến năm 2020, nhận định chung về hạ tầng năng lượng Việt Nam, tóm tắt mục tiêu, nhu cầu vốn đầu tư của QHĐVII… (Phần 3) trên cơ sở dự báo nhu cầu điện đến năm 2020,  VEA đưa ra kiến nghị về cơ sở hạ tầng điện lực Việt Nam đến năm 2020, quy hoạch tổng thể hệ thống năng lượng Việt Nam, sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng, phát triển năng lượng tái tạo, dự án nhà máy điện sử dụng than nhập và khí LNG nhập, khai thác Bể than đồng bằng sông Hồng, nhiệm vụ của EVN trong giai đoạn thực hiện thị trường phát điện cạnh tranh, thị trường bán buôn, đặc biệt là bộ máy chỉ đạo thực hiện Quyết định Phê duyệt QHĐVII của Thủ tướng Chính phủ…

>> Phản biện, kiến nghị chính sách phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (Phần 1)

>> Phản biện, kiến nghị chính sách phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (Phần 2)

4. Kiến nghị của Hiệp hội Năng lượng Việt Nam

4.1. Dự báo nhu cầu điện đến năm 2020

Nghiên cứu đáp ứng một cách chính xác dự báo nhu cầu điện của Việt Nam đến năm 2020 trên cơ sở một kịch bản khả thi nhất của nền kinh tế - xã hội nước ta vào năm đó đáp ứng mục tiêu đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng phát triển hiện đại được Chính phủ phê duyệt.

Chỉ trong trường hợp dự báo nhu cầu điện trung hạn (2020) đảm bảo là chính xác thì nhu cầu điện dài hạn (2030) mới có đủ độ tin cậy.

4.2. Cơ sở hạ tầng điện lực Việt Nam đến năm 2020

Mục tiêu của QHĐVII đến năm 2020 phải xây dựng được 75.000MW công suất điện.

Trong hàng mấy thập kỷ qua, kể từ ngày thống nhất đất nước đến nay nước ta chỉ mới xây dựng được khoảng trên 26.000MW công suất điện, như vậy chỉ còn hơn 8 năm nữa phải xây dựng thêm 49.000MW đây là vấn đề rất lớn, khó thực hiện được, mặc dù giai đoạn này có tới 19 chủ đầu tư.

VEA đề nghị xem xét điều chỉnh lại một cách hiện thực và hợp lý, rà soát từng dự án một, nếu dự án nào cho đến nay triển khai chậm từ bước chuẩn bị đầu tư, bước thực hiện đầu tư cho đến khi hoàn thành. Mỗi một dự án như vậy, đặc biệt là các dự án nhiệt điện chạy than có tổ máy 600MW, hoặc điện hạt nhân thời gian đầu tư xây dựng không dưới 7-8 năm, với điều kiện là không gặp khó khăn gì. Trong trường hợp những dự án nào không đảm bảo tiến độ thì phải chuyển sang giai đoạn sau 2020.

Theo Phụ lục I và Phụ lục III của Quyết định Phê duyệt QHĐVII, chỉ giữ lại các dự án thủy điện, nhiệt điện chạy khí, nhiệt điện chạy than đã có chủ trương đầu tư, đã giải quyết được nguồn vốn, dự án đầu tư đã được phê duyệt, đáp ứng được tiến độ quy định.

Riêng đối với các dự án nhiệt điện sử dụng than nhập khẩu các Chủ đầu tư phải báo cáo đã ký hoặc sẽ ký được hợp đồng mua bán than. Từ đó xác định lại tổng công suất, điện năng phát của các nguồn điện và cơ cấu các loại nguồn đến năm 2020.

Trong trường hợp các nguồn điện sau soát xét không đáp ứng được nhu cầu điện đã xác lập lại, VEA kiến nghị: phát triển mạnh các nhà máy điện gió; phát triển 2 dự án NMNĐ chạy than của TKV là Hải Phòng III (2x600 + 2x600MW) và Quỳnh Lập I (2x600MW) đưa vào vận hành trước năm 2020, TKV tự cân đối để giải quyết than nội địa. Nếu được chấp thuận sẽ tăng được đầu tư công suất điện cho TKV, vì trong giai đoạn 2011 - 2020 tổng công suất của 4 NMNĐ của TKV quá nhỏ - chỉ có 870MW.

4.3. Quy hoạch tổng thể Hệ thống năng lượng Việt Nam

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công Thương chủ trì tổ chức xây dựng Quy hoạch tổng thể Hệ thống năng lượng Việt Nam để làm cơ sở cho việc xây dựng các quy hoạch phát triển các phân ngành trước khi phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành điện.

4.4. Sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng

Một vấn đề quan trọng được đặt ra là phải đẩy mạnh việc sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng nói chung, điện năng nói riêng.

Có thể nói Việt Nam là nước sử dụng năng lượng điện kém hiệu quả và rất lãng phí, do đó cần phải có những chính sách cụ thể, những chế tài cụ thể cùng nhiều biện pháp triển khai đồng bộ về việc sử dụng hiệu quả tiết kiệm điện năng từ trên xuống dưới và trong nhân dân.

Một số biện pháp: như cơ cấu hợp lý ngành nghề sản xuất, xây dựng định mức sử dụng điện cho từng hộ sử dụng, đổi mới công nghệ, đổi mới thiết bị, công tác kiểm tra giám sát, công tác tuyên truyền giáo dục trong toàn dân, có thưởng, có phạt…

Một vấn đề nữa phải đặt ra là cần tích cực đề ra các biện pháp để giảm tổn thất điện năng (tổn thất kỹ thuật, tổn thất thương mại) tổn thất đang từ 11% hiện nay xuống còn 5-7% vào năm 2020.

Nếu làm được những vấn đề nêu trên thì tiết kiệm được một lượng tiền khổng lồ cho nhà nước và không gây sức ép cho việc phải dồn dập xây dựng nhiều nhà máy phát điện để đáp ứng nhu cầu điện.

4.5. Phát triển năng lượng tái tạo

Chính phủ sớm đưa ra các chính sách, cơ chế khuyến khích hỗ trợ phát triển NLTT, nâng tỷ lệ điện năng sản xuất từ nguồn năng lượng sạch này cao hơn mức đề ra tại Quyết định Phê duyệt QHĐVII, trước mắt cần xác định chính xác tiềm năng của từng dạng NLTT (gió, mặt trời, sinh khối - khí sinh học, địa nhiệt, thủy triều…) của nước ta, từ đó xây dựng mục tiêu khai thác hiệu quả.

Tiềm năng NLTT của Việt Nam được đánh giá là phong phú, đặc biệt tiềm năng gió là rất lớn, có thể khai thác được hàng chục ngàn MW, do vậy, nếu như có giá điện hợp lý, có một số chính sách khuyến khích nhà đầu tư như: thuế, cấp đất… thì điện gió có khả năng phát triển ở mức cao hơn.

4.6. Dự án nhà máy điện sử dụng than nhập và khí LNG nhập

Việc sử dụng than nhập, hay LNG cần được nghiên cứu trong Quy hoạch tổng thể, tuy nhiên, để có một số định hướng bước đầu đề nghị Chính phủ giao Bộ Công Thương chủ trì tổ chức nghiên cứu so sánh toàn diện trên một mặt bằng chung các nội dung bao gồm: thị trường, vận chuyển, cảng biển - kho bãi, địa điểm xây dựng nhà máy điện, sử dụng công nghệ phát điện (nhà máy nhiệt điện ngưng hơi thuần túy truyền thống, nhà máy điện chu trình hỗn hợp), đường dây truyền tải điện, phương thức vận hành nhà máy điện trong hệ thống điện quốc gia, bảo vệ môi trường… để tìm ra giải pháp hợp lý giữa 2 phương án nhập nhiên liệu: than và khí LNG (khí hóa lỏng); từ đó xác định lại cơ cấu nguồn nhiệt điện đảm bảo độ tin cậy cho giai đoạn 2021 - 2030.

4.7. Khai thác Bể than đồng bằng sông Hồng

Chính phủ cần thúc đẩy việc giao cho ngành than tích cực, khẩn trương khảo sát thăm dò khu vực bể than Sông Hồng, nếu xác định được khu vực nào có trữ lượng than khai thác được bằng hầm lò thì nghiên cứu để chuẩn bị đầu tư xây dựng, khu vực nào khai thác bằng khí hóa than cũng cần được nghiên cứu khảo sát kỹ. Cần thiết mời chuyên gia nước ngoài tham gia để có điều kiện triển khai tốt hơn.

4.8. Các dự án thực hiện cơ chế đấu thầu (đặc biệt là tổng thầu EPC)

Trong thời gian qua nhiều dự án không thực hiện đúng cơ chế đấu thầu của nhà nước đề ra, mà chủ yếu là đưa ra đấu giá, do đó dẫn tới lựa chọn một số nhà thầu (kể cả nhà thầu cho vay vốn) không đủ năng lực, không đủ kinh nghiệm, chất lượng thiết bị kém, chuyên gia thí nghiệm hiệu chỉnh đồng bộ kém, dẫn tới một số dự án bị kéo dài tiến độ và chất lượng dự án không tốt sẽ gây hậu quả xấu cho sau này.

Từ đó việc triển khai các dự án QHĐVII cần tuân thủ đúng quy chế đấu thầu, trong đó cần lưu ý năng lực của nhà thầu, kinh nghiệm của nhà thầu, chất lượng thiết bị, cần sử dụng thiết bị phải nhập ngoại như lò hơi, tua bin, máy phát, trung tâm điều khiển thì nên nhập ở các nước từ G7 và các nước phát triển, còn lại các cấu kiện thiết bị trong nước sản xuất được thì giao cho trong nước cung cấp (có thể chia thành nhiều gói thầu). Các gói thầu trong nước sản xuất thì nên được chỉ định thầu, như vậy ngành cơ khí Việt Nam mới có điều kiện phát triển.

Nhà thầu nước ngoài trúng thầu chỉ đưa chuyên gia sang hướng dẫn chỉ đạo, giám sát… còn công việc xây dựng và lắp đặt thiết bị, nhất thiết phải giao cho công nhân và kỹ sư Việt Nam thực hiện. Tránh tình trạng nhiều dự án nhiệt điện than vừa qua nhà thầu Trung Quốc làm hết tất cả mọi việc, kể cả việc bảo vệ, quét rác… trong lúc đó hàng ngàn kỹ sư, công nhân Việt Nam rất thành thạo trong việc xây dựng và lắp đặt thiết bị của các nhà máy này thì không có việc làm.

4.9. Quan tâm đến vấn đề môi trường

Cần quan tâm đến ảnh hưởng và tác động xấu tới môi trường khi xây dựng các nguồn điện. Đối với NMTĐ phải giải quyết tốt vấn đề bảo vệ rừng, di dân tái định cư, điều tiết nước đảm bảo cuộc sống cho người dân ở vùng hạ du. Đối với các NMNĐ phải tạo sự thân thiện với môi trường, trang thiết bị hiện đại hiệu suất cao và xử lý triệt để các chất độc trong khí thải (bụi, CO2, SOx, NOx ), nước thải và hạn chế tối đa ô nhiềm vùng bãi thải xỉ, tốt nhất là có giải pháp sử dụng lại tối đa lượng tro, xỉ thải ra để sử dụng trong ngành vật liệu xây dựng…

4.10. Phát triển thị trường điện cạnh tranh và giá điện

Do quá trình lịch sử để lại nên từ trước đến nay chỉ có duy nhất ngành Điện độc quyền quản lý toàn bộ Hệ thống điện Việt Nam. Chính phủ đã có chủ trương xóa bỏ độc quyền và đã đưa ra lộ trình 3 cấp độ triển khai thị trường điện cạnh tranh từ năm 2005 đến sau năm 2022 là kéo dài hơn 17 năm, thời gian như vậy là quá lâu.

Theo xu hướng phát triển của khu vực và thế giới, cũng như sự đòi hỏi của nền kinh tế, và của nhân dân, vừa qua kỳ họp lần thứ III các đại biểu Quốc hội đều kiến nghị với Chính phủ cần sớm xóa bỏ sự độc quyền của ngành Điện, không nên kéo dài thêm nữa.

VEA kiến nghị với Chính phủ chỉ cần đưa ra hai cấp độ để tổ chức thị trường điện cạnh tranh:

- Cấp độ thứ nhất là thực hiện thị trường phát điện cạnh tranh và bán buôn.

- Cấp độ thứ hai là thực hiện thị trường điện bán lẻ, nên triển khai và hoàn thành vào năm 2017.

Muốn có một thị trường phát điện cạnh tranh, bán buôn và thị trường điện bán lẻ thì trước hết phải có một mô hình tổ chức phù hợp với thị trường đó; các đơn vị nằm trong mô hình tổ chức này hoạt động độc lập, và cạnh tranh bình đẳng với nhau dưới sự quản lý của nhà nước.

Để thực hiện thị trường phát điện cạnh tranh ở khâu bán buôn, VEA kiến nghị Chính phủ và Bộ Công Thương cần sắp xếp lại tổ chức một số lĩnh vực của ngành Điện hiện nay như sau:

- Đưa Tổng công ty Mua bán điện ra khỏi EVN về trực thuộc Bộ Công Thương, hoặc Bộ Tài Chính (nên nghiên cứu về việc thành lập 3 Tổng công ty mua bán điện ở ba miền: Bắc, Trung, Nam làm cho tính cạnh tranh trong khâu mua bán điện được tốt hơn).

- Đưa 3 GENCO vừa mới thành lập ra khỏi EVN để trở thành các Tổng công ty phát điện độc lập, trực thuộc Bộ Công Thương, từ đó số nhà máy điện thuộc EVN được giảm xuống (không nắm giữ một tỉ lệ cao và độc quyền về nguồn điện như hiện nay).

Như vậy sẽ làm cho tính cạnh tranh đối với các nhà máy điện khác khi thực hiện mua bán điện được minh bạch hơn.

- Đưa Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia (Ao) ra khỏi EVN về trực thuộc Bộ Công Thương, mà không phụ thuộc vào bất kỳ một doanh nghiệp nào quản lý, như vậy sẽ nâng cao được tính công bằng và khách quan trong điều độ hệ thống điện. Kinh phí hoạt động của Ao lấy từ Tổng công ty Mua bán điện.

- Đưa Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia ra khỏi EVN hạch toán độc lập (quản lý đường dây và trạm 500kV, 220kV) về trực thuộc Bộ Công Thương. Tổng công ty này làm dịch vụ truyền tải và kinh phí hoạt động lấy từ Tổng công ty Mua bán điện.

Với mô hình sắp xếp lại như trên thì ở cấp độ thị trường phát điện cạnh tranh và bán buôn EVN sẽ không còn độc quyền nữa. Đồng thời giảm được gánh nặng về đầu tư xây dựng nguồn và lưới điện, cũng như chia sẻ được nợ nần còn rất lớn của EVN.

Các nhà máy phát điện xây dựng giá thành và chào giá bán cạnh tranh tùy theo đặc thù của từng nhà máy với Tổng công ty Mua bán điện một cách hợp lý nhất.

Giá mua điện của Tổng công ty Mua bán điện được hạch toán, bao gồm một số chi phí, trong đó có chi phí cho dịch vụ truyền tải, chi phí cho dịch vụ điều độ Ao, và các chi phí khác. Giá bán điện của từng nhà máy phát điện chào và được Tổng công ty Mua bán điện chấp nhận, được giám sát bởi các bộ, ngành liên quan.

Như vậy tính khách quan, minh bạch trong khâu thực hiện điện bán buôn này sẽ tốt hơn.

Hiện nay cả nước ta có gần 300 doanh nghiệp đầu tư, quản lý các nhà máy điện, trong đó bao gồm các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty của nhà nước, các nhà đầu tư nước ngoài và nhiều doanh nghiệp tư nhân quản lý, các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ họ đang mong chờ có một thị trường phát điện cạnh tranh lành mạnh (thị trường điện bán buôn).

VEA kiến nghị quản lý nhà nước về giá điện từ nay cho đến khi có thị trường điện cạnh tranh hoàn hảo như sau:

- Giá bán điện phải có sự quản lý của Nhà nước, mức độ quản lý tùy thuộc vào cấp độ phát triển thị trường điện cạnh tranh.

- Thủ tướng Chính phủ phê duyệt giá bán lẻ bình quân và biểu giá điện khi lập và điều chỉnh giá điện cho toàn quốc theo đề xuất của Bộ Công Thương.

- Thủ tướng Chính phủ không quy định giá phát điện, giá bán buôn, các loại giá truyền tải, phân phối và giá dịch vụ hỗ trợ hệ thống điện. Các loại giá này sẽ được thương thảo bởi các đơn vị có liên quan đến tham gia thị trường, với sự quản lý của Bộ Công Thương.

- Bỏ các loại phí đối với giá điện, chỉ gồm các loại giá: giá phát điện, giá truyền tải, giá phân phối, giá dịch vụ phụ trợ hệ thống điện.

- Không dùng khái niệm bù chéo trong giá điện, mà chỉ nên quy định giá bán lẻ hợp lý cho từng đối tượng khách hàng trong biểu giá điện.

- Khi điều chỉnh giá điện cần tính đến các yếu tố mùa và công suất, sản lượng tăng thêm đối với nhà máy thủy điện, giảm tổn thất hệ thống điện, giảm giá thành…

4.11. Nhiệm vụ của EVN trong giai đoạn thực hiện thị trường phát điện cạnh tranh, thị trường bán buôn

EVN quản lý các nhà máy điện đa mục tiêu và có ý nghĩa chiến lược như nhà NMTĐ Hòa Bình, thủy điện Sơn La, thủy điện Lai Châu, thủy điện Ialy, thủy điện Pleikrong, thủy điện Sê San 3, thủy điện Sê San 4, thủy điện Trị An, thủy điện Tuyên Quang; và các NMĐHN Ninh Thuận I, Ninh Thuận II với tổng công suất tính đến năm 2020 của Quyết định Phê duyệt QHĐVII là trên 11.702 MW (chiếm một tỷ lệ tương đối trong hệ thống).

EVN quản lý 5 tổng công ty điện lực làm nhiệm vụ mua điện bán buôn và chỉ đạo các tổng công ty và 62 công ty thành viên thuộc 62 tỉnh thành thực hiện hạch toán kinh doanh điện bán lẻ.

EVN quản lý hệ thống đường dây và trạm 110kV, các đường dây và trạm phân phối đến hộ tiêu dùng.

EVN còn quản lý các lĩnh vực như: các công ty tư vấn, một số ban quản lý dự án và các lĩnh vực khác mà EVN đang nắm giữ.

Thực hiện được những đề xuất trên thì việc mở ra thị trường phát điện cạnh tranh, thị trường điện bán buôn thực sự mới có ý nghĩa. Sau một thời gian hoạt động rút ra các bài học kinh nghiệm để triển khai tiếp thị trường điện bán lẻ. Cả hai cấp độ này nên thực hiện trong một thời gian từ 4 - 5 năm đến năm 2017, (không nên kéo dài đến sau năm 2022 như QHĐVII đề ra). Có như vậy thị trường điện cạnh tranh mới trở thành hiện thực đáp ứng được sự đỏi hỏi phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân.

4.12. Bộ máy chỉ đạo thực hiện Quyết định Phê duyệt QHĐVII của Thủ tướng Chính phủ


'Chúng ta đã có bài học về xây dựng Hệ thống truyền tải điện siêu cao áp 500kV Bắc - Nam, đây là dự án đặc biệt khó khăn, tuyến đường dây 500kV dài 1.576km chạy dọc suốt chiều dài đất nước qua rừng núi, sông suối, đèo dốc, nếu thông thường thì phải xây dựng mất 7-8 năm. Nhưng với quyết tâm của Thủ tướng Võ Văn Kiệt giao cho Bộ Năng lượng và các bộ, ngành liên quan phối hợp với các địa phương chỉ thực hiện xây dựng và hoàn thành trong 2 năm (khởi công 1992 - kết thúc 1994). Đây là bài học kinh nghiệm của chính mình cần được noi theo.' Trong ảnh: Thủ tướng Võ Văn Kiệt kiểm tra việc xây dựng công trình 500 kV Bắc - Nam tại đèo Lò Xo (ảnh tư liệu do ông Vũ Ngọc Hải, nguyên Bộ trưởng Bộ Năng lượng cung cấp)

Ngày 26 tháng 12 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 2449/QĐ-TTg thành lập Ban chỉ đạo nhà nước về quy hoạch phát triển điện lực quốc gia, Trưởng Ban là Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, Phó Trưởng Ban là Bộ Trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng. Điều này thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ đối với việc thực hiện tốt nhất Đề án quy hoạch quan trọng này.

Hiệp hội Năng lượng Việt Nam kiến nghị các đồng chí lãnh đạo Ban Chỉ đạo Nhà nước giành tối đa thời gian cho công việc này, bởi cơ sở hạ tầng điện lực là một trong các yếu tố tác động trực tiếp đến sự phát triển nền kinh tế - xã hội của đất nước, đến đời sống của nhân dân - do đó Quyết định Phê duyệt QHĐVII của Thủ tướng Chính phủ không chỉ các cơ quan, các tổ chức có liên quan đến ngành Điện mà còn cả cộng đồng xã hội và mọi người dân quan tâm, luôn theo sát quá trình thực hiện, cũng như hy vọng vào thành quả đạt được.

Để cập nhật được đầy đủ các thông tin trong quá trình triển khai Quyết định Phê duyệt QHĐVII, cũng như các phản biện, đề xuất từ các nơi gửi về, tổ chức của Ban nên có bộ phận chuyên trách (bao gồm các nhà khoa học, các chuyên gia các chuyên ngành liên quan đến ngành điện nói riêng và ngành năng lượng nói chung), từ đó kịp thời xử lý ngay những rào cản, những ách tắc xảy ra.

Ban chỉ đạo cần thường xuyên tổ chức điều độ các dự án, để biết được các thuận lợi, cũng như khó khăn của từng dự án từ đó để có biện pháp khắc phục kịp thời. Hiện tại VEA được biết các dự án điện nằm trong QHĐVII đang triển khai rất chậm, trong đó có nhiều dự án chưa triển khai, khó khăn đầu tiên là vốn nhiều dự án đến nay chưa thu xếp được; vấn đề ý thức trách nhiệm của các chủ đầu tư cũng chưa tốt, không năng động sáng tạo, xoay sở để sớm triển khai dự án.

Qua rà soát tiến độ hàng tuần, hàng tháng dự án nào bị chậm không có lý do chính đáng thì có thể giảm bớt, hoặc chuyển cho các nhà đầu tư khác có đủ khả năng để thực hiện.

Chúng ta đã có bài học về xây dựng Hệ thống truyền tải điện siêu cao áp 500kV Bắc - Nam, đây là dự án đặc biệt khó khăn, tuyến đường dây 500kV dài 1.576km chạy dọc suốt chiều dài đất nước qua rừng núi, sông suối, đèo dốc, nếu thông thường thì phải xây dựng mất 7-8 năm. Nhưng với quyết tâm của Thủ tướng Võ Văn Kiệt giao cho Bộ Năng lượng và các bộ, ngành liên quan phối hợp với các địa phương chỉ thực hiện xây dựng và hoàn thành trong 2 năm (khởi công 1992 - kết thúc 1994).

Đây là bài học kinh nghiệm của chính mình cần được noi theo.

QHĐVII có quy mô hết sức đồ sộ, nguồn vốn hết sức lớn, công nghệ và kỹ thuật phức tạp lại cùng một lúc xây dựng nhiều dự án, gồm các nhà máy điện và hệ thống đường dây truyền tải đồng bộ; thời gian thực hiện đến năm 2020 chỉ còn hơn 8 năm, nếu không được tổ chức mạnh mẽ, quyết liệt và chỉ đạo kịp thời thì sẽ khó hoàn thành nhiệm vụ.

NangluongVietnam




TÒA SOẠN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Phòng 406-407-408, Tòa nhà Văn phòng, số 87 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.
Email: toasoan@nangluongvietnam.vn

Liên hệ Thư ký Tòa soạn: Mai Văn Thắng (Hotline: 0969998822)

Liên hệ Giám đốc Trung tâm Đối ngoại: Lê Mỹ (Hotline: 0949723223)

Liên hệ Trung tâm Quảng cáo: Nguyễn Tiến Sỹ (Hotline: 0969998811) - Phan Thanh Dũng (Hotline: 0942632014)

Trang TTĐT của Tạp chí Năng lượng Việt Nam hoạt động theo Giấy phép số: 66/GP-TTĐT, cấp ngày 30/3/2018
của Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử - Bộ Thông tin - Truyền thông.

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3